Các bác sĩ khoa sản – kế hoạch hóa gia đình, Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An vừa thực hiện thành công thủ thuật lấy vòng tránh thai lạc chỗ cho bệnh nhân C.T.N. (64 tuổi, trú tại xã Đức Châu, Nghệ An). Đáng chú ý, chiếc vòng đã được đặt cách đây 25 năm nhưng không được kiểm tra định kỳ.
Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng đau bụng và ra máu âm đạo kéo dài. Qua thăm khám và siêu âm, các bác sĩ phát hiện chiếc vòng tránh thai bằng đồng hình chữ T đã lệch hoàn toàn khỏi buồng tử cung, đâm sâu khoảng 3mm vào lớp cơ tử cung.
Trước đó bệnh nhân đã hai lần can thiệp lấy vòng tại cơ sở y tế tuyến dưới, nhưng không thành công do vị trí vòng khó tiếp cận.
Nhận định đây là trường hợp khó, các bác sĩ khoa sản – kế hoạch hóa gia đình đã hội chẩn và chuẩn bị phương án xử trí phù hợp. Trong quá trình thực hiện, bệnh nhân được hỗ trợ giảm đau và động viên tinh thần. Ê kíp bác sĩ sử dụng siêu âm ngay tại phòng thủ thuật để xác định chính xác vị trí vòng tránh thai, từ đó định hướng thao tác lấy vòng an toàn.
Sau khi tiếp cận đúng vị trí, chiếc vòng tránh thai đã được lấy ra thành công qua đường âm đạo. Thủ thuật diễn ra thuận lợi, không ghi nhận chảy máu hay biến chứng. Sau can thiệp, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân ổn định và được xuất viện vào hôm sau.
Theo bác sĩ Trần Văn Bảo – Trưởng khoa sản – kế hoạch hóa gia đình, vòng tránh thai là biện pháp tránh thai hiệu quả và an toàn nếu được theo dõi đúng cách. Tuy nhiên nếu để quá lâu hoặc không kiểm tra định kỳ, vòng có thể bị lệch vị trí, xuyên vào cơ tử cung hoặc các cơ quan lân cận, gây ảnh hưởng đến sức khỏe.
TS Lê Huy Ngọc – Phó trưởng khoa ngoại tiết niệu, Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An – cho biết tỉ lệ vòng thai hiếm khi lạc vào ổ bụng hay bàng quang. Một năm có 1-3 ca trường hợp bị vòng tránh thai lạc đâm xuyên vào bàng quang tạo sỏi.
Bác sĩ Lâm Hoàng Duy, Trung tâm Sản phụ khoa Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, cho biết vòng tránh thai có thời hạn sử dụng 5-10 năm tùy loại. Biến chứng vòng tránh thai đâm thủng tử cung, đi lạc vào ổ bụng ít gặp, phần lớn do phụ nữ ngừa thai nhưng quên không tháo ra. Vòng quá hạn 20-40 năm dễ gây biến chứng.
Tuy nhiên có những trường hợp vòng tránh thai chưa hết hạn sử dụng nhưng biến chứng xuyên tử cung đi vào bụng. Như trường hợp người phụ nữ 25 tuổi đi khám vì đau bụng âm ỉ, tiểu buốt một tháng. Kết quả, bất ngờ phát hiện vòng tránh thai xuyên qua tử cung và chui vào ổ bụng, nằm sát trên đáy bàng quang.
“Nguyên nhân có thể do bệnh nhân đã đặt vòng sau hai tháng sinh con là quá sớm”, bác sĩ Duy nói. Lúc này cơ tử cung còn khá mềm, nhão, thành tử cung mỏng và kích thước buồng tử cung lớn hơn bình thường làm tăng nguy cơ vòng bị di chuyển, tụt thấp hoặc dễ dàng đâm xuyên qua lớp cơ tử cung.
Bác sĩ Duy khuyến cáo sau sinh con khoảng 4-6 tháng mới nên đặt vòng ngừa thai. Tử cung co bóp hoặc do hoạt động thường ngày, tạo ra áp lực, có thể đẩy chiếc vòng đâm xuyên qua thành tử cung.
Vòng tránh thai sau đó có thể di chuyển tự do trong ổ bụng, gây tổn thương ruột, mạc nối. Trường hợp của bệnh nhân một đầu vòng cắm vào tử cung, đầu còn lại găm gần tới bàng quang, dễ gây nhiễm trùng đường tiểu, nguy cơ nhiễm trùng, rò bàng quang – tử cung nếu không được xử lý kịp thời. Các bác sĩ phẫu thuật nội soi gắp vòng tránh thai, tránh gây tổn thương cho bàng quang và các cơ quan lân cận của người bệnh.
Các chuyên gia nhấn mạnh đặt vòng là phương pháp tránh thai an toàn, hiệu quả, song vẫn có một số trường hợp y văn thế giới ghi nhận biến chứng nghiêm trọng như xuyên vào ruột, bàng quang, vùng khác ở bụng, tĩnh mạch chậu, viêm phúc mạc, nhiễm trùng huyết. Phụ nữ cũng có thể gặp tác dụng phụ như dị ứng vòng, lệch hoặc đứt dây, nhiễm trùng.
Nhiều người có thói quen thức dậy, uống một cốc nước rồi đi bộ ngay khi chưa ăn sáng hoặc chưa uống cà phê. Với hình thức đi bộ nhẹ hoặc vừa phải, đây là lựa chọn khá phù hợp và tốt cho sức khỏe, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Đi bộ trước, uống cà phê sau cũng phù hợp với những người dạ dày dễ cồn cào nếu uống cà phê lúc bụng đói. Ngoài ra, đi bộ ngoài trời vào buổi sáng còn giúp cơ thể tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên, điều chỉnh đồng hồ sinh học và giúp tinh thần tỉnh táo hơn.
Trong khi đó, với những người thường đi bộ nhanh, đi bộ đường dài hoặc tập luyện với cường độ cao hơn, uống cà phê trước có thể mang lại một số lợi ích. Caffeine là chất kích thích hệ thần kinh trung ương, có khả năng làm giảm cảm giác mệt mỏi và cải thiện tỉnh táo.
Nhiều bằng chứng nghiên cứu cho thấy caffeine có khả năng cải thiện hiệu suất ở một số hình thức vận động sức bền và bài tập cường độ cao.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa càng uống nhiều cà phê càng tốt. Uống quá nhiều có thể khiến tim đập nhanh, bồn chồn hoặc khó chịu đường tiêu hóa. Nếu muốn thử cách này, mọi người chỉ nên uống lượng vừa phải và theo dõi phản ứng của cơ thể.
Sau khi thức dậy, cơ thể tự động tăng tiết cortisol, loại hoóc môn giúp duy trì sự tỉnh táo vào buổi sáng. Ở một số người, nạp caffeine ngay khi vừa ngủ dậy có thể ảnh hưởng đến nồng độ cortisol, có thể dẫn đến tình trạng hồi hộp, run tay, buồn nôn hoặc cảm giác mệt sau đó. Nếu gặp tình trạng này, hãy đợi khoảng 30 - 60 phút sau khi thức dậy hãy uống cà phê.
Đặc biệt, những người bị viêm dạ dày hoặc trào ngược dạ dày thực quản nên chú ý phản ứng của cơ thể. Trong trường hợp đó, đi bộ trước, ăn sáng nhẹ rồi uống cà phê sau bữa ăn sẽ là lựa chọn dễ chịu hơn, theo Healthline.
Giấc ngủ là yếu tố nền tảng đối với sức khỏe, song nhiều cuộc khám sức khỏe định kỳ hiện nay vẫn chưa chú trọng đúng mức đến các rối loạn liên quan đến giấc ngủ.
Theo một bài phân tích mới của các nhà khoa học thần kinh tại Đại học Northwestern (Mỹ), chứng ngưng thở khi ngủ hiện ảnh hưởng gần 1 tỉ người trên toàn thế giới nhưng vẫn thường xuyên không được chẩn đoán, đặc biệt ở phụ nữ và nhiều nhóm bệnh nhân khác.
Loại phổ biến nhất của căn bệnh này là ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSA), xảy ra khi đường hô hấp bị tắc nghẽn lặp đi lặp lại trong lúc ngủ.
Người bệnh có thể ngáy to, đau đầu hoặc buồn ngủ ban ngày. Tuy nhiên, nhiều trường hợp gần như không nhận ra mình đã ngừng thở hàng chục, thậm chí hàng trăm lần mỗi đêm.
Các nhà nghiên cứu cho biết mỗi lần ngưng thở thường kéo dài khoảng 20 giây và có thể xảy ra hơn 100 lần trong một giờ ngủ, theo trang ScienceAlert ngày 8-5.
Việc thiếu oxy lặp đi lặp lại khiến huyết áp và nhịp tim tăng cao, gây áp lực lớn lên hệ tim mạch. Nếu không điều trị, bệnh có thể làm tăng nguy cơ cao huyết áp, suy tim, đột quỵ và nhiều bệnh thoái hóa thần kinh như Alzheimer.
Không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, chứng ngưng thở khi ngủ còn liên quan đến suy giảm chất lượng cuộc sống, tăng nguy cơ tai nạn giao thông và kéo theo chi phí y tế lớn cho cá nhân lẫn xã hội.
Tuy vậy, căn bệnh này vẫn thường bị xem nhẹ trong các lần khám định kỳ. Theo các chuyên gia, nguyên nhân một phần đến từ định kiến lâu nay rằng người mắc bệnh chủ yếu là nam giới lớn tuổi và béo phì.
Thực tế phụ nữ mắc chứng ngưng thở khi ngủ thường có biểu hiện khác như mất ngủ, đau đầu hoặc trầm cảm - những triệu chứng không được nhấn mạnh trong nhiều công cụ sàng lọc hiện nay.
Ngoài ra, nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán và điều trị hiện nay được xây dựng chủ yếu từ nghiên cứu trên người da trắng.
Một số thiết bị đo oxy trong máu dùng để phát hiện bệnh cũng kém chính xác hơn ở người có màu da sẫm, khiến mức độ nghiêm trọng của bệnh có thể bị đánh giá thấp.
Trong 20 năm qua, việc điều trị chứng ngưng thở khi ngủ đã có nhiều tiến bộ. Phương pháp phổ biến nhất là sử dụng máy CPAP, thiết bị tạo luồng khí liên tục để giữ đường thở không bị xẹp xuống khi ngủ.
Ngoài ra còn có các thiết bị kích thích thần kinh cấy ghép, dụng cụ chỉnh hàm và các bài tập tăng cường cơ lưỡi, cổ họng.
Cuối năm 2024, Cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) cũng phê duyệt thuốc tirzepatide để hỗ trợ điều trị bệnh thông qua giảm cân.
Bước đầu tiên để điều trị hiệu quả là nhận diện bệnh sớm.
Hiện nay, nhiều xét nghiệm giấc ngủ có thể thực hiện ngay tại nhà thay vì phải nhập viện qua đêm. Theo đó, chỉ cần chủ động trao đổi với bác sĩ về tình trạng ngáy ngủ, mệt mỏi kéo dài hay khó thở khi ngủ cũng có thể giúp mở ra cơ hội chẩn đoán và cải thiện sức khỏe lâu dài.
Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature Communications đã phân tích dữ liệu di truyền của 85.965 người trưởng thành gốc châu Âu, trở thành nghiên cứu lớn nhất từ trước đến nay về mối liên hệ giữa nốt ruồi và nguy cơ ung thư hắc tố.
Các nhà khoa học không chỉ tìm hiểu vì sao mỗi người có số lượng nốt ruồi khác nhau mà còn muốn xác định liệu yếu tố di truyền đứng sau những nốt ruồi này có liên quan đến ung thư da hay không.
Kết quả cho thấy nhóm nghiên cứu đã phát hiện 29 vùng gene liên quan đến số lượng nốt ruồi, trong đó có 24 vùng gene lần đầu tiên được xác định. Đồng thời, hơn 250 gene tiềm năng cũng được cho là ảnh hưởng đến quá trình hình thành nốt ruồi.
Đáng chú ý, nhiều gene trong số này không chỉ tham gia vào quá trình tạo sắc tố da mà còn liên quan đến hệ miễn dịch, sự phát triển tế bào, phản ứng viêm và cơ chế sửa chữa ADN. Điều này cho thấy sự hình thành nốt ruồi là kết quả của nhiều quá trình sinh học phức tạp chứ không đơn thuần do tiếp xúc với ánh nắng.
Theo nhóm nghiên cứu, gần như tất cả các vùng gene làm tăng số lượng nốt ruồi cũng đồng thời liên quan đến nguy cơ mắc ung thư hắc tố da. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa cứ nhiều nốt ruồi là sẽ bị ung thư. Phần lớn nốt ruồi là lành tính và tồn tại suốt đời mà không gây vấn đề sức khỏe.
Dù vậy, những người có nhiều nốt ruồi thường được xếp vào nhóm nguy cơ cao hơn và cần theo dõi da định kỳ.
Các nhà nghiên cứu ước tính khoảng 1/3 số ca ung thư hắc tố phát triển từ nốt ruồi có sẵn, trong khi khoảng 2/3 còn lại xuất hiện trên vùng da hoàn toàn bình thường. Vì vậy, việc quan sát toàn bộ làn da quan trọng hơn là chỉ theo dõi những nốt ruồi đã có từ trước.
Một phát hiện đáng chú ý khác là nguy cơ ung thư da không chỉ phụ thuộc vào sắc tố hay mức độ tiếp xúc với tia cực tím.
Một số gene mới được phát hiện còn tham gia điều hòa hoạt động của hệ miễn dịch, ảnh hưởng đến khả năng nhận diện và loại bỏ các tế bào bất thường trước khi chúng phát triển thành ung thư.
Dựa trên kết quả này, nhóm nghiên cứu đã xây dựng một điểm nguy cơ di truyền nhằm dự đoán khả năng hình thành nhiều nốt ruồi của mỗi người.
Dù công cụ này chưa được sử dụng trong thực hành lâm sàng, các nhà khoa học kỳ vọng trong tương lai nó sẽ giúp bác sĩ kết hợp với tiền sử gia đình, màu da và mức độ tiếp xúc ánh nắng để xây dựng chương trình tầm soát ung thư da phù hợp cho từng cá nhân.
Các chuyên gia khuyến cáo người có nhiều nốt ruồi, nốt ruồi bất thường hoặc có người thân từng mắc ung thư hắc tố nên khám da định kỳ tại chuyên khoa da liễu.
Ngoài ra, mỗi người cũng nên tự kiểm tra làn da khoảng một lần mỗi tháng theo nguyên tắc ABCDE:
A (Asymmetry): Nốt ruồi không cân đối.
B (Border): Bờ không đều hoặc nham nhở.
C (Color): Màu sắc không đồng nhất hoặc có nhiều màu khác nhau.
D (Diameter): Đường kính lớn hơn khoảng 6 mm.
E (Evolution): Nốt ruồi thay đổi kích thước, màu sắc, hình dạng hoặc xuất hiện triệu chứng như ngứa, đau, chảy máu.
Bên cạnh đó, các bác sĩ cũng lưu ý dấu hiệu được gọi là "vịt con xấu xí". Nếu một nốt ruồi có hình dạng hoặc màu sắc khác hẳn tất cả những nốt còn lại trên cơ thể, người bệnh nên đi khám sớm để được đánh giá.
Đối với người Việt Nam, nguy cơ ung thư hắc tố thấp hơn so với người da trắng nhưng bệnh vẫn có thể xảy ra. Nhiều trường hợp được phát hiện muộn do người bệnh chủ quan hoặc nhầm lẫn với nốt ruồi thông thường.
Vì vậy, việc bảo vệ da khỏi tia UV bằng kem chống nắng, quần áo chống nắng, hạn chế tiếp xúc ánh nắng gay gắt và theo dõi các thay đổi bất thường trên da vẫn là những biện pháp quan trọng nhất để phòng bệnh.
Các chuyên gia nhấn mạnh rằng phát hiện sớm vẫn là yếu tố quyết định giúp nâng cao hiệu quả điều trị ung thư hắc tố và cải thiện tỷ lệ sống của người bệnh.