Chuối là loại trái cây giàu dinh dưỡng, quen thuộc trong chế độ ăn hằng ngày nhờ vị ngọt tự nhiên, dễ ăn và tiện lợi. Tuy nhiên, với người kiểm soát cân nặng hoặc lượng đường, hàm lượng calo và carbohydrate trong chuối là mối quan tâm phổ biến. Hiểu rõ thành phần dinh dưỡng giúp bạn sử dụng loại trái cây này hợp lý hơn.
Lượng calo và carbohydrate trong chuối
Chuối cung cấp năng lượng chủ yếu từ carbohydrate, chiếm khoảng 93% tổng lượng calo. Trung bình, một quả chuối cỡ vừa chỉ chứa khoảng 100-105 calo, mức không quá cao so với nhiều thực phẩm khác.
Hàm lượng calo và carbohydrate thay đổi tùy theo kích thước quả. Dưới đây là bảng ước tính theo các khẩu phần phổ biến.
Ngoài ra, mỗi quả chuối còn chứa khoảng 2-4 g chất xơ, tùy thuộc vào kích thước của nó. Carbohydrate thuần là lượng carb cơ thể thực sự hấp thu, được tính bằng cách lấy tổng carbohydrate trừ đi phần chất xơ không tiêu hóa.
Nhìn chung có thể ước tính nhanh, một quả chuối trung bình cung cấp khoảng 100 calo và gần 27 g carbohydrate.
Ảnh hưởng của độ chín đến carbohydrate
Carbohydrate là thành phần dinh dưỡng chính trong chuối, nhưng tỷ lệ và dạng của chúng thay đổi rõ rệt theo độ chín.
Chuối xanh chứa nhiều tinh bột, trong đó có một phần là tinh bột kháng. Khi quả chín dần, phần tinh bột này được chuyển hóa thành đường đơn, khiến chuối vàng ngọt hơn và đồng thời chứa ít tinh bột kháng hơn.
Tinh bột kháng là loại carbohydrate không được tiêu hóa ở ruột non mà đi thẳng xuống ruột già, hoạt động tương tự chất xơ. Tại đây, nó nuôi dưỡng lợi khuẩn đường ruột. Khi vi khuẩn lên men tinh bột kháng, chúng tạo ra khí và các axit béo chuỗi ngắn (SCFA) – những hợp chất quan trọng với sức khỏe tiêu hóa.
Phần lớn các SCFA này sau đó được hấp thụ qua niêm mạc ruột và được cơ thể sử dụng như một nguồn năng lượng. Vì vậy, dù tinh bột kháng không cung cấp nhiều calo ngay trong quá trình tiêu hóa như tinh bột thông thường, nó vẫn có thể gián tiếp tạo ra năng lượng. Do đó, xét tổng thể, chuối xanh và chuối chín không khác biệt đáng kể về lượng calo cung cấp.
Giá trị dinh dưỡng khác của chuối
Ăn chuối còn cung cấp nhiều vi chất có lợi. Một quả chuối cỡ trung bình chứa khoảng 3 g chất xơ, giúp hỗ trợ tiêu hóa và tạo cảm giác no lâu hơn.
Chuối cũng giàu vitamin B6, đáp ứng khoảng 25% nhu cầu hằng ngày, đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa và chức năng thần kinh. Loại quả này còn cung cấp vitamin C, mangan, kali, folate và riboflavin.
Hàm lượng kali trong chuối hỗ trợ điều hòa huyết áp, tốt cho tim mạch, là lựa chọn trong chế độ ăn lành mạnh.
Thạc sĩ - dược sĩ Đoàn Thành Luân, Trường đại học Khoa học Sức khỏe, Đại học Quốc gia TP.HCM, cho biết gan được xem là "nhà máy sinh học" của cơ thể, đảm nhiệm hàng loạt chức năng quan trọng như chuyển hóa các chất dinh dưỡng, thải độc, tổng hợp protein, dự trữ năng lượng và hỗ trợ hoạt động của hệ tiêu hóa, tuần hoàn cùng nhiều cơ quan khác. Vì vậy bất kỳ tổn thương hay suy giảm chức năng nào ở gan cũng có thể tác động đáng kể đến sức khỏe tổng thể.
Bên cạnh việc duy trì lối sống lành mạnh, chăm sóc và "bảo trì" lá gan thường xuyên thông qua chế độ dinh dưỡng hợp lý là điều vô cùng cần thiết. Đôi khi, bí quyết để hỗ trợ lá gan khỏe mạnh lại nằm ở những thực phẩm quen thuộc như củ cải.
Củ cải là thực phẩm quen thuộc được sử dụng rộng rãi ở khắp nơi. Theo y học cổ truyền, phần củ có vị ngọt, hơi cay đắng, tính bình, có tác dụng kiện tỳ, tiêu thực, long đờm, giải độc.
Theo y học hiện đại, củ cải là nguồn cung cấp dồi dào chất xơ, vitamin, các hoạt chất chống oxy hóa giúp ổn định huyết áp và bảo vệ tim mạch hiệu quả. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các hợp chất chứa lưu huỳnh như glucosinolate, isothiocyanate cùng các chất chống oxy hóa như anthocyanin, flavonoid và phenolic có trong củ cải đóng vai trò chính trong quá trình thải độc và bảo vệ gan.
Đặc biệt, khi cắt củ cải, enzyme myrosinase sẽ được giải phóng, giúp chuyển các hợp chất glucosinolate thành isothiocyanate - hoạt chất được cho là có lợi cho gan. Các chất này kích thích hệ thống enzyme giải độc của gan hoạt động hiệu quả hơn, từ đó thúc đẩy quá trình xử lý và đào thải độc tố, góp phần bảo vệ gan trước tác động của các chất gây ung thư và ô nhiễm môi trường.
Ngoài ra, củ cải còn chứa nhiều chất chống oxy hóa như anthocyanin, flavonoid và các hợp chất phenolic. Những hoạt chất này giúp hạn chế stress oxy hóa, giảm tích tụ mỡ trong gan và bảo vệ tế bào gan khỏi tổn thương, góp phần duy trì chức năng gan khỏe mạnh.
Theo thạc sĩ - dược sĩ Đoàn Thành Luân, mặc dù enzyme myrosinase có vai trò quan trọng trong chuyển hóa các chất có lợi, tuy nhiên nhược điểm là chúng rất dễ bị phân hủy trong quá trình chế biến. Vì vậy khi chế biến củ cải cần lưu ý tránh nấu củ cải ở nhiệt độ quá cao trong thời gian dài. Ngoài ra, enzyme myrosinase tập trung chủ yếu ở lớp vỏ ngoài củ cải, vì vậy khi chế biến không nên gọt quá sâu để bảo toàn hoạt tính của enzym.
"Thay vì tìm kiếm những phương pháp phức tạp, việc duy trì một chế độ ăn uống lành mạnh và bổ sung củ cải đúng cách chính là giải pháp đơn giản, ít tốn kém để hỗ trợ gan làm việc hiệu quả và duy trì sức khỏe ổn định lâu dài", dược sĩ Thành Luân chia sẻ.
Ngày 2/4, các bác sĩ Khoa Sơ sinh, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội, cho biết cặp song sinh hồi phục thần kỳ, ngày xuất viện mỗi bé nặng 3 kg, sức khỏe ổn định.
Sản phụ nhập viện ở tuần thai 27 trong tình trạng cổ tử cung tụt, hở hình chữ Y, dấu hiệu đe dọa sinh non cực độ. Sau 13 ngày giữ thai, sản phụ chuyển dạ. Bé gái 950g và bé trai 900g, sức khỏe yếu, da mỏng như giấy và các cơ quan nội tạng đều chưa hoàn thiện.
Hai bé được chuyển thẳng lên Khoa Sơ sinh. Theo bác sĩ, phổi của hai bé chưa đủ trưởng thành để tự lấy oxy từ khí trời, phải bơm thuốc hỗ trợ nở phổi và thở máy liên tục. Bé gái mắc bệnh màng trong độ IV (mức độ nặng nhất) kèm rối loạn đông máu nặng phải truyền huyết tương tươi kèm thiếu máu và nhiễm trùng sơ sinh. Bé trai bị bệnh màng trong độ III và nhiễm trùng sớm. Cả hai không nuôi ăn bằng đường miệng mà phải duy trì sự sống qua từng giọt dịch truyền tĩnh mạch.
Sau hai tháng, hai bé tiến triển tích cực, được ghép mẹ. Bé gái nặng 1,8 kg; bé trai là 1,75 kg. Hiện, cả hai bé đều đã đạt mốc 3kg, hồng hào và khỏe mạnh.
Sinh non là trẻ chào đời trước 37 tuần. Khi trẻ sinh ra từ 28 đến trước 32 tuần được tính là mốc sinh rất non với nhiều nguy cơ về sức khỏe như hạ thân nhiệt, suy hô hấp, rối loạn chuyển hóa, nhiễm trùng sơ sinh, vàng da, thiếu máu, xuất huyết não, viêm ruột hoại tử, vấn đề về thính giác và thị giác...
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính trên toàn cầu có khoảng 15 triệu trẻ sinh non ra đời, tỷ lệ 1/10 trẻ sơ sinh. Đây được xem là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ dưới 5 tuổi. Khoảng một triệu trẻ sinh non tử vong do các biến chứng. Nhiều trẻ sống sót nhưng phải đối mặt với tình trạng khuyết tật suốt đời, bao gồm khuyết tật thần kinh, tim mạch, thị giác, thính giác.
Tại Việt Nam, các tài liệu báo cáo chung cho thấy tình trạng sinh non ngày càng tăng. Trung bình cả nước, tỷ lệ sinh non khoảng 7% ca sinh, mỗi năm khoảng 100.000-110.000 trẻ sinh non ra đời.
Trường hợp sinh non kèm nhiều bệnh lý, tai biến, càng đe dọa sức khỏe của hai mẹ con. Bác sĩ khuyến cáo thai phụ xuất hiện các dấu hiệu bất thường, nhất là trong ba tháng cuối thai kỳ, cần được theo dõi sát tại cơ sở y tế.
Báo cáo mới nhất tại Hội nghị Thường niên của Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Mỹ (ASCO) ở Chicago hôm 31/5 cho thấy viên uống daraxonrasib giúp kéo dài thời gian sống thêm gần gấp đôi cho người mắc ung thư tụy giai đoạn muộn.
Thử nghiệm lâm sàng quốc tế pha 3 do Viện Ung thư Dana-Farber (Mỹ) dẫn đầu thực hiện trên 500 bệnh nhân tại Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á. Kết quả ghi nhận nhóm sử dụng daraxonrasib đạt thời gian sống thêm trung vị 13,2 tháng, cao gấp đôi so với mức 6,6 tháng của nhóm tiếp nhận hóa trị.
Hãng dược Revolution Medicines chế tạo loại thuốc này nhằm nhắm trúng đích gene đột biến KRAS - nguyên nhân gây ra hơn 90% số ca bệnh. Daraxonrasib hoạt động bằng cách gắn kết các phân tử để bắt giữ và vô hiệu hóa hoàn toàn loại protein chuyên nuôi dưỡng tế bào ung thư này.
Không chỉ kéo dài tuổi thọ, viên uống sử dụng một lần mỗi ngày này còn thể hiện độ an toàn cao. Thống kê cho thấy tỷ lệ bệnh nhân gặp tác dụng phụ nghiêm trọng khi dùng daraxonrasib ở mức 43,6%, thấp hơn đáng kể so với mức 57,5% của phương pháp hóa trị.
Bác sĩ Rachna Shroff, Trưởng khoa Huyết học và Ung bướu tại Trung tâm Ung thư (Đại học Arizona), đánh giá kết quả thử nghiệm sẽ thay đổi hoàn toàn bức tranh lâm sàng cho bệnh nhân ung thư tụy di căn mang đột biến gene KRAS.
Tiến sĩ Sam Godfrey, Trưởng bộ phận Thông tin Nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Ung thư London (ICR), giải thích thêm rằng giới y khoa từng coi đột biến KRAS là mục tiêu bất khả xâm phạm. Ông ví cơ chế truyền tín hiệu nội bào này giống như một công tắc đèn kẹt ở chế độ bật mà trước đây con người chưa tìm ra nút tắt.
Y giới nhận định ung thư tụy là một trong bệnh ác tính khó kiểm soát nhất hiện nay do khối u tăng sinh nhanh và kháng các liệu pháp truyền thống. Thống kê chỉ ra hơn một nửa số bệnh nhân tử vong trong vòng ba tháng kể từ khi nhận chẩn đoán xác định. Người bệnh rất khó phát hiện sớm do các dấu hiệu lâm sàng như vàng da, ngứa da, nước tiểu sẫm màu, phân nhạt màu, sụt cân hoặc mệt mỏi thường xuất hiện ở giai đoạn muộn và dễ nhầm lẫn với các bệnh lý thông thường khác.
Bà Anna Jewell, Giám đốc Dịch vụ, Nghiên cứu và Đổi mới tại Tổ chức Ung thư Tụy Anh, khẳng định loại thuốc mới là bước tiến đáng mong đợi nhất trong lĩnh vực này suốt thời gian qua. Bà kêu gọi các cơ quan chức năng đẩy nhanh quá trình đưa phương pháp này vào ứng dụng thực tế.
Ông Mark Goldsmith, Giám đốc điều hành Revolution Medicines, cho biết hãng đã bắt đầu mở rộng thử nghiệm daraxonrasib ở các giai đoạn bệnh sớm hơn. Ông Menta "Steve" Wallace, 74 tuổi tại Texas (Mỹ), là một trong những người tham gia chương trình này tại Trung tâm Ung thư MD Anderson. Ông Wallace phát hiện bệnh hồi tháng 1 và bắt đầu dùng thuốc từ ngày 12/2.
Sau vài triệu chứng nhẹ ban đầu như buồn nôn và phát ban, sức khỏe ông hiện rất ổn định. Kết quả chẩn đoán hình ảnh mới nhất ghi nhận khối u của ông đã thu nhỏ tới 46%. Bác sĩ điều trị vừa cho phép ông mang theo thuốc bảo quản lạnh để đi du lịch biển Caribbean cùng vợ vào cuối tháng 6.