Có những vùng đất lớn lên từ lớp lớp phù sa bồi đắp qua hàng trăm năm, từ những mùa nước nổi và từ sự nhẫn nại của con người sống giữa bốn bề sông nước. Cù Lao Giêng (tỉnh An Giang) là một vùng đất như thế.
Sau sáp nhập đơn vị hành chính, xã Cù Lao Giêng hôm nay có diện tích tự nhiên gần 69km² với hơn 70.000 dân sinh sống hoàn toàn trên dải cù lao nằm giữa sông Tiền. Bốn bề sông nước vừa tạo nên vẻ biệt lập đặc trưng, vừa hình thành nên một không gian văn hóa, sinh kế và đời sống rất riêng của cư dân miền Tây Nam Bộ.
Hàng thế kỷ qua, dòng phù sa đỏ nặng từ thượng nguồn vẫn lặng lẽ bồi đắp cho vùng đất này những cánh đồng màu mỡ, những vườn cây trái sum suê và cả một nếp sống đặc trưng của cư dân miền sông nước. Nhưng nếu chỉ nhìn Cù Lao Giêng hôm nay qua những vườn xoài trĩu quả hay những tuyến đường bê tông rộng mở thì vẫn chưa đủ để kể hết câu chuyện của vùng đất này.
Bởi trước khi trở thành vùng trồng xoài lớn nhất tỉnh An Giang, nơi đây từng là một xứ lúa nghèo giữa sông Tiền, nơi cuộc sống của nhiều thế hệ người dân gắn với ruộng đồng, mùa nước nổi và những chuyến xuồng ghe xuôi ngược theo con nước.
Người già ở Cù Lao Giêng vẫn nhớ rất rõ hình ảnh của những cánh đồng ngày trước. Khi ấy, quanh cù lao gần như là ruộng lúa nối tiếp nhau. Mùa nước nổi về, phù sa phủ lên mặt ruộng một lớp màu mỡ, người dân xuống giống rồi chờ ngày gặt hái. Nhà nào cũng sống nhờ đất. Có người làm thêm nghề chài lưới, bắt cá trên sông, nhưng cái gốc của cuộc sống vẫn là cây lúa.
Những buổi sáng trên cù lao ngày ấy bắt đầu bằng tiếng người gọi nhau ra đồng, mùi rơm mới, tiếng máy suốt lúa vọng giữa cánh đồng còn đẫm hơi sương. Cuộc sống tuy nghèo nhưng bình yên theo cách rất riêng của miền Tây.
Người dân khi đó không nghĩ nhiều đến những khái niệm lớn lao như phát triển hay hội nhập. Điều họ mong mỏi chỉ đơn giản là mùa màng đừng thất bát, nước đừng lên quá lớn và con cái có cơ hội học hành tốt hơn cha mẹ.
Ít ai biết rằng Cù Lao Giêng cũng là một trong những vùng đất được khai phá khá sớm ở Nam Bộ. Từ thế kỷ XVIII, khi những đoàn lưu dân người Việt theo hành trình Nam tiến xuôi về phương Nam mở cõi, vùng đất giữa sông Tiền này đã dần hình thành những xóm làng đầu tiên.
Khi ấy, nơi đây vẫn còn là vùng đất hoang sơ với lau sậy, rừng rậm và những bãi bồi ngập nước. Những cư dân đầu tiên chủ yếu đến từ miền Trung và miền Bắc, mang theo tập quán trồng lúa nước, đào mương, đắp bờ và dựng xóm làng ven sông. Họ sống nhờ phù sa, nhờ con nước và mở đất bằng chính đôi tay mình.
Suốt hàng trăm năm, phù sa sông Tiền không chỉ bồi đắp nên ruộng đồng màu mỡ mà còn tạo nên chiều sâu văn hóa rất riêng cho vùng cù lao này. Dòng họ Nguyễn Tộc ở Cù Lao Giêng đến nay vẫn gìn giữ tục thờ Ba quan thượng đẳng – những bậc tiền nhân được vua Gia Long truy phong danh hiệu cao quý để ghi nhận công lao mở đất và giữ gìn xóm làng.
Mảnh đất phù sa ấy cũng sản sinh nhiều nhân vật có ảnh hưởng lớn trong lịch sử Việt Nam hiện đại, trong đó có cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Hưởng – một trong những bác sĩ tiêu biểu của nền y học cách mạng Việt Nam, và cố Bộ trưởng Ung Văn Khiêm – nhà ngoại giao nổi bật trong giai đoạn đầu xây dựng nền ngoại giao cách mạng.
Người dân nơi đây vẫn nhắc về họ bằng niềm tự hào của một vùng đất nhỏ nhưng đã góp phần làm nên những con người mang tầm vóc quốc gia.
Điều đặc biệt của Cù Lao Giêng không chỉ nằm ở lịch sử khai phá hay những mùa trái ngọt, mà còn ở chiều sâu văn hóa hiếm nơi nào ở miền Tây còn giữ được nguyên vẹn như vậy.
Từ cuối thế kỷ XIX, các giáo sĩ phương Tây đã đến đây truyền giáo, xây dựng nhà thờ, trường học và bệnh viện.
Đến nay, Nhà thờ Cù Lao Giêng vẫn được xem là một trong những nhà thờ cổ kính nhất Nam Kỳ còn giữ gần như nguyên vẹn kiến trúc châu Âu cổ.
Mỗi buổi chiều, khi ánh nắng phủ xuống những bức tường vàng cũ kỹ và tiếng chuông ngân lên giữa hàng cây cổ thụ, không gian nơi đây khiến người ta có cảm giác như thời gian đang trôi chậm lại.
Nhưng Cù Lao Giêng không chỉ có Công giáo. Trên cùng một dải cù lao nhỏ, đình thần chùa chiềng và tín ngưỡng dân gian cùng tồn tại suốt hàng trăm năm như một phần tự nhiên của đời sống cộng đồng.
Chùa Ông Đạo Nằm gắn với câu chuyện tu hành khổ hạnh của Hòa thượng Tịnh Nghiêm, còn Chùa Chim gây ấn tượng với quần thể tượng Phật quy mô lớn giữa không gian sông nước thanh tịnh.
Không ngại đường xa, khách hành hương vẫn tìm về nơi này mỗi ngày. Anh Văn Thắng, một du khách đến từ Tân Châu, chia sẻ rằng đây đã là lần thứ ba anh đưa gia đình đến Cù Lao Giêng để cầu an và vãn cảnh.
“Không gian ở đây rất thanh tịnh, yên bình và có cảm giác khác hẳn nhiều nơi khác. Đến đây thấy lòng nhẹ lại”, anh nói.
Không chỉ có chiều sâu văn hóa, Cù Lao Giêng còn đang mở ra hướng đi mới bằng du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng. Ở nơi này, thiên nhiên, kiến trúc và ký ức làng quê hòa quyện với nhau theo cách rất tự nhiên.
Khu du lịch sinh thái Cồn Én là một trong những điểm đến tiêu biểu. Không gian nơi đây tái hiện ký ức miền quê bằng chất liệu gỗ lũa, những mái nhà mộc mạc và cảnh quan gần như giữ nguyên vẻ nguyên sơ của vùng sông nước.
Chị Nguyễn Thị Ngọc Yến, Giám đốc điều hành khu du lịch, cho biết đơn vị đang hướng đến mở rộng dịch vụ lưu trú, đầu tư thêm các hoạt động trải nghiệm để phục vụ khách quốc tế nhiều hơn trong thời gian tới.
Theo chị, du khách tìm đến Cù Lao Giêng không phải để tìm sự náo nhiệt mà để tìm sự bình yên, cảm giác được sống chậm giữa miền quê còn giữ nguyên bản sắc.
“Du lịch ở Cù Lao Giêng vì thế cũng không đi theo hướng đô thị hóa ồn ào. Người ta tìm đến nơi này vì những con đường nhỏ chạy dọc bờ sông, vì tiếng chuông chùa buổi chiều, vì những khu vườn xanh rợp bóng và vì cảm giác được trở về một miền Tây cũ kỹ nhưng đầy sức sống”.
Dẫu vậy, gốc rễ của Cù Lao Giêng vẫn là nông nghiệp. Và sự chuyển mình lớn nhất của vùng đất này bắt đầu khi người dân nhận ra đất phù sa nơi đây đặc biệt phù hợp với cây xoài.
Ban đầu chỉ vài hộ chuyển đổi từ đất lúa sang cây ăn trái. Nhưng rồi từ những khu vườn nhỏ lẻ, cây xoài dần phủ xanh cả cù lao. Những cánh đồng lúa năm nào lần lượt nhường chỗ cho những vườn xoài trải dài đến tận mé sông.
Đến nay, Cù Lao Giêng đã trở thành vùng trồng xoài lớn nhất tỉnh An Giang với gần 5.000ha. Trên hơn 4.300ha đất sản xuất, phần lớn diện tích hiện là cây ăn trái với nhiều vùng trồng được cấp mã số xuất khẩu và áp dụng tiêu chuẩn VietGAP.
Hợp tác xã GAP Cù Lao Giêng thành lập năm 2020 được xem là bước ngoặt lớn của nông nghiệp địa phương. Anh Nguyễn Minh Hiền – Chủ tịch HTX cho biết xoài Cù Lao Giêng có ưu thế nhờ thổ nhưỡng và khí hậu đặc biệt, giúp trái xoài có độ bóng đẹp và chất lượng cao hơn nhiều nơi khác.
“Từ trước tới nay, xoài Cù Lao Giêng luôn được thị trường đánh giá cao về mẫu mã và chất lượng. Khi làm theo quy trình VietGAP, GlobalGAP và có mã số vùng trồng, trái xoài đi được vào các thị trường khó tính hơn, đầu ra cũng ổn định hơn cho nông dân”, anh Hiền nói.
Từ một vùng sản xuất nhỏ lẻ, xoài nơi đây giờ đã xuất khẩu sang Mỹ, Hàn Quốc, Úc và New Zealand. Hiện HTX có hơn 50 thành viên chính thức cùng hàng trăm hộ liên kết sản xuất theo quy trình tiêu chuẩn nhằm xây dựng sinh kế bền vững cho người dân.
Không chỉ có cây trái, nghề nuôi cá bè cũng phát triển mạnh với hơn 1.000 lồng bè nuôi cá tra và cá diêu hồng, cho sản lượng khoảng 3.600 tấn mỗi năm. Những bè cá nối dài trên sông cùng các vườn xoài xanh ngút mắt đang tạo nên diện mạo kinh tế mới cho vùng cù lao giữa sông Tiền.
Sự đổi thay ấy hiện diện rõ nhất trong cuộc sống của người dân. Ông Lê Ngọc Bia, năm nay 71 tuổi, vẫn nhớ những năm tháng vợ chồng ông phải bán bún tươi, bán trứng vịt để nuôi hai con ăn học.
“Ngày đó cực lắm, chỉ mong đủ tiền cho con học hết phổ thông”, ông kể.
Giờ đây, con trai lớn của ông đã là giáo viên, người con út làm việc trong doanh nghiệp thủy sản, cuộc sống gia đình cũng ổn định hơn sau hàng chục năm chắt chiu từ đất.
Ông Phạm Văn Khang cũng từng bắt đầu chỉ với hai công ruộng, một chiếc xuồng nhỏ đánh cá và một con bò cái gây giống. Sau nhiều năm tích cóp, ông đã dựng được căn nhà mới khang trang bên con đường ven sông.
Những câu chuyện như vậy không hiếm ở Cù Lao Giêng, bởi sự đổi thay nơi đây không đến từ những dự án đồ sộ mà đến từ từng gia đình, từng khu vườn và từng mùa trái ngọt.
Suốt nhiều năm, yếu tố địa lý sông nước từng khiến Cù Lao Giêng gặp không ít khó khăn trong phát triển hạ tầng, y tế, giáo dục và đời sống dân sinh. Nhưng từ khi chính thức được công nhận là xã đảo của tỉnh An Giang, vùng đất này bắt đầu bước sang một giai đoạn phát triển mới.
Danh xưng “xã đảo” không chỉ mang ý nghĩa địa lý mà còn mở ra nhiều cơ chế đặc thù về đầu tư giao thông, điện, nước sạch, trường học, y tế và an sinh xã hội. Người dân được hỗ trợ phát triển sản xuất, tiếp cận vốn ưu đãi và các chương trình giảm nghèo.
Đặc biệt, toàn bộ cư dân trên địa bàn được hỗ trợ 100% bảo hiểm y tế – một chính sách được người dân xem là rất thiết thực đối với một vùng còn nhiều lao động nông nghiệp và lao động tự do.
Theo ông Võ Minh Nâng – Bí thư Đảng uỷ xã Cù Lao Giêng, trong nhiệm kỳ 2025–2030, địa phương đặt mục tiêu phát triển toàn diện trên nền tảng kinh tế bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo đó, Cù Lao Giêng sẽ lấy nông nghiệp công nghệ cao và đặc sản xoài làm trọng tâm, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển du lịch cộng đồng và xây dựng nông thôn mới hiện đại.
Chiều xuống trên sông Tiền, nắng cuối ngày phủ vàng những vườn xoài trải dài ven sông. Cuộc sống ở Cù Lao Giêng hôm nay đã khác rất nhiều so với thời chỉ sống bằng ruộng lúa và những mùa nước nổi. Đường sá rộng hơn, nhà cửa khang trang hơn, người trẻ có thêm cơ hội học hành và làm ăn, du lịch bắt đầu tìm đến, nông nghiệp bước vào hành trình chuyển đổi mới.
Nhưng giữa tất cả những đổi thay ấy, vùng đất này vẫn giữ được điều quý nhất: tinh thần của một miền Tây sống nhờ phù sa, nhờ đất và nhờ sự bền bỉ của con người.
Và có lẽ, đó mới chính là vẻ đẹp sâu nhất của Cù Lao Giêng hôm nay – một xã đảo đang bước vào tương lai mới nhưng vẫn giữ nguyên hồn vía của miền sông nước Nam Bộ.
Những ngày qua, video ghi lại trải nghiệm tại một quán ăn có nhân viên khiếm thính phục vụ ở Đà Nẵng của du khách người Anh tên Reuben Charles đã thu hút sự quan tâm của dư luận.
Trong video, anh Reuben Charles chia sẻ cảm giác bất ngờ khi bước vào một không gian gần như không có tiếng nói. Các nhân viên giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ ký hiệu, còn thực khách gọi món thông qua cử chỉ, ánh mắt.
Ngay tại nhà hàng, thực đơn và đồng phục nhân viên đều có dòng chữ “Silent Note” nhằm thông báo với khách rằng người phục vụ bị khiếm thính và không thể nghe thấy âm thanh như bình thường.
Anh Reuben Charles cho biết câu chuyện xảy ra vào ngày 13/4. Ban đầu, anh dự định dùng bữa tại một nhà hàng khác nhưng tình cờ ghé vào nhà hàng trong video.
“Tôi nhìn thấy nhân viên dùng ngôn ngữ ký hiệu để giao tiếp với nhau. Sau khi tìm hiểu, tôi nhận ra đây là một nơi rất đặc biệt và quyết định ghi lại trải nghiệm của mình như một đoạn phim tài liệu nhỏ”, anh Reuben Charles nói.
Điều khiến nam du khách ấn tượng nhất là sự thân thiện và tận tâm của các nhân viên. Khi không biết cách ăn món bún chả, anh đã được một nữ nhân viên kiên nhẫn hướng dẫn bằng cử chỉ.
“Khoảnh khắc đó thực sự làm tôi cảm động và cuối cùng nó trở thành phần yêu thích của tôi vì cảm giác chân thật, chân thành của nhân viên”, anh Reuben Charles chia sẻ.
Theo du khách người Anh, trước đây anh chưa từng đến một nơi nào như nhà hàng “không có tiếng nói” này. Anh cho rằng mô hình này không chỉ tạo cơ hội việc làm cho người khiếm khuyết mà còn mang đến kỷ niệm đặc biệt cho khách hàng.
“Đôi khi ở nhà hàng, những sai sót nhỏ dễ khiến mọi người khó chịu. Nhưng ở đây, khách hàng học được sự kiên nhẫn và cảm thông nhiều hơn”, anh Reuben Charles nói thêm.
Anh Reuben Charles cũng dành nhiều lời khen cho con người và văn hóa Việt Nam, đặc biệt là miền Trung. Anh cho biết Đà Nẵng và Hội An đã để lại nhiều kỷ niệm đẹp trong chuyến đi của mình và chắc chắn sẽ còn quay lại trong tương lai.
Chủ nhà hàng trong video cho biết ý tưởng tuyển dụng lao động khiếm thính bắt đầu từ năm 2019, khi chị gặp một nam thanh niên câm điếc đi xin việc. Ban đầu, chị chỉ giao những công việc đơn giản, nhưng dần dần các nhân viên hòa nhập tốt hơn, còn những người làm cùng cũng chủ động học ngôn ngữ ký hiệu để hỗ trợ nhau.
“Sau một thời gian, mọi người đều tìm được cách làm việc chung. Chính các bạn hỗ trợ ngược lại cho quán rất nhiều. Đến nay hệ thống nhà hàng đã có khoảng 30 nhân viên là người khiếm thính làm việc”, chủ quán chia sẻ.
Thời gian đầu, việc vận hành gặp không ít khó khăn do giao tiếp với khách chưa thuận lợi. Để khắc phục, quán phải điều chỉnh cách vận hành trong gần một năm, phân chia khu vực phục vụ rõ ràng và dùng màu áo khác nhau để khách dễ nhận biết nhân viên có thể giao tiếp bằng lời nói.
Ngoài ra, quán còn sử dụng các tín hiệu riêng như tiếng động hoặc tiếng huýt sáo để báo món, gọi hỗ trợ.
Trở về sau chuyến du lịch 5 ngày 4 đêm ở Nhật Bản, Hải Anh (ngụ TP.HCM) tổng kết "thiệt hại" hơn 80 triệu đồng, hơn một nửa trong số đó đã "bay cái vèo" chỉ sau một buổi lang thang mua sắm ở Tokyo. Trong chương trình tour của Hải Anh có 3 điểm mua sắm là: khu Ginza và Shibuya ở Tokyo, khu Factory Outlet ở Fukushima và hệ thống siêu thị Aeon Mall nổi tiếng. Trong đó, Ginza được biết đến là một trong những khu mua sắm sang trọng nhất với các thương hiệu thời trang cao cấp hàng đầu thế giới như Chanel, Dior, Gucci, Louis Vuitton…
Anh Tuấn Thành, hướng dẫn viên đã có 18 năm kinh nghiệm dẫn tour Nhật, cho biết: Trước đây, người Việt tới Ginza chỉ đi coi là chính vì khu này toàn đồ xa xỉ. Ngay cả dân Nhật đi dạo ở đây cũng là những người sang trọng, trang điểm lộng lẫy. Thế nhưng vài năm trở lại đây, đoàn khách nào do anh dẫn cũng muốn tới Ginza mua đồ. "Khách Việt ngày càng chịu chơi và chuộng hàng hiệu", anh Tuấn Thành nói.
Ginza cũng là một trong những địa điểm đẹp nhất để ngắm cảnh lên đèn ở Tokyo. Sau khi các cửa hàng đóng cửa và khách mua sắm trở về, khu phố này lại khoác lên mình diện mạo thứ hai: khu vui chơi giải trí về đêm ngập tràn ánh đèn với những quán bar, câu lạc bộ đêm cao cấp. "Lạc ở Ginza từ chiều đến tối bằng 3 tháng lương cày cuốc ở nhà", Hải Anh ví von.
Song, tiếng "ting ting" thông báo trừ tiền từ thẻ visa dường như không đủ làm hạ nhiệt tinh thần mua sắm của đoàn khách Việt. Xe vừa dừng ở khu Factory Outlet rộng hàng ngàn héc ta gần tuyến cao tốc trên đường từ Tokyo đến Fukushima, cả đoàn vội lao xuống để tranh thủ đi mua sắm bởi theo lịch trình, thời gian dừng tại điểm này chỉ có 2 giờ. Coach, Nike, Adidas, Puma…, hàng trăm thương hiệu quần áo, giày dép, túi xách với mức giảm giá tới 70 - 80% mê hoặc các "tín đồ shopping". Ai cũng túi to túi nhỏ, í ới chỉ nhau hàng nào, quầy nào khuyến mãi nhiều.
Hình ảnh tương tự cũng diễn ra khi tới Aeon Mall. Đoàn khách của anh Thành còn xin cắt bớt chương trình tham quan, thay đổi lịch trình từ 2 lên 4 tiếng ở Aeon Mall để đủ thời gian "hốt" hàng Nhật "xịn".
"Phân khúc nào cũng có chỗ cho du khách mua sắm thỏa thích. Hàng thì chất lượng, chỉ việc đưa passport ra là có thể hoàn thuế ngay tại chỗ, bảo sao mọi người không mê. Lang thang ăn uống, mua sắm đang là xu hướng lựa chọn của du khách, thay vì chỉ chăm chăm đến điểm tham quan như trước đây", hướng dẫn viên Tuấn Thành chia sẻ.
Outlet "mixed-use" (đa năng) - tổ hợp quy mô quốc gia kết hợp mua sắm, vui chơi giải trí, văn hóa và ẩm thực - tương tự khu Ginza của Nhật Bản cũng là mô hình mà bà Lê Hồng Thủy Tiên, Tổng giám đốc Tập đoàn Liên Thái Bình Dương (IPPG), ấp ủ bao năm qua. Bà Thủy Tiên khẳng định VN có thể xây dựng được những khu mua sắm đặc sắc, bởi du khách đi mua sắm không chỉ chăm chăm vào đồ hiệu, mà họ còn sẵn sàng chi tiền để mang về một "lát cắt văn hóa bản địa". Vì vậy, nên tạo điều kiện cho doanh nghiệp xây dựng các tổ hợp mua sắm đa năng với những điều kiện cụ thể. Ví dụ như quy định cứng về tỷ lệ hàng VN chất lượng cao được bày bán tại đây. VN với 34 tỉnh, thành chứa đựng hàng vạn câu chuyện văn hóa độc đáo chính là "mỏ vàng" để khai thác cho mô hình này. Khi đó, hàng Việt sẽ đứng ngang hàng với các thương hiệu xa xỉ trên thế giới.
Khẳng định tiềm năng để VN trở thành "thiên đường mua sắm", song bà Lê Hồng Thủy Tiên cho rằng chính sách hiện nay còn rất nhiều bất cập.
Đầu tiên, hệ thống hoàn thuế VAT cho khách quốc tế hiện quá rườm rà, kém sức cạnh tranh. Muốn khuyến khích du khách chi tiêu, cần cấp bách số hóa và liên thông đồng bộ hệ thống 3 bên: doanh nghiệp (DN) - cơ quan thuế - hải quan dựa trên nền tảng hóa đơn điện tử. Đồng thời, phải cho phép hoàn thuế ngay tại điểm bán đối với một số nhóm hàng đủ điều kiện để kích thích du khách mua sắm liên tục. Song song, mạnh dạn mở lại mô hình mua sắm miễn thuế có kiểm soát bằng công nghệ số (truy xuất điện tử, quản lý hạn mức) tại các khu kinh tế cửa khẩu, khu phi thuế quan, khu thương mại tự do cho cả khách quốc tế và khách Việt.
Cùng với đó, quy hoạch chuyên nghiệp bán lẻ du lịch, xóa bỏ hình ảnh nhếch nhác. Nhà nước cần ban hành tiêu chí đầu tư, cơ sở vật chất tối thiểu nhằm quy hoạch lại các điểm bán lẻ một cách chuyên nghiệp, đưa hàng VN chất lượng cao và có mẫu mã đẹp mắt vào phục vụ du khách một cách sang trọng nhất. Lãnh đạo IPPG bày tỏ mong muốn Chính phủ biến việc này thành chiến lược quốc gia, giao KPI cụ thể cho các bộ ngành: mỗi năm phải đưa được vài trăm đến vài ngàn thương hiệu Việt độc đáo vào các kênh bán lẻ du lịch một cách chuyên nghiệp.
Để xây dựng được những mô hình outlet thành công, theo bà Thủy Tiên, quan trọng nhất là cần quỹ đất sạch và có chính sách ưu đãi. Bởi bản chất của outlet là bán hàng hiệu giảm giá quanh năm, biên lợi nhuận rất mỏng. Nếu giá đất quá cao, chi phí mặt bằng đắt đỏ thì DN Việt không thể trụ nổi. Khi đó, outlet sẽ biến thành sân chơi riêng của các thương hiệu ngoại. Đặc biệt, cần khẩn cấp gỡ bỏ rào cản trần khuyến mãi 50% vì nếu giảm giá quanh năm mà bị siết trần thì mô hình outlet chưa ra đời đã vi phạm luật.
"Khi một du khách quốc tế đến VN, mở ví mua một sản phẩm Việt mang về nước, đó chính là xuất khẩu tại chỗ. Hình thức này mang lại giá trị gia tăng cực cao vì không tốn chi phí logistics, không chịu rủi ro tỷ giá hay chi phí trung gian. Vì vậy, các DN thương mại du lịch cần được tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi, dòng tín dụng hỗ trợ như các DN xuất khẩu truyền thống", bà Thủy Tiên đề xuất.
Từ góc độ DN du lịch, TS Thái Doãn Hồng, Tổng giám đốc Công ty CP Du lịch Công đoàn TP.HCM, cũng kiến nghị Chính phủ có cơ chế thông thoáng hơn để thu hút đầu tư vào hệ thống trung tâm mua sắm miễn thuế, factory outlet, chợ đêm và kinh tế đêm. Đồng thời, cơ quan thuế cũng cần vào cuộc để xây dựng chính sách hoàn thuế, miễn giảm thuế hấp dẫn hơn cho khách quốc tế khi mua sắm tại VN.
Đặc biệt, các trung tâm mua sắm này phải kết nối trực tiếp với DN du lịch. Để tất cả đoàn khách quốc tế đến VN đều có thể được đưa vào hệ thống mua sắm này, tạo nguồn khách ổn định và kích thích chi tiêu.
Giữa tháng 5, nhiếp ảnh gia Ngô Trần Hải An (Quỷ Cốc Tử) đến Thái Nguyên tham dự các hoạt động du lịch "Hồ trên núi - Trà trong mây". Anh chia sẻ 6 trải nghiệm trong chuyến đi, kết hợp cùng gợi ý của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh.
Đi thuyền hồ Ba Bể
Ba Bể là một hồ nước ngọt ở Thái Nguyên (Bắc Kạn cũ). Đây là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Việt Nam và thuộc 100 hồ nước ngọt lớn nhất thế giới.
Hồ nằm trong Vườn quốc gia Ba Bể, được hình thành cách đây hơn 200 triệu năm, được công nhận là khu du lịch quốc gia Việt Nam.
Giữa tháng 5, nhiếp ảnh gia Ngô Trần Hải An (Quỷ Cốc Tử) đến Thái Nguyên tham dự các hoạt động du lịch "Hồ trên núi - Trà trong mây". Anh chia sẻ 6 trải nghiệm trong chuyến đi, kết hợp cùng gợi ý của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh.
Ba Bể là một hồ nước ngọt ở Thái Nguyên (Bắc Kạn cũ). Đây là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Việt Nam và thuộc 100 hồ nước ngọt lớn nhất thế giới.
Hồ nằm trong Vườn quốc gia Ba Bể, được hình thành cách đây hơn 200 triệu năm, được công nhận là khu du lịch quốc gia Việt Nam.
Du khách sẽ ngồi thuyền, lướt chậm trên hồ, hai bên là những vách đá vôi phủ kín cây.
"Ở giữa không gian xanh tự nhiên thấy mình thật nhỏ bé", Hải An nói và gợi ý đây là trải nghiệm nên thử khi đến Thái Nguyên.
Du khách sẽ ngồi thuyền, lướt chậm trên hồ, hai bên là những vách đá vôi phủ kín cây.
"Ở giữa không gian xanh tự nhiên thấy mình thật nhỏ bé", Hải An nói và gợi ý đây là trải nghiệm nên thử khi đến Thái Nguyên.
Xem trình diễn chèo xuồng trên hồ Ba Bể
Trước đây người Tày gắn bó với xuồng độc mộc. Mỗi chiếc được đẽo gọt thủ công từ một thân cây gỗ nguyên khối lớn, thường là các loại gỗ nhẹ, dai, có khả năng nổi và chịu nước tốt.
Ngày nay, để hạn chế việc chặt cây rừng và bảo vệ hệ sinh thái Vườn quốc gia Ba Bể, người dân dần chuyển sang dùng xuồng sắt. Thiết kế xuồng thuôn dài, bề ngang hẹp, dẹt và không có mui.
Xem trình diễn chèo xuồng trên hồ Ba Bể
Trước đây người Tày gắn bó với xuồng độc mộc. Mỗi chiếc được đẽo gọt thủ công từ một thân cây gỗ nguyên khối lớn, thường là các loại gỗ nhẹ, dai, có khả năng nổi và chịu nước tốt.
Ngày nay, để hạn chế việc chặt cây rừng và bảo vệ hệ sinh thái Vườn quốc gia Ba Bể, người dân dần chuyển sang dùng xuồng sắt. Thiết kế xuồng thuôn dài, bề ngang hẹp, dẹt và không có mui.
Nghe đàn tính giữa núi rừng
Đàn tính (hay tính tẩu) là nhạc cụ gắn liền với nghệ thuật hát Then của người Tày ở vùng hồ Ba Bể. Đàn truyền thống có thân làm từ quả bầu khô và cần dài bằng gỗ, mang biểu tượng văn hóa của cộng đồng địa phương.
Đàn tính không vang lên đơn độc mà song hành cùng hát Then, một hình thức diễn xướng dân gian tín ngưỡng của đồng bào Tày, Nùng, Thái. Thực hành Then đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2019.
Trong quan niệm của người Tày, hát Then - đàn tính là cách để giao tiếp với thần linh, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, và cũng là lời tự tình, giao duyên trong cuộc sống đời thường.
Nghe đàn tính giữa núi rừng
Đàn tính (hay tính tẩu) là nhạc cụ gắn liền với nghệ thuật hát Then của người Tày ở vùng hồ Ba Bể. Đàn truyền thống có thân làm từ quả bầu khô và cần dài bằng gỗ, mang biểu tượng văn hóa của cộng đồng địa phương.
Đàn tính không vang lên đơn độc mà song hành cùng hát Then, một hình thức diễn xướng dân gian tín ngưỡng của đồng bào Tày, Nùng, Thái. Thực hành Then đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2019.
Trong quan niệm của người Tày, hát Then - đàn tính là cách để giao tiếp với thần linh, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, và cũng là lời tự tình, giao duyên trong cuộc sống đời thường.
Thu hái chè cổ thụ
Không giống hái chè tại các luống canh tác thấp ngang hông ở vùng Tân Cương, người dân ở vùng chè Bằng Phúc sẽ phải trèo lên cây, hái chè cổ thụ (thường là dòng chè shan hoặc chè rừng). Những thân chè này là cây gỗ lớn, cành vươn cao và phủ rêu mốc, đòi hỏi người hái phải trực tiếp bám cành, leo lên ngọn để thu hoạch những búp chè non.
Du khách trải nghiệm hái chè cổ thụ cùng các thiếu nữ Tày ở xã Đồng Phúc, sau đó xem người bản địa chế biến.
Vùng chè Bằng Phúc được vinh danh là vùng chè thứ 5 của tỉnh Thái Nguyên vào tháng 12/2025.
Vùng đất này sở hữu quần thể chè shan tuyết cổ thụ sinh trưởng tự nhiên trên các triền núi cao, quanh năm mây phủ. Toàn xã hiện có hơn 700 cây chè cổ thụ, nhiều cây có tuổi đời từ 100 đến 300 năm. Đặc biệt, 12 "cụ chè" tại đây đã được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) cấp bằng công nhận Cây Di sản Việt Nam vào tháng 12/2025.
Thu hái chè cổ thụ
Không giống hái chè tại các luống canh tác thấp ngang hông ở vùng Tân Cương, người dân ở vùng chè Bằng Phúc sẽ phải trèo lên cây, hái chè cổ thụ (thường là dòng chè shan hoặc chè rừng). Những thân chè này là cây gỗ lớn, cành vươn cao và phủ rêu mốc, đòi hỏi người hái phải trực tiếp bám cành, leo lên ngọn để thu hoạch những búp chè non.
Du khách trải nghiệm hái chè cổ thụ cùng các thiếu nữ Tày ở xã Đồng Phúc, sau đó xem người bản địa chế biến.
Vùng chè Bằng Phúc được vinh danh là vùng chè thứ 5 của tỉnh Thái Nguyên vào tháng 12/2025.
Vùng đất này sở hữu quần thể chè shan tuyết cổ thụ sinh trưởng tự nhiên trên các triền núi cao, quanh năm mây phủ. Toàn xã hiện có hơn 700 cây chè cổ thụ, nhiều cây có tuổi đời từ 100 đến 300 năm. Đặc biệt, 12 "cụ chè" tại đây đã được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) cấp bằng công nhận Cây Di sản Việt Nam vào tháng 12/2025.
Xem người Tày se sợi bên khung cửi
Bé gái trong trang phục áo chàm và vòng cổ bạc đặc trưng của người Tày, Nùng, đang se sợi trước hiên một ngôi nhà sàn bằng gỗ truyền thống.
Quay sợi (se sợi) thủ công là một công đoạn cốt lõi trong nghề dệt vải và nhuộm chàm truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Tại Thái Nguyên, trải nghiệm này không chỉ là một lát cắt sinh hoạt mà còn là một di sản văn hóa.
Nhiếp ảnh gia Hải An cho biết từng nghe câu chuyện người Tày đánh giá sự khéo léo của người con gái trong nhà, đó là nghe tiếng khung cửi. "Một cô gái dệt đều tay, chắc nhịp, không rối sợi là người đủ kiên nhẫn, tinh tế để vun vén gia đình", anh nói.
Xem người Tày se sợi bên khung cửi
Bé gái trong trang phục áo chàm và vòng cổ bạc đặc trưng của người Tày, Nùng, đang se sợi trước hiên một ngôi nhà sàn bằng gỗ truyền thống.
Quay sợi (se sợi) thủ công là một công đoạn cốt lõi trong nghề dệt vải và nhuộm chàm truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Tại Thái Nguyên, trải nghiệm này không chỉ là một lát cắt sinh hoạt mà còn là một di sản văn hóa.
Nhiếp ảnh gia Hải An cho biết từng nghe câu chuyện người Tày đánh giá sự khéo léo của người con gái trong nhà, đó là nghe tiếng khung cửi. "Một cô gái dệt đều tay, chắc nhịp, không rối sợi là người đủ kiên nhẫn, tinh tế để vun vén gia đình", anh nói.
Thưởng thức bánh tro của người Tày
Bánh tro là món bánh truyền thống của người Tày. Để làm bánh, gạo được ngâm trong nước tro lọc từ tro của một số loại cây rừng hoặc cây nông nghiệp. Bánh thường được gói bằng lá dong hoặc lá chuối thành hình chóp nhỏ. Khi bóc ra, bánh có màu vàng nâu nhạt, nếp kết dính, ăn kèm mật mía.
Thưởng thức bánh tro của người Tày
Bánh tro là món bánh truyền thống của người Tày. Để làm bánh, gạo được ngâm trong nước tro lọc từ tro của một số loại cây rừng hoặc cây nông nghiệp. Bánh thường được gói bằng lá dong hoặc lá chuối thành hình chóp nhỏ. Khi bóc ra, bánh có màu vàng nâu nhạt, nếp kết dính, ăn kèm mật mía.