Không gian sân khấu ngoài trời trên cầu Nguyễn Văn Trỗi mang đến trải nghiệm mới lạ khi nghệ thuật trình diễn áo dài hòa quyện cùng cảnh quan sông Hàn về đêm.
Đây cũng là địa điểm mang nhiều giá trị lịch sử, khi cầu được xây dựng từ những năm 1960, là cây cầu đường bộ đầu tiên nối đôi bờ sông Hàn.
Sau khi cầu Trần Thị Lý được khánh thành năm 2013, cầu Nguyễn Văn Trỗi được giữ lại và cải tạo thành cầu đi bộ. Đến nay, nơi đây trở thành điểm tham quan, check-in quen thuộc của du khách, đặc biệt về đêm khi kết nối với công viên bờ đông và tuyến phố đi bộ Bạch Đằng.
Trong đêm bế mạc Lễ hội Áo dài Đà Nẵng 2026 vào tối 26-4, các tiết mục hát múa kết hợp trình diễn áo dài đặc sắc đã tạo nên bức tranh văn hóa đa sắc.
Nhiều bộ áo dài đặc sắc của các nhà thiết kế, được trình diễn bởi dàn người mẫu, hoa hậu, đã tạo nên những khoảnh khắc giàu cảm xúc. Trong đó nổi bật như bộ sưu tập “Những cánh chim hòa bình” của nhà thiết kế Nhật Thực, bộ sưu tập “Sắc son Đà Nẵng” của nhà thiết kế Thịnh Nguyễn…
Chị Lê Thị Thúy Nga (du khách đến từ Quảng Trị) cho biết: “Dịp nghỉ lễ giỗ Tổ Hùng Vương và kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tôi chọn Đà Nẵng du lịch và rất ấn tượng khi được xem lễ hội áo dài.
Không gian đẹp, chương trình ý nghĩa, tạo thêm trải nghiệm đáng nhớ cho chuyến đi. Tôi hy vọng sẽ được đến Đà Nẵng nhiều hơn nữa để trải nghiệm những sự kiện đặc sắc tại đây”.
Với chủ đề “Tinh hoa áo dài Việt – Sắc lụa sông Hàn”, lễ hội lần đầu tiên được tổ chức tại Đà Nẵng từ ngày 24 đến 26-4 ở nhiều không gian trung tâm Đà Nẵng và kết nối với Hội An.
Không chỉ dừng lại ở hoạt động trình diễn, lễ hội còn mở ra hướng tiếp cận mới khi đưa áo dài từ giá trị biểu trưng trở thành trang phục gần gũi trong đời sống. Qua đó, Đà Nẵng kỳ vọng từng bước xây dựng lễ hội trở thành hoạt động văn hóa thường niên mang bản sắc riêng, góp phần phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng, thu hút du khách trong và ngoài nước.
Đồng thời đây cũng là dịp để khơi dậy niềm tự hào về di sản dân tộc, tạo không gian kết nối, sáng tạo giữa các nhà nghiên cứu, nghệ nhân, doanh nghiệp và cộng đồng.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Lễ hội sen Hà Nội năm 2026 là hoạt động nhằm quảng bá những nét đẹp, giá trị văn hóa, du lịch của Thăng Long - Hà Nội, vùng đất Tây Hồ và đặc biệt là hình ảnh hoa sen - loài hoa tượng trưng cho khí phách, bản sắc và tâm hồn Việt Nam.
Điểm nhấn của lễ hội năm nay là 3 không gian trưng bày mang đến nhiều trải nghiệm ấn tượng cho du khách.
Không gian sen - tinh hoa đời sống là nơi trưng bày, giới thiệu các sản phẩm về sen gắn với điểm đến du lịch tại Vườn hoa Lý Tự Trọng (số 2 đường Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội).
Tại không gian này, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những loài sen từ khắp các tỉnh thành như Nghệ An, Huế, Đồng Tháp, tìm hiểu về hệ sinh thái sản phẩm có giá trị từ sen như lụa tơ sen, các đặc sản từ sen, sản phẩm thủ công mỹ nghệ lấy cảm hứng từ loài hoa này.
Không gian sen - nghệ thuật và sáng tạo trưng bày các tác phẩm thư họa về sen và hoạt động của 500 thiếu nhi vẽ tranh "Khoảnh khắc sen Tây Hồ".
Không gian sen - trình diễn và cộng đồng diễn ra tại nhiều địa điểm: vườn hoa Lạc Long Quân, khu ẩm thực sen Tây Hồ và thung lũng hoa hồ Tây với các hoạt động biểu diễn nghệ thuật dân tộc gắn với sen dân gian, diễu hành nghệ thuật "Sen xuống phố" với 1.000 người mặc áo dài tham gia diễu hành.
Lễ hội sen Hà Nội năm 2026 diễn ra trong 3 ngày, từ 26 đến 28-6 tại Vườn hoa Lý Tự Trọng. Bên cạnh đó, các hoạt động đồng hành cũng sẽ diễn ra cùng lúc tại nhiều không gian trưng bày tại khu vực hồ Tây.
Lễ khai mạc dự kiến diễn ra vào lúc 19h ngày 26-6 tại Vườn hoa Lý Tự Trọng (số 2 đường Thụy Khuê, Tây Hồ).
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Nằm cách trung tâm xã Măng Đen (Quảng Ngãi) khoảng 8 km, thôn Kon Chênh đang trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách bởi vẫn lưu giữ được những nét văn hóa đặc sắc của người Mơ Nâm (đây là một nhánh của dân tộc Xơ Đăng). Những giá trị truyền thống được người dân gìn giữ, lồng ghép vào hoạt động du lịch đã tạo nên sức hút riêng cho vùng đất này.
Ấn tượng đầu tiên của du khách khi đến Kon Chênh là những ngôi nhà mang đậm kiến trúc truyền thống. Trong đó, homestay của gia đình chị Y Tuấn (38 tuổi) được xây dựng theo kiểu nhà sàn của người Mơ Nâm, vừa phục vụ nhu cầu lưu trú, vừa là nơi quảng bá văn hóa địa phương.
Nhờ sự hỗ trợ của chính quyền địa phương cùng nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, chị Y Tuấn mạnh dạn đầu tư phát triển mô hình du lịch cộng đồng với 6 phòng cá nhân và 2 phòng tập thể.
Đến với Kon Chênh, du khách không chỉ được nghỉ dưỡng giữa không gian núi rừng trong lành mà còn có cơ hội trải nghiệm dệt thổ cẩm, làm rượu cần, đánh cồng chiêng, múa xoang, chế biến các món ăn truyền thống, tham quan cảnh đẹp và săn mây.
"Điều chúng tôi mong muốn nhất là du khách khi đến Kon Chênh sẽ cảm nhận được nét đẹp văn hóa của người Mơ Nâm. Vì vậy, gia đình luôn cố gắng gìn giữ kiến trúc nhà sàn, các món ăn truyền thống và những nghề thủ công của dân tộc mình để tạo dấu ấn riêng cho du khách", chị Y Tuấn chia sẻ.
Theo chị Y Tuấn, mô hình du lịch cộng đồng giúp gia đình có nguồn thu nhập ổn định từ 10 - 12 triệu đồng mỗi tháng, cao hơn nhiều so với trước đây chỉ làm nương rẫy. Không chỉ cải thiện đời sống kinh tế, mô hình này còn góp phần khơi dậy ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa trong cộng đồng.
Hiện nay, nhiều hộ dân tại Kon Chênh cũng đã đầu tư xây dựng homestay để phục vụ du khách. Bình quân mỗi năm, thôn đón hơn 4.000 lượt khách đến tham quan và trải nghiệm.
Ông Nguyễn Nhật Trường, Phó chủ tịch UBND xã Măng Đen, cho biết Kon Chênh có nhiều tiềm năng phát triển du lịch nhờ vẫn bảo tồn được những giá trị văn hóa đặc sắc của người Mơ Nâm. Việc người dân chủ động đưa văn hóa truyền thống vào các hoạt động du lịch không chỉ tạo sinh kế mà còn góp phần quảng bá hình ảnh địa phương đến với du khách trong và ngoài nước.
Cùng với Kon Chênh, làng du lịch cộng đồng Đăk Răng (xã Dục Nông, Quảng Ngãi) cũng đang từng bước tạo dấu ấn riêng nhờ phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Gié Triêng.
Điểm nhấn của ngôi làng là không gian trưng bày hơn 20 loại nhạc cụ dân tộc độc đáo. Mỗi loại nhạc cụ không chỉ mang âm thanh riêng biệt mà còn gắn liền với đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng và lễ hội của người Gié Triêng.
Đến đây, du khách được nghe giới thiệu về nguồn gốc, công dụng của từng loại nhạc cụ và trực tiếp trải nghiệm những giai điệu đặc trưng của núi rừng.
Nghệ nhân ưu tú A Brol Vẻ (81 tuổi) và nghệ nhân A Muôn (35 tuổi) là những người có nhiều đóng góp trong việc gìn giữ, truyền dạy và quảng bá các loại nhạc cụ truyền thống đến với du khách.
Bằng sự am hiểu sâu sắc văn hóa dân tộc cùng nhiều năm gắn bó với nghề, hai nghệ nhân đã góp phần biến những thanh âm của đại ngàn trở thành sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, tìm hiểu.
"Du khách rất thích được trực tiếp trải nghiệm và nghe giới thiệu về ý nghĩa của từng loại nhạc cụ. Điều đó giúp chúng tôi có thêm động lực để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc mình", nghệ nhân ưu tú A Brol Vẻ cho biết.
Không chỉ có âm nhạc truyền thống, ẩm thực bản địa cũng là một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của làng Đăk Răng.
Theo chị Y Loan (40 tuổi), người thường xuyên chuẩn bị các món ăn phục vụ du khách, ngoài những món quen thuộc trong các dịp lễ hội như cơm lam, gà nướng, người dân địa phương còn giới thiệu nhiều món ăn dân dã gắn bó với đời sống của đồng bào Gié Triêng từ bao đời nay.
Những món ăn từng chỉ xuất hiện trong bữa cơm gia đình như thịt heo gác bếp, cá nướng lá chuối, ếch nướng ống, canh bột hay thịt sóc nấu bột bắp nay đã trở thành đặc sản được nhiều du khách tìm thưởng thức. Mỗi món ăn đều được chế biến theo phương thức truyền thống, giữ nguyên hương vị mộc mạc đặc trưng của núi rừng.
Từ những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ, các cộng đồng dân tộc thiểu số ở phía tây tỉnh Quảng Ngãi đang từng bước biến bản sắc truyền thống thành sản phẩm du lịch đặc trưng, góp phần tạo nên sức hút riêng cho địa phương.
Thực tế cho thấy, việc phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hóa không chỉ giúp người dân nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống mà còn tạo động lực để các thế hệ trẻ tiếp tục gìn giữ những giá trị văn hóa quý báu của dân tộc mình.
Tin Gốc: Thanh Niên

Có những vùng đất lớn lên từ lớp lớp phù sa bồi đắp qua hàng trăm năm, từ những mùa nước nổi và từ sự nhẫn nại của con người sống giữa bốn bề sông nước. Cù Lao Giêng (tỉnh An Giang) là một vùng đất như thế.
Sau sáp nhập đơn vị hành chính, xã Cù Lao Giêng hôm nay có diện tích tự nhiên gần 69km² với hơn 70.000 dân sinh sống hoàn toàn trên dải cù lao nằm giữa sông Tiền. Bốn bề sông nước vừa tạo nên vẻ biệt lập đặc trưng, vừa hình thành nên một không gian văn hóa, sinh kế và đời sống rất riêng của cư dân miền Tây Nam Bộ.
Hàng thế kỷ qua, dòng phù sa đỏ nặng từ thượng nguồn vẫn lặng lẽ bồi đắp cho vùng đất này những cánh đồng màu mỡ, những vườn cây trái sum suê và cả một nếp sống đặc trưng của cư dân miền sông nước. Nhưng nếu chỉ nhìn Cù Lao Giêng hôm nay qua những vườn xoài trĩu quả hay những tuyến đường bê tông rộng mở thì vẫn chưa đủ để kể hết câu chuyện của vùng đất này.
Bởi trước khi trở thành vùng trồng xoài lớn nhất tỉnh An Giang, nơi đây từng là một xứ lúa nghèo giữa sông Tiền, nơi cuộc sống của nhiều thế hệ người dân gắn với ruộng đồng, mùa nước nổi và những chuyến xuồng ghe xuôi ngược theo con nước.
Người già ở Cù Lao Giêng vẫn nhớ rất rõ hình ảnh của những cánh đồng ngày trước. Khi ấy, quanh cù lao gần như là ruộng lúa nối tiếp nhau. Mùa nước nổi về, phù sa phủ lên mặt ruộng một lớp màu mỡ, người dân xuống giống rồi chờ ngày gặt hái. Nhà nào cũng sống nhờ đất. Có người làm thêm nghề chài lưới, bắt cá trên sông, nhưng cái gốc của cuộc sống vẫn là cây lúa.
Những buổi sáng trên cù lao ngày ấy bắt đầu bằng tiếng người gọi nhau ra đồng, mùi rơm mới, tiếng máy suốt lúa vọng giữa cánh đồng còn đẫm hơi sương. Cuộc sống tuy nghèo nhưng bình yên theo cách rất riêng của miền Tây.
Người dân khi đó không nghĩ nhiều đến những khái niệm lớn lao như phát triển hay hội nhập. Điều họ mong mỏi chỉ đơn giản là mùa màng đừng thất bát, nước đừng lên quá lớn và con cái có cơ hội học hành tốt hơn cha mẹ.
Ít ai biết rằng Cù Lao Giêng cũng là một trong những vùng đất được khai phá khá sớm ở Nam Bộ. Từ thế kỷ XVIII, khi những đoàn lưu dân người Việt theo hành trình Nam tiến xuôi về phương Nam mở cõi, vùng đất giữa sông Tiền này đã dần hình thành những xóm làng đầu tiên.
Khi ấy, nơi đây vẫn còn là vùng đất hoang sơ với lau sậy, rừng rậm và những bãi bồi ngập nước. Những cư dân đầu tiên chủ yếu đến từ miền Trung và miền Bắc, mang theo tập quán trồng lúa nước, đào mương, đắp bờ và dựng xóm làng ven sông. Họ sống nhờ phù sa, nhờ con nước và mở đất bằng chính đôi tay mình.
Suốt hàng trăm năm, phù sa sông Tiền không chỉ bồi đắp nên ruộng đồng màu mỡ mà còn tạo nên chiều sâu văn hóa rất riêng cho vùng cù lao này. Dòng họ Nguyễn Tộc ở Cù Lao Giêng đến nay vẫn gìn giữ tục thờ Ba quan thượng đẳng - những bậc tiền nhân được vua Gia Long truy phong danh hiệu cao quý để ghi nhận công lao mở đất và giữ gìn xóm làng.
Mảnh đất phù sa ấy cũng sản sinh nhiều nhân vật có ảnh hưởng lớn trong lịch sử Việt Nam hiện đại, trong đó có cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Hưởng - một trong những bác sĩ tiêu biểu của nền y học cách mạng Việt Nam, và cố Bộ trưởng Ung Văn Khiêm - nhà ngoại giao nổi bật trong giai đoạn đầu xây dựng nền ngoại giao cách mạng.
Người dân nơi đây vẫn nhắc về họ bằng niềm tự hào của một vùng đất nhỏ nhưng đã góp phần làm nên những con người mang tầm vóc quốc gia.
Điều đặc biệt của Cù Lao Giêng không chỉ nằm ở lịch sử khai phá hay những mùa trái ngọt, mà còn ở chiều sâu văn hóa hiếm nơi nào ở miền Tây còn giữ được nguyên vẹn như vậy.
Từ cuối thế kỷ XIX, các giáo sĩ phương Tây đã đến đây truyền giáo, xây dựng nhà thờ, trường học và bệnh viện.
Đến nay, Nhà thờ Cù Lao Giêng vẫn được xem là một trong những nhà thờ cổ kính nhất Nam Kỳ còn giữ gần như nguyên vẹn kiến trúc châu Âu cổ.
Mỗi buổi chiều, khi ánh nắng phủ xuống những bức tường vàng cũ kỹ và tiếng chuông ngân lên giữa hàng cây cổ thụ, không gian nơi đây khiến người ta có cảm giác như thời gian đang trôi chậm lại.
Nhưng Cù Lao Giêng không chỉ có Công giáo. Trên cùng một dải cù lao nhỏ, đình thần chùa chiềng và tín ngưỡng dân gian cùng tồn tại suốt hàng trăm năm như một phần tự nhiên của đời sống cộng đồng.
Chùa Ông Đạo Nằm gắn với câu chuyện tu hành khổ hạnh của Hòa thượng Tịnh Nghiêm, còn Chùa Chim gây ấn tượng với quần thể tượng Phật quy mô lớn giữa không gian sông nước thanh tịnh.
Không ngại đường xa, khách hành hương vẫn tìm về nơi này mỗi ngày. Anh Văn Thắng, một du khách đến từ Tân Châu, chia sẻ rằng đây đã là lần thứ ba anh đưa gia đình đến Cù Lao Giêng để cầu an và vãn cảnh.
"Không gian ở đây rất thanh tịnh, yên bình và có cảm giác khác hẳn nhiều nơi khác. Đến đây thấy lòng nhẹ lại", anh nói.
Không chỉ có chiều sâu văn hóa, Cù Lao Giêng còn đang mở ra hướng đi mới bằng du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng. Ở nơi này, thiên nhiên, kiến trúc và ký ức làng quê hòa quyện với nhau theo cách rất tự nhiên.
Khu du lịch sinh thái Cồn Én là một trong những điểm đến tiêu biểu. Không gian nơi đây tái hiện ký ức miền quê bằng chất liệu gỗ lũa, những mái nhà mộc mạc và cảnh quan gần như giữ nguyên vẻ nguyên sơ của vùng sông nước.
Chị Nguyễn Thị Ngọc Yến, Giám đốc điều hành khu du lịch, cho biết đơn vị đang hướng đến mở rộng dịch vụ lưu trú, đầu tư thêm các hoạt động trải nghiệm để phục vụ khách quốc tế nhiều hơn trong thời gian tới.
Theo chị, du khách tìm đến Cù Lao Giêng không phải để tìm sự náo nhiệt mà để tìm sự bình yên, cảm giác được sống chậm giữa miền quê còn giữ nguyên bản sắc.
"Du lịch ở Cù Lao Giêng vì thế cũng không đi theo hướng đô thị hóa ồn ào. Người ta tìm đến nơi này vì những con đường nhỏ chạy dọc bờ sông, vì tiếng chuông chùa buổi chiều, vì những khu vườn xanh rợp bóng và vì cảm giác được trở về một miền Tây cũ kỹ nhưng đầy sức sống".
Dẫu vậy, gốc rễ của Cù Lao Giêng vẫn là nông nghiệp. Và sự chuyển mình lớn nhất của vùng đất này bắt đầu khi người dân nhận ra đất phù sa nơi đây đặc biệt phù hợp với cây xoài.
Ban đầu chỉ vài hộ chuyển đổi từ đất lúa sang cây ăn trái. Nhưng rồi từ những khu vườn nhỏ lẻ, cây xoài dần phủ xanh cả cù lao. Những cánh đồng lúa năm nào lần lượt nhường chỗ cho những vườn xoài trải dài đến tận mé sông.
Đến nay, Cù Lao Giêng đã trở thành vùng trồng xoài lớn nhất tỉnh An Giang với gần 5.000ha. Trên hơn 4.300ha đất sản xuất, phần lớn diện tích hiện là cây ăn trái với nhiều vùng trồng được cấp mã số xuất khẩu và áp dụng tiêu chuẩn VietGAP.
Hợp tác xã GAP Cù Lao Giêng thành lập năm 2020 được xem là bước ngoặt lớn của nông nghiệp địa phương. Anh Nguyễn Minh Hiền – Chủ tịch HTX cho biết xoài Cù Lao Giêng có ưu thế nhờ thổ nhưỡng và khí hậu đặc biệt, giúp trái xoài có độ bóng đẹp và chất lượng cao hơn nhiều nơi khác.
"Từ trước tới nay, xoài Cù Lao Giêng luôn được thị trường đánh giá cao về mẫu mã và chất lượng. Khi làm theo quy trình VietGAP, GlobalGAP và có mã số vùng trồng, trái xoài đi được vào các thị trường khó tính hơn, đầu ra cũng ổn định hơn cho nông dân", anh Hiền nói.
Từ một vùng sản xuất nhỏ lẻ, xoài nơi đây giờ đã xuất khẩu sang Mỹ, Hàn Quốc, Úc và New Zealand. Hiện HTX có hơn 50 thành viên chính thức cùng hàng trăm hộ liên kết sản xuất theo quy trình tiêu chuẩn nhằm xây dựng sinh kế bền vững cho người dân.
Không chỉ có cây trái, nghề nuôi cá bè cũng phát triển mạnh với hơn 1.000 lồng bè nuôi cá tra và cá diêu hồng, cho sản lượng khoảng 3.600 tấn mỗi năm. Những bè cá nối dài trên sông cùng các vườn xoài xanh ngút mắt đang tạo nên diện mạo kinh tế mới cho vùng cù lao giữa sông Tiền.
Sự đổi thay ấy hiện diện rõ nhất trong cuộc sống của người dân. Ông Lê Ngọc Bia, năm nay 71 tuổi, vẫn nhớ những năm tháng vợ chồng ông phải bán bún tươi, bán trứng vịt để nuôi hai con ăn học.
"Ngày đó cực lắm, chỉ mong đủ tiền cho con học hết phổ thông", ông kể.
Giờ đây, con trai lớn của ông đã là giáo viên, người con út làm việc trong doanh nghiệp thủy sản, cuộc sống gia đình cũng ổn định hơn sau hàng chục năm chắt chiu từ đất.
Ông Phạm Văn Khang cũng từng bắt đầu chỉ với hai công ruộng, một chiếc xuồng nhỏ đánh cá và một con bò cái gây giống. Sau nhiều năm tích cóp, ông đã dựng được căn nhà mới khang trang bên con đường ven sông.
Những câu chuyện như vậy không hiếm ở Cù Lao Giêng, bởi sự đổi thay nơi đây không đến từ những dự án đồ sộ mà đến từ từng gia đình, từng khu vườn và từng mùa trái ngọt.
Suốt nhiều năm, yếu tố địa lý sông nước từng khiến Cù Lao Giêng gặp không ít khó khăn trong phát triển hạ tầng, y tế, giáo dục và đời sống dân sinh. Nhưng từ khi chính thức được công nhận là xã đảo của tỉnh An Giang, vùng đất này bắt đầu bước sang một giai đoạn phát triển mới.
Danh xưng "xã đảo" không chỉ mang ý nghĩa địa lý mà còn mở ra nhiều cơ chế đặc thù về đầu tư giao thông, điện, nước sạch, trường học, y tế và an sinh xã hội. Người dân được hỗ trợ phát triển sản xuất, tiếp cận vốn ưu đãi và các chương trình giảm nghèo.
Đặc biệt, toàn bộ cư dân trên địa bàn được hỗ trợ 100% bảo hiểm y tế - một chính sách được người dân xem là rất thiết thực đối với một vùng còn nhiều lao động nông nghiệp và lao động tự do.
Theo ông Võ Minh Nâng – Bí thư Đảng uỷ xã Cù Lao Giêng, trong nhiệm kỳ 2025–2030, địa phương đặt mục tiêu phát triển toàn diện trên nền tảng kinh tế bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo đó, Cù Lao Giêng sẽ lấy nông nghiệp công nghệ cao và đặc sản xoài làm trọng tâm, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển du lịch cộng đồng và xây dựng nông thôn mới hiện đại.
Chiều xuống trên sông Tiền, nắng cuối ngày phủ vàng những vườn xoài trải dài ven sông. Cuộc sống ở Cù Lao Giêng hôm nay đã khác rất nhiều so với thời chỉ sống bằng ruộng lúa và những mùa nước nổi. Đường sá rộng hơn, nhà cửa khang trang hơn, người trẻ có thêm cơ hội học hành và làm ăn, du lịch bắt đầu tìm đến, nông nghiệp bước vào hành trình chuyển đổi mới.
Nhưng giữa tất cả những đổi thay ấy, vùng đất này vẫn giữ được điều quý nhất: tinh thần của một miền Tây sống nhờ phù sa, nhờ đất và nhờ sự bền bỉ của con người.
Và có lẽ, đó mới chính là vẻ đẹp sâu nhất của Cù Lao Giêng hôm nay - một xã đảo đang bước vào tương lai mới nhưng vẫn giữ nguyên hồn vía của miền sông nước Nam Bộ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

