Cách thông dụng để nói về ngày 30/4 là “Reunification Day“, nghĩa là ngày Thống nhất. Cụm danh từ này thường đi với động từ “mark” (đánh dấu) hoặc “celebrate” (kỷ niệm).
Ví dụ: April 30 is celebrated as the Reunification Day in Vietnam (Mọi người ăn mừng ngày Thống nhất ở Việt Nam vào 30/4).
The event marked the reunification of the country (Sự kiện đánh dấu việc đất nước được thống nhất).
Một cụm từ khác là “resistance war” (kháng chiến), trong đó “resistance” có nghĩa là “kháng cự”. Để nói về chiến thắng, ta dùng “victory”.
Ví dụ: The victory brought an end to the long resistance war (Chiến thắng đã chấm dứt cuộc kháng chiến kéo dài).
Khi muốn nói về những sự kiện bước ngoặt, mang tầm quan trọng trong lịch sử, người Anh dùng cụm “historic event“. Cần chú ý phân biệt từ “historic” với “historical” (có nghĩa là có liên quan tới lịch sử).
Ví dụ: This was a historic event in the nation’s history (Đây là một sự kiện mang tính bước ngoặt trong lịch sử đất nước).
Khi nghĩ tới ngày 30/4, người ta thường nghĩ tới độc lập, tinh thần đoàn kết dân tộc. Các từ để diễn đạt hai khái niệm này lần lượt là “independence” và “national unity“.
Ví dụ: April 30 represents independence and national unity in Vietnam’s history (Ngày 30/4 tượng trưng cho độc lập và đoàn kết dân tộc trong lịch sử Việt Nam).
Cuối cùng, sau chiến thắng, có thể dùng các từ như “peace” (hòa bình) và “prosperity” (thịnh vượng) để nói về giai đoạn kế tiếp.
Ví dụ: The country entered a period of peace and prosperity (Đất nước bước vào giai đoạn hòa bình và thịnh vượng).
Chọn từ đúng để điền vào các câu sau:
Tin Gốc: Vnexpress

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (HNUE) sẽ tổ chức lễ bế giảng và trao bằng cử nhân cho hơn 3.200 sinh viên khóa 72 của trường vào ngày 30/6. Trong số này, 694 em tốt nghiệp loại xuất sắc, chiếm khoảng 21,6%.
Phùng Nguyễn Ngọc Anh, 22 tuổi, quê Phú Thọ, sinh viên lớp Sư phạm Toán chất lượng cao là thủ khoa đầu ra với điểm tổng kết GPA 3.98/4. Điểm các môn chuyên ngành của Ngọc Anh hầu hết trên 9, nhiều môn đạt tuyệt đối.
Bốn sinh viên khác của lớp nằm trong top 8 về điểm GPA đợt tốt nghiệp này, gồm: Bùi Minh Nguyệt và Bùi Đăng Quang (cùng đạt 3.94/4), Vương Thị Tâm (3.95) và Nguyễn Thu Hương (3.96).
Ngoài ra, tập thể này còn có 18 sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc (GPA từ 3.6/4 trở lên), 4 người còn lại đạt loại giỏi (từ 3.2 đến dưới 3.6).
Ngọc Anh cho biết không khí học tập tại lớp tạo động lực để sinh viên cùng nỗ lực đạt thành tích cao.
"Lớp có nhiều bạn từ các trường THPT chuyên, lực học tốt. Các bạn đều có tinh thần xây dựng nên lớp học thường rất sôi nổi", Ngọc Anh nói.
Nhiều năm qua, Sư phạm Toán chất lượng cao luôn trong top đầu về điểm chuẩn ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Lứa sinh viên tốt nghiệp năm nay từng đạt ít nhất 26,25 điểm ở tổ hợp A00 (Toán, Lý, Hóa) để trúng tuyển. Sau khi vào trường, họ còn phải vượt qua kỳ thi tuyển sinh riêng cho lớp này, trừ nhóm được tuyển thẳng với giải quốc gia.
Theo Ngọc Anh, các bạn trong lớp thường chia thành các nhóm học tập, hỗ trợ, giảng bài cho nhau. Nhờ đó, tất cả "cùng tiến".
Bùi Minh Nguyệt cũng cho rằng cách này hiệu quả, bên cạnh sự phấn đấu, tự học của mỗi cá nhân.
"Em được học hỏi từ các bạn rất nhiều điều", Nguyệt nói. "Em vui vì bản thân và tập thể lớp đạt thành tích cao sau 4 năm học dưới mái trường Sư phạm Hà Nội".
Ba sinh viên còn lại trong top 8 tân cử nhân có điểm cao nhất là Nguyễn Thị Hoàng Anh (Sư phạm Tiếng Anh chất lượng cao), Nguyễn Thị Hằng (Sư phạm Ngữ văn chất lượng cao) và Nguyễn Thị Hòa Thái (Sư phạm Toán dạy bằng tiếng Anh). Trong đó, Thái đạt GPA 3.95, còn lại đạt 3.96.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là cơ sở giáo dục đại học hàng đầu cả nước về đào tạo giáo viên. Điểm chuẩn các ngành Sư phạm hàng năm luôn dẫn đầu, có ngành trên 29 điểm. Riêng ngành Sư phạm Toán thường lấy trên 26 điểm, riêng năm ngoái lên tới 28,27.
Tin Gốc: Vnexpress

Theo danh sách cập nhật đến hết tháng 3 của Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, số này tăng hai so với trước, gồm trường Đại học Mở TP HCM và Quốc tế Hồng Bàng.
Chứng chỉ tiếng Anh theo khung năng lực 6 bậc dùng cho Việt Nam (VSTEP) hiện được dùng trong tuyển dụng công chức, viên chức, tuyển sinh sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ). Ở bậc đại học, đây là điều kiện để sinh viên được công nhận tốt nghiệp, tối thiểu bậc 3/6 trở lên (tương đương bậc B1 theo khung tham chiếu chung châu Âu (CEFR). Một số trường cũng chấp nhận chứng chỉ này trong tuyển sinh đầu vào.
Để được tổ chức thi, các trường phải có bộ phận độc lập, chuyên thực hiện chức năng đánh giá năng lực ngoại ngữ; có đội ngũ nhân sự quản lý, chấm thi, ra đề, phân tích dữ liệu thi và kỹ thuật viên; đủ điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, phần mềm tổ chức thi trên máy tính...
Danh sách 38 trường đại học được tổ chức thi và cấp chứng chỉ tiếng Anh VSTEP năm 2026 như sau:
TT
Tên đơn vị
1
Trường Đại học Sư phạm TP HCM
2
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
3
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
4
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
5
Đại học Thái Nguyên
6
Trường Đại học Cần Thơ
7
Trường Đại học Hà Nội
8
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
9
Trường Đại học Vinh
10
Trường Đại học Sài Gòn
11
Trường Đại học Ngân hàng TP HCM
12
Trường Đại học Trà Vinh
13
Trường Đại học Văn Lang
14
Trường Đại học Quy Nhơn
15
Trường Đại học Tây Nguyên
16
Học viện An ninh Nhân dân
17
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
18
Trường Đại học Công Thương TP HCM (HUIT)
19
Trường Đại học Thương mại
20
Học viện Khoa học Quân sự
21
Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP HCM
22
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM
23
Học viện Cảnh sát Nhân dân
24
Đại học Bách Khoa Hà Nội
25
Trường Đại học Nam Cần Thơ
26
Trường Đại học Ngoại thương
27
Trường Đại học Công nghiệp TP HCM
28
Trường Đại học Kinh tế quốc dân
29
Trường Đại học Kinh tế TP HCM
30
Trường Đại học Lạc Hồng
31
Trường Đại học Đồng Tháp
32
Đại học Duy Tân
33
Trường Đại học Phenikaa
34
Học Viện Ngân hàng
35
Trường Đại học Tài chính - Marketing
36
Trường Đại học Thành Đông
37
Trường Đại học Mở TP HCM
38
Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam được ban hành năm 2014, trên cơ sở khung tham chiếu chung châu Âu (CEFR) và một số khung trình độ tiếng Anh ở các nước, kết hợp thực tế tại Việt Nam.
Khung này được chia làm 3 cấp (sơ cấp, trung cấp, cao cấp) và 6 bậc (từ 1 đến 6 tương thích với các bậc từ A1 đến C2 trong CEFR):
Bậc 1 (sơ cấp) tương thích với bậc A1 trong CEFR.
Bậc 2 (sơ cấp) tương thích với bậc A2 trong CEFR.
Bậc 3 (trung cấp) tương thích với bậc B1 trong CEFR.
Bậc 4 (trung cấp) tương thích với bậc B2 trong CEFR.
Bậc 5 (cao cấp) tương thích với bậc C1 trong CEFR.
Bậc 6 (cao cấp) tương thích với bậc C2 trong CEFR.
Dương Tâm

Thực tế trên chỉ ra dù vẫn là điểm đến quen thuộc, sức hút của Úc trong mắt phụ huynh và người học lại đang có dấu hiệu suy giảm, nhất là khi nước này liên tục phát đi tín hiệu thắt chặt chính sách visa và quyền làm việc trong vài năm trở lại đây.
Theo thống kê công bố hồi tháng 4 của Bộ Giáo dục Úc, tổng số sinh viên quốc tế đến nước này học tập đến hết năm 2025 là 845.933 người, giảm 1% so với 2024. Số du học sinh Việt là 36.595, giảm 2,7% so với năm trước và xếp thứ 4 về số lượng. Trong đó, 30.619 người là người học cũ, tăng 8,8%. Còn lại (5.976) là những người mới tới Úc lần đầu để học tập, giảm 36,8% so với năm 2024.
Đây cũng là năm thứ hai liên tiếp số lượng tân sinh người Việt đến Úc giảm mạnh, khi năm 2024 ghi nhận tỷ lệ giảm ở mức 32,9% - ít hơn 4.632 người so với 2023. Trong khi đó, số lượng tân sinh từ năm 2021 tăng đều đến 2023, từ gần 1.800 tới hơn 6.200, và cuối cùng là hơn 14.000. Điều này góp phần khiến 2023 bùng nổ về số lượng khi đông hơn năm trước tới 46,2% - mức tăng cao nhất từ 2009 tới nay và lần đầu vượt hơn 30.000 người.
Việc gia tăng số lượng tân sinh cũng giúp năm 2024 sau đó lập kỷ lục cao nhất mọi thời về số người Việt du học Úc, ở mức 37.598 và vào top 5 nhóm đông nhất ở xứ sở chuột túi. Số lượng người Việt cũng tăng trưởng đều đặn từ 2021-2024 trước khi giảm nhẹ vào 2025. Trước đó, số lượng người Việt du học Úc cũng tăng đều trong giai đoạn 2015-2019, rồi giảm đáng kể trong thời điểm Covid-19 bùng nổ là 2020 và 2021.
Đà giảm vẫn đang diễn ra vào năm 2026. Theo dữ liệu cập nhật nhất tính tới tháng 1, có 24.789 người Việt hiện du học Úc, ít hơn 10,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
Dù giảm nhẹ số lượng vào năm 2025, song nhóm du học sinh Việt lại tăng hạng, vào top 4 cộng đồng sinh viên quốc tế đông nhất tại Úc - lập lại thành tích cách đây 4 năm. Song thứ hạng này chưa phải cao nhất, khi 3 năm liên tiếp từ 2013-2015 số du học sinh Việt tại Úc luôn nằm trong top 3.
Về phân bổ khóa học, bởi một sinh viên quốc tế có thể ghi danh vào nhiều khóa khác nhau nên tổng số lượt ghi danh cao hơn tổng số du học sinh. Theo thống kê tháng 1, người Việt ghi danh nhiều nhất ở bậc giáo dục ĐH với 15.584 lượt, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái. Xếp sau đó là đào tạo nghề (hơn 2.600) và giáo dục phổ thông (hơn 2.400).
Trong khi đó, lượt ghi danh sụt mạnh nhất ở các khóa tiếng Anh (ELICOS), giảm tới 56,5%.
Nhìn chung, người Việt chuộng nhất nhóm ngành quản trị và thương mại; xếp sau đó là các chương trình liên ngành và công nghệ thông tin. Trong khi đó, lĩnh vực ít thu hút nhất với sinh viên Việt luôn là nông nghiệp, môi trường và các ngành học liên quan.
Đằng sau số lượng sinh viên quốc tế là một bức tranh phức tạp hơn về tỷ lệ chấp thuận cấp visa du học cho các đương đơn nộp hồ sơ từ ngoài lãnh thổ Úc. Theo thống kê của Bộ Nội vụ Úc, 40,8% hồ sơ xin học ĐH bị từ chối cấp visa du học trong tháng 3, mức cao nhất trong 21 năm qua kể từ khi công bố dữ liệu. Tỷ lệ này cao hơn 8,4% so với tháng trước, và hai tháng qua cũng lần lượt lập kỷ lục mới về tỷ lệ từ chối cấp visa trên toàn cầu.
Tại Việt Nam, bức tranh có phần sáng sủa hơn khi chỉ 9% đương đơn xin học ĐH tại Úc bị từ chối cấp visa trong tháng 3 vừa qua và con số vào tháng 2 là 16,6%. Đây đều là tỷ lệ gần như tương tự mọi năm, không có chênh lệch đáng kể.
Nhìn rộng hơn ở bức tranh chấp thuận cấp visa du học cho đương đơn Việt Nam nằm ngoài lãnh thổ Úc, năm tài chính 2024-2025 (bắt đầu từ tháng 7 và kết thúc vào tháng 6 năm sau-PV) ghi nhận tỷ lệ 81,1%, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái và cũng là lần tăng đầu tiên sau 4 năm. Điều này đồng nghĩa, cứ 5 người học Việt Nam xin visa Úc thì có tới 4 người thành công.
Tuy nhiên, bức tranh lại khá phân mảnh nếu xét riêng từng mục đích. Với những trường hợp muốn theo học các khóa đào tạo nghề, tỷ lệ cấp visa du học chỉ là 7%, giảm đến 35,7% so với năm trước. Tương tự, nhóm ứng tuyển bậc giáo dục phổ thông giảm từ 81,5% xuống còn 65,5%, trong khi những đương đơn muốn học các khóa tiếng Anh chỉ có 45,8% cơ hội được cấp visa - dù tỷ lệ đã tăng thêm 12,8% so với năm ngoái.
Nhóm muốn học các trường ĐH cũng đang chứng kiến tỷ lệ đậu visa giảm dần trong 4 năm qua dù vẫn duy trì ở mức cao, từ 99,7% vào 2020-2021 xuống còn 87,1% ở năm xét duyệt mới nhất. Tương tự, nhóm không cấp bằng và nhóm nghiên cứu sau ĐH vốn có tỷ lệ chấp thuận cấp visa 100% trong 2022-2023, đến 2024-2025 giảm nhẹ xuống chỉ còn 96,9% và 99,5%.
Riêng lĩnh vực đối ngoại hoặc quốc phòng luôn duy trì tỷ lệ đậu visa 100% từ năm tài chính 2015-2016 tới nay.
Từ 2024 đến nay, Úc công bố nhiều điều chỉnh về chính sách visa và quyền làm việc, được cho là để quản lý, kiểm soát tốt hơn ngành giáo dục quốc tế cũng như số lượng người nhập cư. Để chọn lọc những đương đơn chân chính muốn du học nước này, Úc ra mắt bài thi GS thay thế cho GTE và nhiều lần thay đổi cơ chế xét duyệt visa du học, từ Chỉ thị 107 tới Chỉ thị 111 và nay là Chỉ thị 115.
Ngoài ra, Úc cũng ban hành nhiều điều chỉnh với hai loại visa phổ biến với sinh viên quốc tế.
Với visa du học, nước này tăng yêu cầu chứng minh tài chính, năng lực tiếng Anh và lệ phí ứng tuyển - lên mức 2.000 AUD (khoảng 38 triệu đồng) và không hoàn lại nếu đương đơn bị từ chối. Với visa làm việc sau tốt nghiệp, Úc rút thời gian hiệu lực từ 4-6 năm xuống còn 2-3 năm, bổ sung tiêu chí ứng tuyển và mới đây tăng gấp đôi lệ phí lên 4.600 AUD (khoảng 87 triệu đồng) - cũng không hoàn lại nếu đương đơn trượt visa.
Tuy nhiên, nước này thời gian qua cũng khuyến khích các trường tăng cường hợp tác với khu vực Đông Nam Á để hỗ trợ chiến lược kinh tế Đông Nam Á của Úc đến năm 2040, thông qua các chương trình đào tạo, quan hệ đối tác, học bổng...
Song song đó, các ĐH Úc cũng ngày càng ưu ái tuyển sinh du học sinh Việt, thể hiện rõ nét qua chính sách tuyển thẳng học sinh Việt Nam vào năm nhất ĐH chứ không bắt buộc phải học khóa dự bị như trước, cũng như ra mắt các chương trình học bổng dành riêng cho Việt Nam. Bên cạnh đó, ngày càng nhiều trường Úc trực tiếp đến Việt Nam để tư vấn tuyển sinh và kết nối với chính quyền, cựu sinh viên và công ty du học.
Tin Gốc: Thanh Niên

