Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Malaysia tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, đạt trên 15 tỉ USD trong năm 2025, tăng 5% so với năm trước. Riêng xuất khẩu của Việt Nam sang Malaysia đạt 4,8 tỉ USD.
Tuy nhiên, song hành với cơ hội là áp lực chuyển đổi khi Malaysia ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn nhập khẩu theo hướng xanh và bền vững, cũng như các yêu cầu đối với chứng nhận Halal.
Sáng 23-4, tại TP.HCM, Trung tâm Xúc tiến thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC) phối hợp cùng Tổng lãnh sự quán Malaysia tại TP.HCM và Cục Xúc tiến thương mại Malaysia tại TP.HCM (MATRADE) tổ chức hội thảo “Đẩy mạnh sản xuất xanh và xuất khẩu bền vững cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập vào thị trường Malaysia”.
Tại đây, bà Zaimah Osman, Lãnh sự Thương mại, Cục Xúc tiến thương mại Malaysia tại TP.HCM (MATRADE), cho biết ngành công nghiệp Halal dự kiến đóng góp khoảng 8,1% GDP Malaysia, tương đương 35 tỉ USD.
“Việc đạt được chứng nhận Halal hiện nay chính là một bước đi tắt mang tính cấu trúc, đồng thời là công cụ giảm thiểu rủi ro thiết yếu giúp doanh nghiệp dễ dàng đáp ứng các yêu cầu toàn cầu về ESG và bộ tiêu chuẩn ISO”, bà nói.
Ông Firdauz Othman, Tổng lãnh sự Malaysia tại TP.HCM, cho biết quy mô thị trường Halal toàn cầu hiện đạt khoảng 2.300 tỉ USD và có thể tăng mạnh lên 20.000 tỉ USD vào năm 2028.
“Trong bức tranh đó, Malaysia đóng vai trò là một trong những trung tâm Halal quan trọng nhất, không chỉ về tiêu chuẩn mà còn là “cửa ngõ chiến lược” để doanh nghiệp Việt tiếp cận thị trường Hồi giáo toàn cầu”, ông nói.
Phát biểu, ông Lê Anh Hoàng, Phó giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC), cho rằng mục tiêu kim ngạch song phương đạt 25 tỉ USD vào năm 2030 được đánh giá là khả thi, song điều kiện tiên quyết là doanh nghiệp phải thích ứng nhanh với các yêu cầu mới.
Ở góc nhìn thực tiễn, ông Ngô Quang Hưng, đại diện Thương vụ Việt Nam tại Malaysia, chỉ ra rằng cơ hội cho hàng Việt vẫn rất lớn, đặc biệt ở nhóm nông – thủy sản. Malaysia hiện tự chủ 115% về thịt gia cầm, nhưng lại đang thiếu hụt nguồn cung rau củ khi tỉ lệ tự cung chỉ đạt mức 60%.
Đây là dư địa rõ ràng cho các sản phẩm như gạo, rau xanh, ớt tươi, dừa và cá tra chế biến của Việt Nam.
Tuy nhiên, ông Hưng nhấn mạnh để tận dụng cơ hội này, doanh nghiệp buộc phải đáp ứng đồng thời hai “lớp tiêu chuẩn” là Halal và ESG.
Malaysia đã bắt đầu áp dụng khung tiêu chuẩn ESG từ năm 2023 và sẽ chính thức siết chặt từ năm 2026 với cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), yêu cầu doanh nghiệp chịu trách nhiệm cho toàn bộ vòng đời sản phẩm, bao gồm cả xử lý chất thải.
“Đổi lại, sản phẩm đạt chứng chỉ ESG có thể được giảm 5-10% thuế quan, trong khi hàng hóa đạt chuẩn Halal được giảm đến 20% chi phí kiểm duyệt nhập khẩu. Đây được xem là động lực quan trọng để doanh nghiệp đầu tư vào chuyển đổi xanh”, ông Hưng nói.
Cập nhật trực tuyến tại hội thảo, ông Muhammad Naim bin Aziz, đại diện Jabatan Kemajuan Islam Malaysia (JAKIM), cho biết người tiêu dùng Hồi giáo, đặc biệt là thế hệ trẻ và cư dân đô thị, đang chuyển từ ưu tiên “Halal thuần túy” sang mô hình “Halal + đạo đức + bền vững”.
“Khảo sát của chúng tôi cho thấy thế hệ GenZ tại Malaysia sẽ sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các sản phẩm đạt chứng nhận Halal, đồng thời đáp ứng chuẩn ESG, mở ra cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng sâu hơn tại thị trường này”, ông Muhammad bổ sung.
Các yếu tố như bao bì thân thiện môi trường, nguồn nguyên liệu tự nhiên hay phúc lợi động vật ngày càng ảnh hưởng đến quyết định mua sắm.
Ông cũng lưu ý Malaysia đang áp dụng quy định nghiêm ngặt hơn đối với hàng hóa nhập khẩu có gắn nhãn Halal.
Theo đó, tất cả sản phẩm nhập khẩu vào thị trường Malaysia từ năm nay phải được chứng nhận bởi các tổ chức nước ngoài được JAKIM công nhận và bắt buộc ghi rõ tên tổ chức cấp chứng nhận trên bao bì.
Ngày 26-5, Ban tổ chức Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) phối hợp với báo Tài chính - Đầu tư đã tổ chức họp báo cung cấp thông tin về Hội nghị Năng lượng gió khu vực châu Á - Thái Bình Dương 2026 (APAC Wind Energy Summit 2026).
Với chủ đề “Điện gió kiến tạo thịnh vượng tại châu Á - Thái Bình Dương: Xây dựng nền kinh tế vận hành bằng điện thông qua mở rộng quy mô điện gió và chuỗi cung ứng”, hội nghị tập trung vào các chủ đề then chốt định hình tương lai ngành điện gió trong khu vực.
Ông Bùi Vĩnh Thắng - Giám đốc quốc gia tại Việt Nam của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) - cho hay Quy hoạch điện 8 điều chỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 26-38 GW điện gió trên bờ và khoảng 6 GW điện gió ngoài khơi.
Với mục tiêu này, nếu nhìn rộng ra các nước trong khu vực (ngoại trừ Trung Quốc và Ấn Độ), Việt Nam có thể coi là nước dẫn đầu, cả về điện gió trên bờ và ngoài khơi.
Theo ông Thắng, Việt Nam có tiềm năng điện gió ngoài khơi rất tốt, khoảng 600 GW. Phần lớn là điện gió móng cố định vì thềm lục địa khá nông, giúp chi phí đầu tư thấp hơn so với các nước phải dùng móng nổi như Hàn Quốc, Nhật Bản...
Đối với điện gió trên bờ, mục tiêu 26-38 GW là rất tham vọng, nếu có chính sách thông suốt và cơ chế thúc đẩy chuỗi cung ứng nội địa cũng như kết hợp với khối FDI. Nhu cầu điện của Việt Nam tăng trưởng hai con số, nên điện gió đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong cơ cấu năng lượng.
Theo tính toán, suất đầu tư cho một dự án điện gió ngoài khơi Việt Nam sẽ dao động từ khoảng 4 triệu đến 4,5 triệu USD/MW.
Tuy nhiên, ông Thắng cho rằng thị trường điện gió ngoài khơi hiện tại liên quan tới chuỗi cung ứng đang khá căng thẳng. Đó là giá tua bin và các chi phí cung ứng dịch vụ đều tăng lên.
"Việt Nam là một thị trường mới, các nhà đầu tư sẽ đánh giá rủi ro cao hơn so với một thị trường đã trưởng thành" - ông Thắng nêu vấn đề xây dựng chiến lược điện gió ngoài khơi, bao gồm cơ chế giá phải đưa vào nhiều mục đích như cung ứng điện, phát triển ngành công nghiệp, chiến lược năng lượng, khả năng chịu đựng của nền kinh tế, của xã hội.
Ông Alessandro Antonioli - Giám đốc quốc gia tại Việt Nam của CIP - cho rằng Việt Nam đang ở vị thế tốt để thúc đẩy mạnh mẽ các dự án như cơ chế mua bán điện trực tiếp. Tuy nhiên, các công cụ để tăng tốc các dự án không phải chỉ là những cải thiện nhỏ lẻ, mà cần mang lại sự rõ ràng thực sự cho nhà đầu tư về khung thời gian cấp phép, khung giá bán điện.
"Và quan trọng nhất là mẫu PPA (hợp đồng mua bán điện). Mẫu PPA hiện tại đang thiếu các yêu cầu cơ bản cho khả năng vay vốn quốc tế. Nhà đầu tư không thể rót thêm vốn nếu không biết điều kiện bán điện của mình là gì" - ông Alessandro Antonioli nói.
Ông Nguyễn Tuấn - Trưởng ban thương mại PTSC - cho hay đang tập trung vào dự án xuất khẩu điện gió ngoài khơi sang Singapore với dự án liên quốc gia. Về chuỗi cung ứng, PTSC đang mở rộng bãi chế tạo tại Vũng Tàu, đầu tư tàu chuyên dụng, thiết bị nâng hạ hạng nặng.
Thúc đẩy thành lập "Trung tâm công nghiệp dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng" tại miền Bắc và miền Nam. Trung tâm này sẽ không chỉ có năng lượng tái tạo mà còn có hydro xanh, amonia xanh.
Do đó, ông Tuấn mong muốn Việt Nam cần phải nhanh chóng có những dự án điện gió ngoài khơi, thúc đẩy chuỗi cung ứng nội địa gắn với cơ chế giá phù hợp, tối ưu hóa để làm giảm giá thành.
Ẩn sâu dưới lòng New York là một trong những kho vàng lớn nhất thế giới - nơi cất giữ hàng nghìn tấn vàng của nhiều quốc gia, nhưng phần lớn lại không thuộc về Mỹ. Điều đáng chú ý là những “chủ nhân” chính lại là các nền kinh tế hàng đầu châu Âu.
Thực tế, kho vàng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tại New York (Fed) chỉ đóng vai trò lưu ký. Trong khoảng 6.300 tấn vàng đang được bảo quản, tới 98% thuộc về các ngân hàng trung ương và chính phủ nước ngoài - biến nơi đây thành “ngân khố chung” của thế giới.
Dù danh sách chi tiết không được công bố, nhiều dữ liệu cho thấy châu Âu chiếm phần lớn. Đức là cái tên nổi bật, với khoảng 1.200 tấn vàng từng được lưu trữ tại Mỹ. Dù đã triển khai chương trình hồi hương từ năm 2013, Berlin vẫn giữ khoảng 1/3 dự trữ tại đây.
Italy - một trong những quốc gia nắm giữ vàng lớn nhất thế giới - cũng duy trì lượng vàng đáng kể ở nước ngoài, bao gồm Mỹ, nhằm đảm bảo khả năng giao dịch nhanh trên thị trường quốc tế.
Trong khi đó, Hà Lan và Bỉ từng gửi tới một nửa dự trữ vàng tại New York, nhưng gần đây đã chuyển dần về nước. Thụy Sĩ lựa chọn cách phân bổ linh hoạt giữa trong nước, Mỹ và Anh. Ngược lại, Pháp từ lâu ưu tiên giữ vàng trong nước, hạn chế phụ thuộc vào các kho ngoại quốc.
Nguồn gốc của xu hướng này bắt đầu sau Thế chiến thứ hai. Khi đó, Mỹ nổi lên như nền kinh tế ổn định nhất. Việc chuyển vàng sang New York khi đó không chỉ để cất giữ, mà còn là cách “trú ẩn” trong một hệ thống tài chính được xem là an toàn nhất.
Nhưng yếu tố an toàn chỉ là một phần. Quan trọng không kém là tính tiện lợi. Kho vàng tại New York hoạt động như một trung tâm giao dịch khi các quốc gia có thể mua bán vàng chỉ bằng cách chuyển quyền sở hữu trong cùng hệ thống kho, không cần vận chuyển vật chất.
Vai trò trung tâm tài chính toàn cầu của New York càng củng cố xu hướng này khi đồng USD trở thành trụ cột của hệ thống tiền tệ và có thể quy đổi trực tiếp sang vàng.
Dù vậy, xu hướng đang dần đảo chiều. Trong hơn một thập kỷ qua, nhiều quốc gia đã âm thầm đưa vàng về nước. Đức chuyển hàng trăm tấn về Frankfurt, Hà Lan cũng có động thái tương tự, còn Pháp gần như không phụ thuộc vào kho vàng Mỹ.
Động lực không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn đậm màu sắc địa chính trị. Khi thế giới chứng kiến các tài sản quốc gia có thể bị đóng băng trong xung đột, câu hỏi về “chủ quyền tài sản” trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bên cạnh đó, áp lực trong nước gia tăng khi cử tri và giới chính trị yêu cầu chính phủ kiểm soát trực tiếp các tài sản chiến lược.
Báo cáo ngày 7-4 của Đảng ủy UBND tỉnh Cà Mau chỉ rõ sự biến động của giá nhiên liệu đã trực tiếp đội chi phí lên mọi mặt của đời sống. Thống kê đến ngày 25-3, toàn tỉnh có tới 274 tàu cá phải giảm chuyến ra khơi và 84 tàu buộc phải neo bến (nằm bờ).
Không dừng lại ở nghề cá, chi phí vận hành máy bơm tưới cho lúa, muối, đến khâu vận chuyển vật tư, nông sản đều tăng mạnh. Mô hình sản xuất lúa - tôm đang chịu sức ép lớn nhất khi người dân phải gánh thêm chi phí nhiên liệu bên cạnh giá vật tư nông nghiệp vốn đã neo ở mức cao.
Dù đánh giá nguồn cung nhiên liệu hiện tại vẫn cơ bản đáp ứng đủ 30 ngày tiêu thụ trong điều kiện bình thường, Cà Mau vẫn chuẩn bị sẵn sàng các phương án dự phòng.
Đối với tình huống thiếu hụt cục bộ, Sở Công Thương sẽ lập tức yêu cầu các nhà phân phối san sẻ nguồn hàng. Lượng tồn kho trên toàn tỉnh phải được thống kê xong trong tối đa 12 giờ để nhận diện vùng thiếu hụt. Ngay sau đó, tỉnh sẽ kiến nghị Bộ Công Thương chỉ đạo các đầu mối rót hàng về Cà Mau, dứt khoát không phụ thuộc một nguồn, với mục tiêu cao nhất là cân bằng lại thị trường trong vòng 24 giờ đến 48 giờ.
Nếu xảy ra trường hợp biến động mạnh về giá, chi phí nhập khẩu và chiết khấu trong hệ thống phân phối giảm sâu dẫn đến nguy cơ hệ thống bán lẻ hoạt động cầm chừng hoặc ngừng bán (khi có trên 10% số cửa hàng bán lẻ có dấu hiệu này), Sở Công Thương sẽ chủ động phối hợp với các thương nhân phân phối triển khai phương án ứng phó. Cùng lúc, lực lượng Công an tỉnh sẽ tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng nhằm ổn định tâm lý thị trường.
Đối với tình huống khẩn cấp hoặc bất khả kháng, nguồn xăng dầu sẽ được phân bổ theo thứ tự ưu tiên nghiêm ngặt cho quốc phòng, an ninh, y tế, giao thông thiết yếu và các cơ sở sản xuất trọng điểm. Toàn bộ nguồn hàng tại các kho liên quan sẽ được huy động điều chuyển tối đa. Đồng thời tỉnh sẽ báo cáo Bộ Công Thương để đề nghị hỗ trợ từ nguồn dự trữ quốc gia.
Nhằm triển khai hiệu quả các phương án, Giám đốc Sở Công Thương được giao chủ trì, chỉ đạo lực lượng quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh xăng dầu, xử lý triệt để các hành vi găm hàng, bán nhỏ giọt hay ngừng bán không đúng quy định. Cơ quan này cũng có trách nhiệm thường xuyên theo dõi lượng tồn kho (nhập - xuất - bán) của các thương nhân phân phối để kịp thời phát hiện sớm các nguy cơ thiếu hụt.
Bên cạnh đó, Sở Tài chính được giao chủ trì tăng cường theo dõi sát diễn biến giá cả mặt hàng lúa gạo và các hàng hóa dịch vụ thiết yếu phục vụ trực tiếp nhu cầu người dân, từ đó kịp thời tham mưu các biện pháp bình ổn giá theo đúng thẩm quyền. Đơn vị này cũng sẽ phối hợp với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 15 tham mưu tháo gỡ khó khăn về tín dụng, ưu tiên nguồn vốn cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản và lĩnh vực logistics.