Theo Bộ Y tế, trong gần 3 tháng đầu năm 2026, cả nước ghi nhận 25.094 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (4 ca tử vong). Trong đó riêng khu vực phía Nam ghi nhận 18.031 trường hợp (chiếm 71,9% số mắc cả nước).
Số trường hợp mắc bệnh tay chân miệng chủ yếu gặp ở nhóm trẻ từ 1-5 tuổi (chiếm 92,7%). Số bệnh nhi đến khám, điều trị tại các cơ sở khám, chữa bệnh, nhất là tại các bệnh viện nhi tuyến cuối ở phía Nam như Bệnh viện Nhi đồng 1, Nhi đồng 2, Nhi đồng thành phố, Bệnh nhiệt đới thành phố và các bệnh viện chuyên khoa nhi, chuyên khoa sản nhi các tỉnh tăng nhanh.
Trong đó có nhiều ca nặng, đặc biệt các kết quả xét nghiệm cho thấy sự lưu hành của chủng Enterovirus 71 (EV71), tác nhân có độc lực cao, có khả năng gây biến chứng thần kinh nặng, diễn tiến nhanh, làm gia tăng nguy cơ tử vong.
Nhằm tăng cường công tác truyền thông, khám, phân loại, thu dung, điều trị và kiểm soát lây nhiễm bệnh tay chân miệng trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở y tế, sở y tế các địa phương xây dựng, rà soát, cập nhật kế hoạch phòng, chống bệnh tay chân miệng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với diễn biến tình hình bệnh.
Trong đó, các đơn vị chuẩn bị sẵn sàng các phương án tổ chức khám, thu dung, cấp cứu, cách ly, điều trị trong tình huống gia tăng các trường hợp bệnh nhi nghi mắc tay chân miệng, bệnh nhi tay chân miệng đến khám bệnh và nhập viện.
Đồng thời, tăng cường công tác truyền thông trực tiếp và gián tiếp để người nhà người bệnh, nhân viên y tế, học viên, sinh viên… hiểu rõ về bệnh tay chân miệng: tác nhân gây bệnh, đường lây truyền, lứa tuổi thường gặp, biểu hiện chính, biến chứng, phòng bệnh…
Đối với công tác khám bệnh, thu dung, điều trị, Bộ Y tế đề nghị các đơn vị chủ động bảo đảm cơ sở vật chất, nhân lực, thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế tại cơ sở khám, chữa bệnh theo Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh tay chân miệng, bảo đảm sẵn sàng tiếp nhận và điều trị bệnh.
Tổ chức tập huấn Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh tay chân miệng, nâng cao năng lực cho các nhân viên y tế tham gia khám, điều trị bệnh tay chân miệng.
Nhất là việc phát hiện sớm các biểu hiện của bệnh và các dấu hiệu nặng của bệnh tay chân miệng, đặc biệt tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp ban đầu và cấp cơ bản.
Tăng cường năng lực cấp cứu, điều trị tại chỗ. Đối với các bệnh viện đa khoa, bệnh viện nhi, bệnh viện sản nhi, bệnh viện bệnh nhiệt đới các tỉnh, thành phố củng cố năng lực chuyên môn về hồi sức tích cực, chuẩn bị thuốc, vật tư, thiết bị điều trị bệnh nhân nặng, thực hiện chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi vượt quá năng lực chuyên môn. Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở y tế dự phòng trong công tác giám sát dịch tễ.
Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, hỗ trợ việc tuân thủ các quy định, quy trình về kiểm soát nhiễm khuẩn, xử lý rác thải của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đúng quy định, giảm thiểu tối đa lây nhiễm chéo, không để xảy ra các ổ dịch trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Nỗi lo này càng tăng lên khi được giải thích rằng đây là các thương tổn tiền ung thư dạ dày.
Tuổi Trẻ Online xin giới thiệu ý kiến của GS.TS Trần Thiện Trung về mối liên quan và cách phòng bệnh.
Viêm dạ dày do nhiễm vi khuẩn H. pylori có thể đưa đến viêm teo niêm mạc, dị sản ruột, loạn sản.
Đây là yếu tố nguy cơ quan trọng của ung thư dạ dày, đặc biệt là ở những chủng H. pylori có biểu hiện với gene cagA và vacA-dương tính, trong đó gene vacA m1 có liên quan đến mức độ biệt hóa của ung thư, đến viêm teo niêm mạc và dị sản ruột trên người bệnh Việt Nam ở khu vực phía Nam và TP.HCM.
Vi khuẩn H. pylori được Robin Warren và Barry Marshall tìm ra tại Perth, phía Tây Úc vào tháng 4-1982, kể từ đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vi khuẩn này gây bệnh trên người.
Ngày 3-10-2005, sau 23 năm phát hiện vi khuẩn H. pylori, hai giáo sư người Úc là Robin Warren và Barry Marshall được trao giải Nobel Y học và Sinh lý học vì đã có những khám phá to lớn cho khoa học về vi khuẩn H. pylori gây bệnh viêm dạ dày, loét dạ dày - tá tràng và ung thư dạ dày.
Năm 1994, Tổ chức Quốc tế nghiên cứu về ung thư (IARC: International Agency for Research on Cancer), và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xếp H. pylori là nguyên nhân hàng đầu hay là nhóm 1 gây ung thư biểu mô tuyến dạ dày.
Theo phân loại viêm dạ dày của hệ thống Sydney (1990) và Sydney cập nhật (1994) tại Houston, Texas, Hoa Kỳ, cập nhật các tiêu chuẩn về sự phân chia các mức độ và các thương tổn của viêm dạ dày có hoặc không kèm theo viêm teo niêm mạc cũng như các thương tổn “tiền ung thư” khác như: dị sản ruột/chuyển sản ruột (intestinal metaplasia) và loạn sản/nghịch sản (dysplasia).
Các thương tổn trên được coi là tiền ung thư nhưng không phải tất cả đều gây bệnh ung thư dạ dày. Trên thế giới, liên quan giữa bệnh nhân có dị sản ruột hay chuyển sản thì nguy cơ ung thư dạ dày sẽ tăng lên gấp 6 -10 lần. Tại Việt Nam, tỉ lệ này là 5,3 lần.
Về chẩn đoán các thương tổn tiền ung thư dạ dày cần phải dựa trên mô bệnh học niêm mạc dạ dày (giải phẫu bệnh), nội soi chỉ có tính gợi ý quan sát. Vì vậy ghi chẩn đoán các thương tổn trên ở đơn thuốc ngay sau khi nội soi dạ dày là chưa chính xác, điều đó làm cho người bệnh thêm lo lắng, hoang mang.
Điều trị tiệt trừ H. pylori thành công có thể ngăn ngừa được sự tiến triển thành ung thư dạ dày, các thương tổn viêm teo niêm mạc, tiền ung thư đều giảm, và có khả năng phục hồi bình thường của niêm mạc dạ dày.
Tuy nhiên đối với ung thư dạ dày, một vấn đề quan trọng đặt ra cho đến nay là còn chưa biết rõ tiến trình viêm teo niêm mạc - dị sản ruột - loạn sản - ung thư dạ dày xảy ra khi nào, vào thời điểm nào, và sau khi điều trị tiệt trừ H. pylori thì có thay đổi, đảo ngược được tiến trình này hay không? Có thể phòng ngừa hoàn toàn được ung thư dạ dày hay không?
Vì vậy cần có những nghiên cứu tiếp tục theo nhiều hướng khác nhau, và người bệnh cần phải được theo dõi lâu dài để làm sáng tỏ thời điểm, nguồn gốc phát sinh cũng như các điều kiện để viêm dạ dày tiến triển thành các thương tổn tiền ung thư và ung thư dạ dày như đã được biết đến trong những nghiên cứu của các thập kỷ qua.
Cách ăn uống đúng cách có vai trò quan trọng trong phòng bệnh, vì phòng bệnh hiệu quả hơn chữa bệnh. Với các bệnh dạ dày, mục tiêu chữa trị không chỉ là hết triệu chứng mà còn giúp người bệnh ăn uống trở lại bình thường.
Để làm được điều này, mỗi gia đình từ ông bà, cha mẹ đến con cháu cần biết và quyết tâm thay đổi thói quen ăn uống. Vì dùng đũa, muỗng (thìa) của mình đang ăn để lấy/gắp thức ăn chung hoặc lấy thức ăn cho người khác, uống chung... là nguồn lây bệnh chủ yếu.
Tùy điều kiện sinh hoạt, có thể áp dụng cách ăn uống phù hợp nhằm hạn chế nguy cơ lây nhiễm và tái nhiễm vi khuẩn H. pylori.
- Cách thứ nhất: Dọn mỗi người một phần ăn riêng hoặc một khay ăn riêng như ở Pháp, Nhật Bản..., và gần đây đang được áp dụng tại Việt Nam.
- Cách thứ hai: Ngồi ăn chung, mỗi người một chén nước chấm riêng, mỗi món ăn có muỗng chung, đũa chung để lấy thức ăn, không dùng đũa/muỗng mình đang ăn gắp/lấy thức ăn.
- Cách thứ ba: Cách ăn ở một số nơi là dùng đũa gắp/lấy thức ăn chung, và dùng muỗng/thìa của mình để ăn.
- Cách thứ tư: Cách ăn dọn từng món của người Pháp và các nước tiên tiến gần đây được dùng trong các nhà hàng Việt Nam.
- Cách thứ năm: Khi ăn chung, gắp thức ăn chung, phải trở đầu đũa hay còn gọi là “ăn đũa hai đầu”.
Bên cạnh đó, sinh hoạt ăn uống điều độ, đúng giờ. Ăn uống đủ chất dinh dưỡng, thức ăn rau sống rửa không sạch, nên nấu chín. Ăn nhiều rau xanh, trái cây, hạn chế ăn mặn, thịt cá ướp muối, hun khói, thực phẩm được bảo quản bằng nitrat…
Trong khi điều trị ở giai đoạn viêm dạ dày cấp, có thể hạn chế các thức ăn cay, chua. Sau điều trị cần cho người bệnh ăn uống bình thường.
Omega-3 là nhóm chất béo gồm ba dạng chính là EPA, DHA (chủ yếu từ cá) và ALA (từ thực vật). Đây là những thành phần quan trọng của màng tế bào, đồng thời tham gia điều hòa nhiều hoạt động trong cơ thể như lưu thông máu, phản ứng viêm và chức năng thần kinh. Bổ sung đủ omega-3 có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và hỗ trợ sức khỏe não bộ.
Do cơ thể không thể tự sản xuất nên việc bổ sung qua thực phẩm hàng ngày là cần thiết. Dưới đây là những thực phẩm giàu omega-3 quen thuộc.
Cá thu
Cá thu là một trong những nguồn chứa omega-3 dồi dào nhất, đặc biệt giàu EPA và DHA. Loại cá này còn cung cấp lượng lớn vitamin B12, selen, hỗ trợ hệ thần kinh, chống oxy hóa. Cá thu có thể chế biến đơn giản như nướng, kho hoặc áp chảo, phù hợp với khẩu vị người Việt.
Cá hồi
Cá hồi từ lâu được xem là thực phẩm tốt cho tim mạch và não bộ. Ngoài omega-3, cá hồi còn chứa protein chất lượng cao, vitamin D cùng nhiều khoáng chất cần thiết. Ăn cá hồi đều đặn có thể giảm viêm, hỗ trợ trí nhớ đồng thời cải thiện sức khỏe tổng thể.
Cá mòi đóng hộp tiện lợi, có thể ăn cả xương, giúp bổ sung thêm canxi. Đây là loại cá nhỏ nhưng giàu omega-3, cung cấp cả vitamin D và B12. Cá mòi có thể dùng trực tiếp hoặc chế biến cùng salad, bánh mì.
Cá trích
Cá trích là loại cá béo có hàm lượng omega-3 cao, đồng thời giàu chất chống oxy hóa, khoáng chất. Ăn loại cá này thường xuyên hỗ trợ tim mạch, giảm viêm. Cá trích có thể được chế biến theo nhiều cách như nướng, chiên hoặc làm gỏi.
Hàu
Hàu không chỉ chứa omega-3 mà còn rất giàu kẽm, vitamin B12 và các khoáng chất thiết yếu. Đây là thực phẩm tốt cho hệ miễn dịch, sức khỏe tổng thể. Có thể ăn sống hàu, nướng hoặc chế biến thành nhiều món ăn quen thuộc.
Hạt chia
Hạt chia là nguồn omega-3 thực vật (ALA) phổ biến, đồng thời giàu chất xơ, protein. Khi ngâm nước, hạt chia tạo thành dạng gel giúp hỗ trợ tiêu hóa. Để ăn hạt chia, bạn có thể thêm vào sữa chua, sinh tố hoặc các món tráng miệng.
Hạt lanh
Hạt lanh chứa hàm lượng ALA cao, rất phù hợp với người ăn chay. Tuy nhiên, lớp vỏ cứng khiến cơ thể khó hấp thu, vì vậy nên xay nhỏ trước khi sử dụng. Trộn vào cháo, sữa hoặc bánh để tận dụng lợi ích dinh dưỡng của hạt này.
Quả óc chó
Quả óc chó hạt giàu omega-3 và chất chống oxy hóa, đặc biệt tốt cho não bộ. Hình dáng giống não bộ của loại hạt này thường được liên tưởng đến lợi ích tăng cường trí nhớ. Hạt óc chó ăn trực tiếp hoặc kết hợp trong các món ăn nhẹ như salad, sữa chua đều bổ dưỡng.
Đậu nành
Đậu nành và các sản phẩm từ đậu nành như đậu phụ, sữa đậu nành cung cấp một lượng omega-3 nhất định. Đây còn là nguồn protein thực vật quan trọng, phù hợp với chế độ ăn lành mạnh. Đậu nành dễ chế biến và phổ biến trong bữa ăn hàng ngày.
EPA và DHA từ cá là dạng omega-3 cơ thể hấp thu tốt nhất, trong khi ALA từ thực vật cần chuyển hóa nên hiệu quả thấp hơn. Vì vậy, nên kết hợp cả nguồn động vật và thực vật để đảm bảo nhu cầu. Trong trường hợp không ăn cá, có thể cân nhắc bổ sung từ tảo biển - nguồn omega-3 thực vật chứa trực tiếp EPA và DHA.
Chiều 12/6, Công an TPHCM phối hợp với Công an phường Thủ Đức khám nghiệm hiện trường, điều tra nguyên nhân vụ người đàn ông tử vong tại khu chòi tạm bên góc đường số 1 và đường Nguyễn Văn Bá.
Theo thông tin ban đầu, đầu giờ chiều cùng ngày, người dân phát hiện một người đàn ông tử vong tại khu đất ở góc đường số 1 và đường Nguyễn Văn Bá, nên trình báo cơ quan chức năng.
Tại hiện trường, nạn nhân nằm úp mặt, phần đầu vắt lên chiếc võng. Khu vực xảy ra vụ việc ở dưới một gốc cây cổ thụ, nơi nạn nhân dựng chòi tạm để sinh sống. Theo người dân địa phương, nạn nhân thường được gọi là Hiếu, hơn 40 tuổi, chưa rõ quê quán.
Thi thể nạn nhân sau đó được chuyển về nhà xác để phục vụ công tác khám nghiệm tử thi, xác định nguyên nhân tử vong và danh tính.