Kate Loweth hơn 20 năm trước vay tiền từ chương trình hỗ trợ sinh viên của chính phủ Mỹ để theo đuổi tấm bằng cao học. Khoản nợ ấy đã đeo bám Loweth suốt thời gian qua, không chỉ ảnh hưởng đến chi tiêu hàng tháng của gia đình, mà còn tác động trực tiếp đến lựa chọn đại học của các con.
Giờ đây, Loweth, mẹ của ba đứa con tuổi teen, vẫn còn nợ hàng chục nghìn USD, trong khi con gái lớn chuẩn bị vào đại học. Loweth rất muốn có thể lo cho các con học hết đại học như cô từng được bố mẹ hỗ trợ, nhưng điều đó là bất khả thi ở Thung lũng Silicon ở California, một trong những khu vực đắt đỏ nhất nước Mỹ.
Loweth nghĩ rằng dù không thể cho con cái một khởi đầu tài chính giống những gì mình được hưởng từ bố mẹ, cô hy vọng có thể cho chúng một hình mẫu tham chiếu và đưa ra những lựa chọn sáng suốt trong tương lai.
Hai con lớn của Loweth đã chọn học lớp 11 và 12 tại cao đẳng cộng đồng địa phương thông qua chương trình tín chỉ kép. Với chương trình này, sau khi tốt nghiệp, các em sẽ có ngay bằng cao đẳng, giúp gia đình tiết kiệm được hai năm học đại học. Ngoài ra, các con của cô cũng đi làm thêm, tự để dành tiền học và chi trả một phần chi phí cá nhân.
Trong nhiều năm, các gia đình ở Mỹ như nhà Loweth luôn đau đáu về học phí đại học, nhiều ông bố bà mẹ buộc phải vay mượn để con cái có cơ hội đến giảng đường.
Chương trình vay liên bang Parent Plus cho phép phụ huynh vay tiền từ ngân sách chính phủ để trang trải hầu hết chi phí học tập của con, từ học phí đến ăn ở. Theo dữ liệu từ danh mục Hỗ trợ Liên bang cho Sinh viên của Bộ Giáo dục Mỹ, tính đến hết quý đầu năm tài khóa hiện nay, kết thúc ngày 31/12/2025, tổng dư nợ Parent Plus đã lên tới 114,9 tỷ USD.
Trong 10 năm qua, dư nợ của chương trình này tăng thêm 43,8 tỷ USD. Điều đáng chú ý là số người vay không tăng tương ứng. Năm 2016, có khoảng 3,4 triệu phụ huynh nhận khoản vay này. Hiện con số này là 3,6 triệu người, tăng khoảng 6%. Trong khi đó, tổng số tiền giải ngân lại tăng hơn 61%, cho thấy mỗi gia đình đang phải vay nhiều hơn đáng kể để bù vào chi phí học đại học ngày càng tăng.
Học phí tại nhiều trường ở Mỹ hiện neo ở mức rất cao. Hồi tháng 3, Đại học George Washington thông báo học phí năm học 2026-2027 sẽ tăng lên 72.000 USD. Với sinh viên năm nhất, chi phí cơ bản cho nhà ở và ăn uống là hơn 18.000 USD. Như vậy, tổng chi phí cho một năm học tại một trường đại học top đầu tại Mỹ có thể tiến sát mốc 100.000 USD.
Trên thực tế, không phải gia đình nào cũng trả toàn bộ mức học phí niêm yết. Nhiều sinh viên nhận được học bổng, trợ cấp hoặc hỗ trợ từ các chương trình vừa học vừa làm. Phần thiếu hụt còn lại thường được bù bằng các khoản vay do sinh viên, bố mẹ, thậm chí ông bà đứng tên trên hồ sơ.
Khảo sát năm 2025 của Sallie Mae, ngân hàng chuyên cung cấp các khoản vay tư nhân cho sinh viên, cho thấy bố mẹ tại Mỹ đang dùng tiền lương, tiền tiết kiệm và cả tiền vay nợ để gánh khoảng một nửa chi phí đại học cho con cái.
Thực trạng càng thêm khó khăn khi mức trần vay mới qua chương trình Parent Plus chỉ cho phép phụ huynh vay 20.000 USD mỗi năm và tối đa 65.000 USD cho toàn bộ quá trình học.
Ngoài ra, Đạo luật To Đẹp (OBBBA), được Tổng thống Donald Trump ký ban hành vào mùa hè năm ngoái, cũng loại bỏ một số lựa chọn trả nợ linh động theo thu nhập đối với các khoản vay mới trong khuôn khổ Parent Plus, đồng nghĩa nhiều gia đình sẽ phải chịu mức thanh toán hàng tháng cao hơn.
Việc chương trình Parent Plus siết trần vay diễn ra trong bối cảnh ngày càng nhiều người Mỹ hoài nghi về giá trị đánh đổi của tấm bằng đại học 4 năm. Học phí tăng, nợ sinh viên kéo dài và cơ hội việc làm mơ hồ khiến nhiều gia đình bắt đầu xem việc giúp con mua nhà là khoản đầu tư thiết thực hơn, thay vì ưu tiên dồn tiền cho học phí.
Theo báo cáo của Northwestern Mutual, 74% phụ huynh có con sống cùng nhà cho biết họ sẽ cân nhắc hoặc đã bắt đầu lên kế hoạch tài chính để hỗ trợ con mua nhà riêng. Trong số đó, 29% nói rằng giúp con sở hữu nhà quan trọng hơn trả học phí đại học.
“Khoản nợ cao học 20 năm trước giờ đây là bài học xương máu cho gia đình, buộc cả nhà phải nói chuyện thẳng thắn hơn về tiền bạc và cân nhắc kỹ các lựa chọn”, Loweth cho biết.
"Chỉ thị của Lãnh tụ tối cao Iran Mojtaba Khamenei và sự đồng thuận trong giới cầm quyền là kho uranium làm giàu không được phép rời khỏi đất nước", theo Reuters ngày 21.5 dẫn một nguồn thạo. Theo đó, giới chức cấp cao Iran lo ngại việc đưa vật liệu hạt nhân ra nước ngoài có thể khiến nước này dễ bị tổn thương hơn trước các cuộc tấn công trong tương lai từ Mỹ và Israel.
Israel, Mỹ và các nước phương Tây thường xuyên cáo buộc Iran theo đuổi vũ khí hạt nhân, đặc biệt sau khi Tehran làm giàu uranium lên mức 60%, cao hơn nhiều so với nhu cầu dân sự và gần hơn với mức 90% cần thiết để chế tạo vũ khí hạt nhân. Iran bác bỏ cáo buộc này.
Iran cho hay một phần uranium làm giàu cao của nước này cần được giữ lại để phục vụ mục đích y tế và vận hành lò phản ứng nghiên cứu ở Tehran, vốn sử dụng một lượng uranium tương đối nhỏ được làm giàu ở mức khoảng 20%.
Theo Reuters, chỉ thị mới nếu được xác nhận có thể khiến tiến trình đàm phán nhằm chấm dứt cuộc xung đột giữa Mỹ - Israel với Iran thêm phức tạp. Hãng thông tấn Fars hôm 19.5 đưa tin Mỹ đã đưa ra đề xuất gồm 5 điểm, trong đó yêu cầu Iran chỉ duy trì một cơ sở hạt nhân duy nhất và chuyển toàn bộ kho uranium làm giàu cấp độ cao sang Mỹ.
Trước đó, các quan chức Israel nói rằng Tổng thống Mỹ Donald Trump đã cam kết với Tel Aviv rằng bất kỳ thỏa thuận hòa bình nào cũng phải bao gồm điều khoản đưa kho uranium làm giàu cao của Iran ra khỏi nước này. Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu gần đây tuyên bố ông sẽ không coi xung đột kết thúc nếu uranium làm giàu chưa được loại bỏ khỏi Iran, cũng như việc Tehran chưa chấm dứt hỗ trợ các lực lượng ủy nhiệm và năng lực tên lửa đạn đạo của nước này chưa bị xóa bỏ.
Trước xung đột bùng phát hồi tháng 2, Iran từng phát tín hiệu sẵn sàng xuất khẩu một nửa kho uranium làm giàu ở mức 60%. Tuy nhiên, lập trường này đã thay đổi sau các lời đe dọa tấn công liên tiếp từ ông Trump, theo Reuters.
Ngoài ra, giới chức Tehran đang nghi ngờ sâu sắc rằng việc tạm ngừng giao tranh có thể là một "chiêu đánh lừa chiến thuật" của Mỹ nhằm tạo cảm giác an toàn trước khi nối lại các đợt không kích. Ngày 20.5, nhà đàm phán hòa bình hàng đầu của Iran - Chủ tịch Quốc hội Mohammad Baqer Qalibaf cảnh báo các động thái công khai và ngầm từ phía đối phương cho thấy Mỹ đang chuẩn bị cho các cuộc tấn công mới.
Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) ước tính Iran có 440,9 kg uranium làm giàu ở mức 60% khi Israel và Mỹ tấn công các cơ sở hạt nhân của nước này vào tháng 6.2025. Hiện chưa rõ còn bao nhiêu trong số đó. Hồi tháng 3, Giám đốc IAEA Rafael Grossi cho biết phần lớn số uranium còn lại được cho là cất giữ trong hệ thống đường hầm tại cơ sở hạt nhân Isfahan, trong khi một phần khác nằm tại khu phức hợp Natanz.
Hãng Reuters ngày 7.5 đưa tin Đài Loan vừa tiến hành vụ phóng thử ngư lôi đầu tiên từ tàu ngầm tự sản xuất đầu tiên của hòn đảo, một cột mốc quan trọng trong dự án nhằm tăng cường khả năng răn đe và bảo vệ các tuyến đường biển quan trọng trong trường hợp cần thiết.
Chương trình tàu ngầm của Đài Loan đã tận dụng chuyên môn và công nghệ từ nhiều bên, bao gồm cả Mỹ và Anh, được xem là một bước đột phá đối với Đài Loan.
Tập đoàn CSBC của Đài Loan, đơn vị dẫn đầu việc đóng dự kiến tổng cộng 8 tàu ngầm, cho biết trong một thông cáo ngày 7.5 rằng chiếc tàu đầu tiên mang tên Narwhal vừa thực hiện cuộc thử nghiệm ngư lôi đầu tiên một ngày trước đó.
Cuộc thử nghiệm đã xác minh khả năng hoạt động của hệ thống chiến đấu về mặt phát hiện và theo dõi, điều khiển hỏa lực, phóng và dẫn hướng ngư lôi, theo thông cáo.
Hồi tháng 1, tàu ngầm Narwhal đã thực hiện cuộc thử nghiệm dưới nước đầu tiên trên biển.
Đài Loan bày tỏ hy vọng triển khai ít nhất hai tàu ngầm tự sản xuất vào năm 2027 và có thể trang bị tên lửa cho các mẫu sau này.
Tàu ngầm đầu tiên, với giá 49,36 tỉ Đài tệ (1,57 tỉ USD), sẽ sử dụng hệ thống chiến đấu của Lockheed Martin và mang theo ngư lôi hạng nặng Mark 48 do Mỹ sản xuất. Thông cáo của CSBC không nói rõ loại ngư lôi nào đã được thử nghiệm.
Tàu ngầm Narwhal vốn dự kiến được bàn giao cho lực lượng phòng vệ biển Đài Loan vào năm 2024, bên cạnh hai tàu ngầm hiện có được mua từ Hà Lan vào thập niên 1980, nhưng chương trình đã bị trì hoãn.
Phát biểu tại sự kiện nhân Ngày Độc lập do phái đoàn Israel tại Liên Hiệp Quốc tổ chức ở New York ngày 11.5, ông Waltz nói: "Chúng tôi đã thấy UAE sử dụng hệ thống phòng không Vòm sắt do Israel cung cấp". Đây là lần đầu tiên một quan chức Mỹ công khai xác nhận việc hệ thống này được triển khai và sử dụng tại UAE, theo tờ Israel Hayom.
Ngày 12.5, Đại sứ Mỹ tại Israel Mike Huckabee cũng xác nhận thông tin trên. "Israel vừa gửi cho UAE các hệ thống phòng không Vòm sắt và nhân sự để giúp vận hành chúng. Tại sao vậy? Bởi vì UAE và Israel có mối quan hệ đặc biệt dựa trên Hiệp định Abraham", ông Huckabee phát biểu.
Trước đó, trang tin Axios hồi tháng 4 đưa tin Israel đã cung cấp hệ thống Vòm sắt và binh sĩ vận hành cho UAE. Đây là lần đầu tiên Vòm sắt được triển khai tới một quốc gia ngoài Israel và Mỹ.
Từ khi xung đột giữa Mỹ - Israel và Iran bùng phát ngày 28.2, Israel và UAE được cho là đã phối hợp chặt chẽ về quân sự và chính trị. Theo The Times of Israel, Israel triển khai hệ thống Vòm sắt tới UAE vào giai đoạn đầu cuộc chiến, đồng thời cử hàng chục binh sĩ hỗ trợ vận hành.
Theo Bộ Quốc phòng UAE, Iran đã phóng khoảng 550 tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình và hơn 2.200 máy bay không người lái nhằm vào UAE trong suốt cuộc giao tranh, khiến nước này trở thành một trong những mục tiêu bị tấn công dữ dội nhất trong khu vực.
Dù phần lớn mục tiêu bay bị đánh chặn, một số tên lửa và UAV vẫn đánh trúng các vị trí quân sự và dân sự, buộc UAE tìm kiếm thêm hỗ trợ từ các đồng minh. Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu được cho là đã ra lệnh triển khai Vòm sắt sau cuộc điện đàm với Tổng thống UAE Mohamed bin Zayed Al Nahyan. Hệ thống này được cho là đã đánh chặn hàng chục tên lửa Iran, theo CNN.
Phía UAE và Israel chưa bình luận về tuyên bố của giới chức Mỹ.
Israel và UAE bình thường hóa quan hệ theo Hiệp định Abraham năm 2020, trong bối cảnh hai bên cùng quan ngại về mối đe dọa từ Iran. Đại sứ Mỹ Waltz cho biết các nỗ lực mở rộng thỏa thuận vẫn đang tiếp diễn và quan hệ giữa Israel với các nước láng giềng tiếp tục được củng cố.