Nhận định được ông Larry Hu nêu tại hội nghị do Amazon Global Selling tổ chức tại TP HCM chiều 2/6. Ông dẫn chứng số lượng sản phẩm Việt Nam bán ra toàn cầu trên Amazon đã tăng 300% chỉ trong 5 năm.
Trong 12 tháng tính đến 31/7/2025, lượng sản phẩm của doanh nghiệp Việt tiêu thụ trên nền tảng tăng 35% so với cùng kỳ một năm trước. Amazon không tiết lộ cụ thể số nhà bán hàng Việt Nam nhưng cho biết ở mức “hàng nghìn”.
Riêng số nhà bán ghi nhận doanh thu hàng năm trên một triệu USD tăng 60%. Theo ông Larry Hu đánh giá đây là “bứt tốc ngoạn mục”. “Việt Nam đang nổi lên như một trong tâm xuất khẩu thương mại điện tử có sức cạnh tranh cao”, ông nói.
Theo Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương), quy mô thị trường thương mại điện tử Việt Nam khoảng 31 tỷ USD, với mảng xuyên biên giới chiếm 4,45 tỷ USD. Hơn 22% doanh số xuất khẩu trực tuyến của Việt Nam đến từ Mỹ.
Xuất khẩu online của Việt Nam phát triển nhờ năng lực sản xuất nội địa mạnh, vị thế chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu, xu hướng chuyển dịch lớn từ gia công sang xây dựng thương hiệu và sự đồng hành từ chính phủ, theo Amazon.
Doanh nghiệp cũng ngày càng nhìn thấy cơ hội. Khảo sát 300 doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME) lĩnh vực nội thất và thời trang của Access Partnership ghi nhận 93% đánh giá xuất khẩu online là yếu tố then chốt cho tăng trưởng trong tương lai, 96% nói kênh này góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.
Theo Amazon, hai ngành hàng đang giàu tiềm năng là nội thất gỗ và quà tặng cá nhân hóa. Access Partnership dự báo xuất khẩu trực tuyến mặt hàng này giai đoạn 2024-2029 tăng trưởng 20%, hơn gấp đôi mức 9% xuất khẩu chung của ngành.
Trong khi, quà tặng cá nhân hóa giàu tiềm năng nhờ lợi thế thiết kế, tùy biến và sản xuất linh hoạt. “Người tiêu dùng hiện đại chuộng sản phẩm ‘kể câu chuyện riêng’ như áo thun tặng vào Ngày của Cha, hộp quà cá nhân hóa dịp Valentine hay những tác phẩm nghệ thuật độc đáo làm quà cưới”, ông Larry Hu, nói.
Năm qua, các thị trường tiêu thụ hàng đầu của hàng Việt trên Amazon gồm UAE, Đức, Mỹ, Mexico, Nhật Bản Anh, Pháp, Australia, Italy. Ông Michael Kokalari, Giám đốc phòng Phân tích kinh tế vĩ mô và Nghiên cứu thị trường VinaCapital, đánh giá Mỹ là thị trường xuất khẩu trực tuyến nhiều triển vọng 1-2 năm tới.
“Tình hình thị trường Mỹ sẽ rất tốt trong vài năm tới. Vì vậy, nếu muốn xuất khẩu, tôi khuyến khích nên bán sang Mỹ”, ông nói. Chuyên gia lưu ý doanh nghiệp tập trung hai nhóm khách hàng chính, gồm nhóm 10% những người giàu nhất, với sức mua vẫn đang tăng và thế hệ “Baby Boomers”, tức sinh sau Thế chiến II.
“Baby Boomers” giờ đã thành người cao tuổi, có nhu cầu lớn về các sản phẩm hỗ trợ sinh hoạt tại nhà, phù hợp thế mạnh về nội thất của Việt Nam.
Ông Larry Hu khuyến nghị doanh nghiệp tư duy quốc tế ngay từ đầu, xây dựng thương hiệu bền vững và tận dụng công nghệ, logistics cùng các công cụ AI để mở rộng quy mô xuất khẩu trực tuyến.
Novaland (NVL) cho biết họ cần có sự chấp thuận của ít nhất 66% người sở hữu trái phiếu, để được thông qua việc miễn trừ các khoản thanh toán liên quan lô trái phiếu 300 triệu USD. Thời hạn lấy ý kiến các trái chủ về việc miễn trừ thanh toán được doanh nghiệp thực hiện đến ngày 4/6 (theo giờ London, Anh). Trong trường hợp chưa đạt tỷ lệ chấp thuận, quá trình lấy ý kiến có thể được gia hạn thêm tối đa 5 ngày làm việc.
Theo đề xuất của NVL, một phần nghĩa vụ nợ đối với lô trái phiếu quốc tế 300 triệu USD sẽ được xóa nếu đạt tỷ lệ trái chủ thông qua phương án tái cấu trúc. Doanh nghiệp khuyến nghị các trái chủ tham khảo ý kiến của chuyên gia về tài chính (gồm tác động về thuế), cũng như từ phía môi giới chứng khoán, quản lý ngân hàng, luật sư... trước khi quyết định.
Novaland phát hành lô trái phiếu quốc tế 300 triệu USD từ năm 2021. Hiện tại, lô trái phiếu này được niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Singapore (SGX). Ngày đến hạn của lô trái phiếu này vào năm 2027 với lãi suất 5,25% mỗi năm. Nguồn vốn thu về được NVL dùng để bổ sung cho hoạt động đầu tư và kinh doanh.
Trong phiên họp thường niên hồi cuối tháng 4, các cổ đông đã thông qua phương án tái cấu trúc, gồm gia hạn thanh toán lãi và kéo dài kỳ hạn thêm 1 năm với lô trái phiếu quốc tế này.
Còn hồi đầu tháng 4, Novaland cho biết BNP Paribas Financial Markets (Pháp) đã chuyển đổi 15 trái phiếu thành cổ phiếu của công ty. Với tổng giá trị gần 3,38 triệu USD, các trái chủ đã nhận được gần 2,48 triệu cổ phiếu NVL. Giá chuyển đổi là 34.000 đồng, cao hơn gấp đôi so với thị giá cổ phiếu này vào thời điểm đó.
Cuối năm 2025, 4 nhà đầu tư nước ngoài đã chuyển đổi tổng cộng 133 trái phiếu sang gần 20,8 triệu cổ phiếu NVL.
Trong buổi gặp gỡ báo chí giữa tháng 4, đại diện Novaland cho biết cấu trúc nợ phải trả của công ty đang dần thay đổi theo hướng giảm áp lực tài chính trong ngắn hạn. Doanh nghiệp này tự tin đã vượt qua thời kỳ "sống sót" để trở lại cuộc đua tăng trưởng trong ngành bất động sản. Thời gian tới, họ sẽ tập trung nguồn lực để thực hiện các cam kết với khách hàng, nhà đầu tư, trái chủ và cổ đông.
Chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu là một trong những phương án tái cấu trúc được đưa ra trong thời gian qua. Tuy nhiên, theo đại diện NVL, mức giá đề xuất lại cao hơn nhiều so với giá thị trường tại thời điểm đàm phán và chính điều này khiến phương án trở nên kém hấp dẫn với các trái chủ.
Năm nay, công ty đặt kế hoạch doanh thu đạt kỷ lục 22.715 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 1.852 tỷ, giảm 0,5% do tác động của lãi suất vay cao. Động lực chính được kỳ vọng là doanh nghiệp bàn giao hơn 2.600 sản phẩm, hơn 4.300 sổ hồng được cấp cho các dự án ở trung tâm TP HCM, và tiếp tục bán 2.100 căn ra thị trường.
Như vậy, theo quy định EVN sẽ phải rà soát, đánh giá lại các chi phí để báo cáo tới Bộ Công Thương trước ngày 25-7 tới.
Những nội dung phải báo cáo bao gồm: Sản lượng điện thương phẩm thực tế của quý trước và tổng sản lượng điện cộng dồn từ đầu năm cũng như ước sản lượng còn lại trong năm.
Xác định chi phí phát điện của quý trước liền kề, chi phí phát điện cộng dồn từ đầu năm (bao gồm cả chi phí mua điện từ các nhà máy cung cấp dịch vụ phụ trợ). Các chi phí khâu phát điện các tháng còn lại, các khoản chi phí khác chưa được tính vào giá bán lẻ điện bình quân.
Trên cơ sở đó, EVN sẽ được thực hiện điều chỉnh/giữ nguyên giá theo thẩm quyền. Cụ thể, nếu giá bán lẻ điện bình quân tính toán giảm dưới 1% hoặc tăng dưới 2%, EVN báo cáo Bộ Công Thương việc không điều chỉnh giá, lập hồ sơ gửi Bộ Công Thương để kiểm tra, giám sát.
Trường hợp giá bán lẻ điện bình quân được tính toán giảm từ 1% trở lên hoặc cần điều chỉnh tăng từ 2-5% so với giá hiện hành, EVN lập hồ sơ phương án giá báo cáo Bộ Công Thương kiểm tra, rà soát và cho ý kiến. Bộ sẽ trả lời trong 15 ngày và EVN thực hiện điều chỉnh giá sau 5 ngày theo đúng quy định giá điện có thể điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần.
Giá bán lẻ điện bình quân đã được điều chỉnh lần gần đây nhất là ngày 10-5-2025, với mức tăng 4,8%, lên 2.204,0655 đồng/kWh (chưa gồm VAT).
Trong khi đó, báo cáo mới đây nhất của EVN cho hay năm 2025 tình hình tài chính của tập đoàn này khởi sắc khi thoát lỗ sang lãi.
Báo cáo gần đây nhất của EVN cho hay trong 6 tháng đầu năm, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 171,54 tỉ kWh, tăng 9,85% so với cùng kỳ 2025.
Đây là mức tăng khá cao trong bối cảnh nhu cầu điện tăng mạnh để phục vụ sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của người dân do thời tiết nắng nóng.
Hệ thống điện vì thế liên tục lập kỷ lục với sản lượng điện ngày cao nhất đạt 1.215,4 triệu kWh (ngày 25-6), công suất cực đại đạt 57.537 MW (ngày 24-6). Hầu hết, các nguồn điện đều được huy động tối đa, trong đó có nguồn giá cao. Cụ thể, tổ máy chạy dầu Nhiệt điện Ô Môn, một số tổ máy tua bin khí đã chuyển nhiên liệu khí thiên nhiên sang DO để tăng công suất khả dụng hệ thống.
Trong cơ cấu nguồn, điện than chiếm tỉ trọng tới gần 55%, điện khí chiếm 8%, năng lượng tái tạo chiếm gần 13%, trong khi nguồn điện giá rẻ là thủy điện chỉ chiếm 21%. Với cơ cấu như vậy, chi phí giá thành sản xuất điện đang có yếu tố bất lợi hơn so với năm 2025 khi phải huy động những nguồn điện giá cao như than, khí và dầu.
Trả lời Tuổi Trẻ trước đó, ông Nguyễn Đình Phước - Phó tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) - cho hay báo cáo tài chính riêng công ty mẹ - EVN được kiểm toán, lợi nhuận sau thuế công ty mẹ - EVN năm 2025 là 39.762 tỉ đồng, góp phần giảm lỗ lũy kế còn 5.611 tỉ đồng.
Theo báo cáo tài chính hợp nhất được kiểm toán, lợi nhuận sau thuế toàn tập đoàn là 51.881,9 tỉ đồng, không còn lỗ lũy kế hợp nhất đến hết năm 2025. Tuy nhiên, khoản chênh lệch tỉ giá chưa được ghi nhận vào chi phí sản xuất, ước tính còn khoảng 17.500 tỉ đồng. Trường hợp không thực hiện phân bổ tỉ giá trong năm 2025, giá điện đã có thể có cơ hội giảm nhờ giá thành giảm mạnh.
Tuy nhiên, sức ép tăng giá đang hiện hữu. Mức giá mua điện của EVN trong ba tháng đầu năm liên tục tăng, ghi nhận mức bình quân là 1.907,65 đồng/kWh, gấp đôi so với thời điểm tháng 11-2025 chỉ với 954,89 đồng/kWh. Nếu cộng thêm khoản chênh lệch tỉ giá, đây là áp lực không nhỏ cho tập đoàn này trong việc giữ ổn định giá điện.
Ông Nguyễn Đình Phước cho hay từ đầu năm 2026 tới nay, đã có những diễn biến khó lường, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của EVN. Điều này khiến chi phí mua điện từ các nhà máy điện của EVN tăng, gây áp lực lớn lên cân đối tài chính.
Theo báo cáo Bộ Tài chính, đến 25/6, các bộ ngành và địa phương giải ngân vốn đầu tư công khoảng 299.501 tỷ đồng, tăng gần 3.500 tỷ so với cuối tháng 5. Số này chưa gồm 5% vốn ngân sách địa phương để dành thực hiện dự án đường sắt tốc độ cao Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
Cơ quan quản lý vốn công cho biết, tiến độ giải ngân đã được đẩy nhanh vào cuối tháng 6. Riêng từ ngày 19 đến 25/6, số vốn giải ngân đạt 35.276 tỷ đồng, cao gấp 1,8 lần mức của tuần trước đó.
Bộ Tài chính thống kê 7 bộ, cơ quan và 20 địa phương có tỷ lệ giải ngân từ mức bình quân chung của cả nước trở lên. Trong đó, một số bộ và địa phương có số tiền giải ngân lớn (trên 15.000 tỷ đồng) như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, TP Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng.
Bên cạnh đó, 26 bộ, cơ quan và 14 địa phương giải ngân dưới tỷ lệ trung bình cả nước. Trong đó, 5 cơ quan giải ngân dưới 1%, gồm Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Ngân hàng Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước và Văn phòng Chính phủ.
Năm nay, tổng kế hoạch vốn đầu tư công cả nước là hơn 1,04 triệu tỷ đồng, gồm khoảng 13.600 tỷ từ cân đối ngân sách địa phương. Trong đó, kế hoạch vốn Thủ tướng giao là hơn 1,026 triệu tỷ đồng.
Các bộ, ngành, địa phương đã phân bổ chi tiết khoảng 1 triệu tỷ đồng, tương đương 96,8% kế hoạch Thủ tướng giao. Còn khoảng 32.945 tỷ đồng, tương đương 3,2% kế hoạch, vẫn chưa được các đơn vị phân bổ chi tiết. Theo Bộ Tài chính, phần lớn số vốn này vừa được bổ sung trong tháng 6 hoặc các cơ quan điều chỉnh để dành cho dự án khác.
Đầu tư công được Chính phủ xác định giữ vai trò dẫn dắt, kích hoạt dòng vốn tư nhân và FDI, thúc đẩy sản xuất - kinh doanh. Nguồn tiền này giúp nâng tổng vốn đầu tư toàn xã hội, hỗ trợ tăng trưởng nhanh và bền vững. Theo tính toán, giai đoạn 2021-2025, vốn đầu tư công giải ngân tăng 1%, GDP có thể thêm 0,058 điểm phần trăm.
Tại hội nghị vào tháng 4, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Chính phủ xác định đầu tư công là động lực quan trọng để đạt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, phát triển hạ tầng đồng bộ và mở ra không gian phát triển mới. Do đó, đầu tư công phải được đẩy nhanh tiến độ giải ngân, đi cùng với bảo đảm chất lượng công trình, hiệu quả sử dụng vốn.
Thủ tướng giao Bộ Tài chính nghiên cứu xây dựng phương án chấm điểm (KPI) việc thực hiện nhiệm vụ giải ngân vốn đầu tư công. Các bộ ngành, địa phương, nhất là người đứng đầu phải xác định giải ngân vốn đầu tư công là "nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu".