Khoảng 17h40 ngày 25/4, khi chuẩn bị đến bệnh viện làm ca trực, BSCKI Lê Quang Huy (Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Đà Nẵng) nghe tiếng hô hoán có người bất tỉnh tại sân pickleball đối diện nhà.
Tiếp cận hiện trường, bác sĩ Huy ghi nhận người đàn ông ngoài 50 tuổi đã mất ý thức, toàn thân tím tái, sùi bọt mép, mạch khó bắt và thở nhanh yếu. Nhận định nạn nhân bị ngưng tuần hoàn, bác sĩ lập tức khai thông đường thở và thực hiện hồi sinh tim phổi (CPR) bằng cách ép tim ngoài lồng ngực.
Sau hơn 5 phút ép tim liên tục, bệnh nhân bắt đầu có nhịp tim trở lại, mạch rõ hơn và dần hồi phục ý thức. Ngay sau đó, lực lượng cấp cứu 115 đã có mặt để chuyển người bệnh đến bệnh viện tiếp tục điều trị.
Ngày 26/4, sức khỏe bệnh nhân đã ổn định và được xuất viện.
TS. BS Lê Đức Nhân, Giám đốc Bệnh viện Đà Nẵng, đánh giá đây là trường hợp điển hình cho thấy vai trò sống còn của sơ cứu ban đầu. “Trong cấp cứu ngưng tuần hoàn, từng phút đều có ý nghĩa quyết định. Nếu người bệnh được thực hiện hồi sinh tim phổi đúng kỹ thuật ngay tại hiện trường, cơ hội cứu sống sẽ tăng lên đáng kể”, ông Nhân nói.
Lãnh đạo bệnh viện cho biết đơn vị thường xuyên tập huấn kỹ năng này cho nhân viên y tế và nỗ lực lan tỏa các kỹ năng sơ cấp cứu thiết yếu ra cộng đồng để ứng phó với các tình huống khẩn cấp tương tự.
Tin Gốc: Vnexpress

Trả lời:
Leo cầu thang là bài tập dễ lồng ghép vào sinh hoạt hàng ngày, mang nhiều lợi ích như tiêu hao năng lượng, kiểm soát đường huyết, duy trì cân nặng, tăng cường sức cơ vùng lưng hông và đùi...
Tuy nhiên, giống như mọi hoạt động thể lực khác, leo cầu thang chỉ phát huy tác dụng khi phù hợp với thể trạng. Nếu áp dụng sai cách hoặc quá sức, thói quen này có thể phản tác dụng, gây hại cho hệ xương khớp và sức khỏe.
Khớp gối là khớp lớn nhất và phải "gánh vác" trọng trách nặng nề nhất của cơ thể. Trong suốt cuộc đời, trung bình một người đi bộ khoảng 160.000-200.000 km. Khớp gối luôn tiềm ẩn nguy cơ tổn thương đầu tiên nếu gặp chấn thương, mắc bệnh lý cơ xương khớp hoặc phải vận động sai cách, quá tải kéo dài.
Khi bước lên hoặc xuống cầu thang, các mặt khớp sẽ tạo ra lực ma sát rất lớn. Đồng thời, áp lực đè nén lên vùng xương dưới sụn, sụn chêm và làm kéo căng hệ thống dây chằng theo nhiều hướng. Do đó, việc leo cầu thang tốt hay hại phụ thuộc hoàn toàn vào cấu trúc cơ thể và tình trạng khớp gối của mỗi người.
Với người khỏe mạnh, chỉ số khối cơ thể (BMI) bình thường, không có cảm giác đau mỏi và kết quả X-quang khớp gối tốt, bạn có thể thoải mái leo cầu thang để rèn luyện sức khỏe.
Nếu bạn thừa cân, béo phì, có cấu trúc chân vòng kiềng hoặc chân chữ X, kết quả X-quang cho thấy khe khớp hẹp hơn so với độ tuổi, cần hạn chế leo cầu thang. Chỉ nên thực hiện khi bất khả kháng (như phải di chuyển lên phòng ngủ) để phòng ngừa thoái hóa khớp gối sớm.
Với người đã thoái hóa khớp gối ở mức độ trung bình hoặc nặng, tuyệt đối không nên leo lên xuống cầu thang nhiều lần trong ngày. Việc này không chỉ đẩy nhanh tốc độ thoái hóa mà còn làm tăng nguy cơ té ngã, gây chấn thương nguy hiểm.
Theo các tài liệu chuyên ngành chấn thương chỉnh hình và vật lý trị liệu, một bệnh nhân thoái hóa khớp gối chỉ nên đi bộ (bao gồm cả sinh hoạt cá nhân và tập luyện) khoảng 3.000-6.000 bước mỗi ngày, tương đương 2-4 km.
Tốt nhất, khi gặp vấn đề về khớp gối hoặc dự định bắt đầu một thói quen tập luyện mới, nên gặp bác sĩ chuyên khoa để được đánh giá, thiết kế lộ trình vận động an toàn, phù hợp nhất với bản thân.
BS.CK2 Trần Chí KhôiKhoa Chi dưới, Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TP HCM
Nguồn: https://vnexpress.net/co-phai-leo-thang-bo-se-nhanh-hong-khop-goi-5053412.html

Vi khuẩn này lây truyền qua đường miệng - miệng là chủ yếu, trong khi người Việt Nam còn thói quen khá phổ biến dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung và gắp thức ăn cho người khác, chấm chung một chén nước chấm, uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…
Vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori) dân gian gọi là HP, sống ở phần sâu lớp nhầy bao phủ niêm mạc dạ dày, và ở các vùng nối giữa các tế bào này.
Trong các nghiên cứu được công bố gần đây, khoảng một nửa dân số trên thế giới bị nhiễm vi khuẩn H. pylori nhưng hầu hết không có biểu hiện triệu chứng, trong số này chỉ có khoảng 1-2% dân số bị nhiễm sẽ tiến triển thành ung thư dạ dày.
Tại Việt Nam, tỉ lệ người nhiễm H. pylori ở các lứa tuổi khác nhau còn rất cao, trên 80%. Nếu cha mẹ bị nhiễm H. pylori, các con có tỉ lệ nhiễm trên 90%, riêng trẻ < 8 tuổi là 98,6%.
Những thói quen ăn uống chưa đúng của chúng ta làm tăng nguy cơ lây nhiễm như dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung, chấm chung một chén nước chấm, dùng đũa/muỗng đang ăn trong miệng của mình để gắp/lấy thức ăn cho người khác; uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…Các thói quen khác như nhai cơm nát đút cho con ăn, dùng nước bọt đếm tiền, lật xem tài liệu... cũng làm tăng nguy cơ nhiễm H. pylori.Nhiễm H. pylori được coi là nguyên nhân chính gây viêm dạ dày, loét dạ dày, loét tá tràng và bệnh ác tính ở dạ dày bao gồm: ung thư dạ dày, và u lymphoma.Các yếu tố nguy cơ khác như tình trạng viêm teo niêm mạc dạ dày, viêm teo kèm dị sản ruột (chuyển sản ruột), loạn sản (nghịch sản) có thể được coi là thương tổn tiền ung thư dạ dày.Giả thuyết về nguyên nhân sinh bệnh ung thư dạ dày là sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó có vai trò của vi khuẩn H. pylori cùng với các thương tổn tiền ung thư, yếu tố môi trường, chế độ ăn có chứa các chất sinh ung, các đột biến gene…Các yếu tố nguy cơ được chia thành 4 nhóm khác nhau, bao gồm: môi trường, chế độ ăn uống - dinh dưỡng, tại chỗ và di truyền.Liên quan đến chế độ ăn uống và môi trường: thói quen ăn mặn, ăn nhiều thực phẩm như thịt, cá hun khói chứa hàm lượng nitrate cao, nguồn nước không sạch, hút thuốc lá... đều làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh.Các yếu tố tại chỗ “đóng vai trò quan trọng”, đặc biệt là nhiễm vi khuẩn H. pylori, cùng với các tình trạng bệnh mạn tính như viêm, viêm teo niêm mạc dạ dày, dị sản ruột, loạn sản, polyp tuyến dạ dày kích thước lớn hơn 2cm, hoặc tiền sử cắt dạ dày trên 15-20 năm. Nam có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với nữ.Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình có nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn khoảng ba lần, và tỉ lệ ung thư dạ dày có tiền sử gia đình ở các nước châu Á cao hơn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bệnh viêm dạ dày phì đại, polyp tuyến dạ dày lớn hơn 2cm có nguy cơ ung thư từ 10 - 20%.Liên quan giữa ung thư dạ dày và các gene bao gồm sự kích hoạt các gene sinh ung thư và đột biến gây bất hoạt các gene áp chế ung thư có vai trò quan trọng, và có liên quan đến việc biến đổi gene ở người. Vi khuẩn H. pylori gây nhiều bệnh ở dạ dày, lây chủ yếu qua đường ăn uống và hiện chưa có vắc xin phòng ngừa, nên phát hiện và điều trị sớm là cần thiết.Theo các đồng thuận thế giới và Việt Nam năm 2024, cũng như tại Hội nghị đồng thuận châu Á - Thái Bình Dương từ năm 2009 đưa ra ba chỉ định điều trị H. pylori liên quan đến ung thư dạ dày gồm: tầm soát và điều trị tiệt trừ H. pylori trong cộng đồng có tần suất ung thư dạ dày cao, tiền sử gia đình có người bị ung thư dạ dày, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Nhiễm H. pylori không triệu chứng hiện nay cũng cần điều trị do liên quan đến ung thư dạ dày, nhất là người sống ở vùng dịch tễ nhiễm H. pylori, tỉ lệ ung thư dạ dày cao hoặc gia đình có người ung thư dạ dày…Những người bệnh bắt buộc phải điều trị gồm: viêm dạ dày do nhiễm H. pylori, loét dạ dày - tá tràng do nhiễm H. pylori, sau điều trị các biến chứng của bệnh loét như thủng và chảy máu, u limphoma (MALTs), ung thư dạ dày, gia đình cùng huyết thống có người bị ung thư dạ dày nhiễm H. pylori, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Về điều trị, các phương pháp tiệt trừ H. pylori được đánh giá có hiệu quả và được khuyến cáo chỉ khi đạt tỉ lệ tiệt trừ thành công tối thiểu là 80% (theo ý định điều trị). Để đảm bảo hiệu quả điều trị, cần tuân theo các phác đồ đã được khuyến cáo, uống đủ liều, bác sĩ giải thích tác dụng phụ của thuốc... Sau điều trị kiểm tra lại bằng hơi thở hoặc nội soi dạ dày.Trong trường hợp uống thuốc nhưng không tiệt trừ được vi khuẩn (có thể do uống không đủ liều, cách uống khó khăn, tác dụng phụ của thuốc...), trong đó nguy cơ kháng các thuốc kháng sinh là quan trọng nhất.Về tình trạng tái nhiễm sau khi điều trị sạch vi khuẩn, một thời gian sau người bệnh đau bụng, đầy hơi thì cần kiểm tra nhiễm lại H. pylori. Nguyên nhân thường do tiếp tục ăn uống chung, nhai cơm mớm cho con, dùng tay thấm nước bọt khi đếm tiền hoặc lật tài liệu…Ngoài ra, những người làm nghề đặc thù như bác sĩ nội soi, nha sĩ... cũng có nguy cơ nhiễm và tái nhiễm H. pylori cao hơn do thường xuyên tiếp xúc với mầm bệnh.Tin Gốc: Tuổi TrẻSức Khỏe
Hành trình đề cử 'Đại sứ truyền thông ngành y - KMOLs' sẵn sàng vinh danh vào tháng 5

Hành trình đề cử 'Đại sứ truyền thông ngành y - KMOLs' sẵn sàng vinh danh vào tháng 5

