Khi con đầu lòng chào đời, vợ chồng tôi từng thống nhất với nhau: chỉ sinh một con. Khi ấy, chúng tôi nghĩ đơn giản, nuôi một đứa trẻ cho tốt đã là cả một hành trình vất vả. Tài chính, thời gian, công sức… tất cả đều dồn vào một đứa, vừa đỡ áp lực, vừa có điều kiện chăm lo chu đáo hơn.
Suốt những năm đầu, chúng tôi thấy quyết định đó hoàn toàn hợp lý. Cuộc sống gọn gàng, chi tiêu dễ kiểm soát, hai vợ chồng vẫn còn chút thời gian cho bản thân. Nhìn những người quay cuồng với hai, ba đứa con nhỏ, thú thật có lúc tôi còn thấy mình “khôn ngoan”.
Nhưng rồi, khi con lớn dần, suy nghĩ của chúng tôi bắt đầu thay đổi. Con trai tôi ngày càng ít bạn chơi cùng. Tôi nhận ra, dù cha mẹ có cố gắng đến đâu cũng khó thay thế được một người anh, người em trong hành trình trưởng thành của con.
Sau nhiều lần cân nhắc, chúng tôi quyết định sinh thêm bé thứ hai, khi con đầu đã 6 tuổi. Quyết định ấy không hề dễ dàng. Chúng tôi hiểu rõ mình sẽ phải quay lại những năm tháng bỉm sữa, thức đêm, áp lực tài chính tăng lên, thời gian cá nhân gần như không còn.
Và đúng là “cực” thật. Những ngày đầu, cả nhà đảo lộn hoàn toàn. Công việc, sinh hoạt, mọi thứ đều xoay quanh hai đứa trẻ. Có lúc mệt mỏi đến mức tôi tự hỏi mình có đang “làm khó” chính mình không. Nhưng càng về sau, tôi càng thấy quyết định đó là đúng đắn.
>> 10 năm bất lực khuyên con dâu sinh đứa thứ hai
Hai anh em con bắt đầu có nhau trong cuộc sống thường ngày: cùng chơi, cùng cãi vã, rồi lại tự làm hòa. Những lúc không có bố mẹ bên cạnh, chúng vẫn có một người để dựa vào. Cái cảm giác “không cô độc” ấy, tôi tin là điều rất quan trọng mà một đứa trẻ cần có.
Nhiều người nói nuôi hai con là cực gấp đôi. Tôi nghĩ đúng, nhưng chỉ ở giai đoạn đầu. Còn về lâu dài, cái “được” lại nhiều hơn. Khi trưởng thành, các con sẽ có người đồng hành, san sẻ trách nhiệm với gia đình, với cha mẹ. Một đứa thì “nhẹ” trước mắt, nhưng về sau, mọi áp lực gần như dồn hết lên vai nó.
Mỗi gia đình có thể lựa chọn khác nhau, không ai đúng tuyệt đối. Nhưng nếu quá nhiều người chọn sinh một con hoặc không sinh con, xã hội sẽ đối mặt với tình trạng già hóa nhanh chóng. Khi đó, lớp trẻ sẽ phải gánh trên vai không chỉ cha mẹ mình, mà còn là áp lực của cả xã hội. Và chính những đứa trẻ ấy lại trở thành những người chịu nhiều thiệt thòi nhất.
Tất nhiên, sinh một hay hai con là quyết định cá nhân, phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh mỗi gia đình. Nhưng với riêng tôi, sau tất cả những đắn đo và trải nghiệm, tôi thấy may mắn vì đã không dừng lại ở một đứa. Có thể chúng tôi vất vả hơn vài năm đầu, nhưng đổi lại, các con có nhau trong suốt hành trình dài phía trước. Và với tôi, đó là một “khoản đầu tư” xứng đáng, không chỉ cho gia đình mình mà còn cho cả tương lai lâu dài hơn.
Vợ chồng tôi năm nay lần lượt 50 và 55 tuổi. Sau hơn 20 năm đi làm và tích góp, chúng tôi đang đứng trước một quyết định mà có lẽ nhiều gia đình trung niên cũng trăn trở: có nên đánh đổi sự an toàn tài chính để thực hiện giấc mơ sống trong một căn nhà mặt đất?
Hiện tại, vợ chồng tôi sống trong căn chung cư ba phòng ngủ tại Hà Nội đã ở nhiều năm. Nhà không quá tệ nhưng cũng bắt đầu cũ. Ngoài căn hộ này, chúng tôi có một mảnh đất vùng ven trị giá khoảng 8 tỷ đồng và khoảng 2,5 tỷ tiền mặt. Tổng thu nhập của hai vợ chồng khoảng 80 triệu đồng mỗi tháng. Con trai duy nhất sắp đi học Thạc sĩ vào tháng 9 tới, không cần bố mẹ trợ cấp thêm nên áp lực tài chính hiện nay khá nhẹ.
Gần đây, chúng tôi tìm được một căn nhà mặt đất đúng kiểu mình mong muốn từ lâu. Nhà mới xây, bốn tầng, diện tích đất 75 m2, có sân đậu ôtô. Tầng một là phòng khách và bếp, tầng hai và ba mỗi tầng hai phòng ngủ, tầng bốn là phòng để đồ và sân thượng. Giá căn nhà là 18 tỷ đồng.
Nếu quyết định mua, chúng tôi sẽ bán căn chung cư hiện tại, bán luôn mảnh đất vùng ven và dùng toàn bộ tiền mặt hiện có. Sau tất cả, số tiền cần vay ngân hàng còn khoảng 1,5 tỷ đồng. Với mức thu nhập hiện tại, nếu sức khỏe ổn định và công việc thuận lợi, chúng tôi dự tính khoảng 2,5 năm sẽ trả hết nợ. Sau đó còn khoảng 2,5 năm làm việc nữa để tích lũy cho tuổi già. Lương hưu dự kiến của hai vợ chồng khoảng 25 triệu đồng mỗi tháng.
>> Lương 50 triệu 'gồng nợ' mua chung cư 4,2 tỷ đồng
Nhưng điều khiến tôi băn khoăn là "được" và "mất" phía sau quyết định này. Phương án thứ nhất, nếu mua nhà, chúng tôi sẽ đạt được mong muốn lớn nhất là được sống trong một căn nhà mặt đất rộng rãi, thoải mái hơn khi tuổi già đến gần. Sẽ không còn cảnh phụ thuộc thang máy, phí dịch vụ hay cảm giác chật chội của chung cư cũ. Tôi hình dung những buổi sáng tưới cây trên sân thượng, cuối tuần con cái về có chỗ quây quần, xe cộ để ngay trong sân nhà.
Trong khi đó, nếu lượng chọn phương án giữ nguyên chỗ ở như hiện tại, cuộc sống của chúng tôi gần như không có áp lực gì đến cuối đời. Chúng tôi sẽ không nợ nần, không phải tất bật mua bán nhà đất, không lo biến động tài chính ở tuổi đã không còn trẻ. Mảnh đất vùng ven có thể để dành cho con trai sau này. Nếu con lập gia đình và muốn ra ở riêng, con có thể tự quyết định bán hay xây tùy nhu cầu. Vợ chồng tôi cũng sẽ có một khoản dự phòng an toàn hơn cho tuổi già và sức khỏe.
Một bên là sự ổn định nhẹ đầu. Một bên là mong muốn được sống trong ngôi nhà mình thật sự yêu thích sau nhiều năm làm việc vất vả. Đến giờ, vợ chồng tôi vẫn chưa có câu trả lời cuối cùng. Tôi chia sẻ câu chuyện này mong nhận được thêm góc nhìn từ những người từng ở hoàn cảnh tương tự. Liệu ở tuổi 50, tôi có nên mạnh dạn đánh đổi toàn bộ tài sản để lấy căn nhà mơ ước, hay nên ưu tiên sự an toàn tài chính cho chặng đường còn lại?
Gia đình tôi không khá giả, nhưng bố mẹ ở quê vẫn chấp nhận bán đất để đầu tư gần 600 triệu đồng cho tôi lên thành phố học 4 năm đại học. Đó không chỉ là tiền, mà là kỳ vọng rằng tôi sẽ "đổi đời" bằng con đường học vấn. Tôi cũng đã nỗ lực đúng như cách người ta vẫn khuyên: học hành nghiêm túc, tốt nghiệp đúng hạn. Nhưng ra trường, mọi thứ không diễn ra như tôi tưởng.
Tôi mất nửa năm chật vật mới tìm được công việc đúng chuyên ngành ở thành phố. Mức lương khởi điểm khi ấy chỉ là 6 triệu đồng - một con số khiến tôi bối rối, nhưng vẫn tự an ủi rằng "mới đi làm thì phải chấp nhận, rồi dần dần sẽ khá lên". Tôi chấp nhận mức lương đó, chấp nhận tăng ca, chấp nhận học thêm kỹ năng mới, làm nhiều hơn mô tả công việc, bản thân nghĩ chỉ cần cố gắng đủ lâu, thu nhập sẽ tăng tương xứng.
Nhưng rồi, 5 năm trôi qua, lương của tôi hiện tại vẫn lẹt đẹt ở mức 15 triệu đồng một tháng. Ở thành phố, con số này đủ để sống tằn tiện, nhưng rất khó để tôi tích lũy hay nghĩ đến những kế hoạch dài hạn như mua nhà, lập gia đình, sinh con...
Cũng trong khoảng thời gian đó, một người bạn học cùng cấp ba ở quê với tôi, không học đại học, mà chọn đi xuất khẩu lao động. Sau vài năm, thu nhập của bạn cao hơn tôi khá nhiều. Khi trở về, bạn sẽ có một khoản vốn đủ để bắt đầu cuộc sống theo cách chủ động hơn.
Không chỉ một người. Tôi thấy nhiều anh chị đi trước, học giỏi, làm việc chăm chỉ, nhưng vẫn chịu áp lực vì thu nhập không theo kịp chi phí sống và kỳ vọng xã hội. Có người đã rời bỏ công việc văn phòng để đi xuất khẩu lao động, không phải vì họ kém, mà vì đó là con đường nhanh hơn để kiếm tiền.
>> 'Hối hận du học vì về nước lương 13 triệu đồng'
Những so sánh đó khiến tôi không khỏi tự hỏi: liệu 4 năm đại học của mình có trôi qua lãng phí? Càng ngày, tôi càng thấy khoản đầu tư của cha mẹ trở thành món nợ mà không biết đến khi nào mình mới trả được? Tôi không phủ nhận giá trị của giáo dục. Đại học giúp tôi có kiến thức nền, có tư duy, có môi trường để trưởng thành. Nhưng rõ ràng, tấm bằng hiện không còn là "tấm vé đảm bảo" cho một mức thu nhập tốt như nhiều người từng nghĩ.
Nếu xem đại học là con đường duy nhất để thành công về tài chính, thì thực tế hiện nay có thể khiến nhiều người thất vọng. Bởi thị trường lao động không vận hành theo logic "học cao thì sẽ có lương cao", ít nhất là trong những năm đầu. Nhưng nếu xem đại học là một nền tảng dài hạn - nơi tích lũy kiến thức, kỹ năng, và cơ hội phát triển - thì giá trị của nó có thể không nằm ở mức lương 5 năm đầu tiên. Vấn đề là, không phải ai cũng đủ kiên nhẫn để chờ "dài hạn", nhất là khi áp lực tài chính hiện hữu mỗi ngày.
Tôi viết những dòng này không phải để phủ nhận con đường đại học, càng không phải để so sánh hơn thua giữa các lựa chọn. Nhưng tôi nghĩ, đại học không còn là con đường ngắn nhất, đảm bảo một kết quả như nhiều người vẫn kỳ vọng. Cảm giác lúc này trong tôi là thấy mình đã đi đúng đường, nhưng đích đến lại mờ mịt. Tiếp tục bám trụ lấy lựa chọn đó, liệu tôi có quá cố chấp? Hay tôi nên mạnh dạn từ bỏ để kiếm tìm một lối đi nhanh hơn?
Năm 2014, bố mẹ tôi mua nguyên nhà trọ giá 1,35 tỷ đồng, sửa thêm thành 1,45 tỷ đồng. Cho thuê cả 5 phòng được 6 triệu, tầm 1,2 triệu đồng một phòng. Đến bây giờ 2026, nhà tôi tầm hơn 5 tỷ vẫn cho thuê giá cũ, nếu tăng giá vài trăm triệu đồng một phòng mỗi tháng cũng chả thấm vào đâu.
Tôi đang cho thuê nhà trọ, có nhiều vấn đề giữa nhà trọ và nhà ở bình thường khác xa nhau mà nhiều người chưa hiểu được. Thứ nhất là khấu hao nhà trọ sẽ luôn có hệ số cao hơn nhà ở bình thường.
Tại sao? Tâm lý "mất tiền mua mâm phải đâm cho thủng" hay "cha chung không ai khóc". Một gia đình nếu chỉ riêng việc đổ dầu mỡ xuống cống thì chắc phải chục năm mới tắc cống, riêng nhà trọ chỉ cần 6-7 phòng thì một năm thông tắc cống một lần. Riêng đợt hút bồn cầu thì ôi thôi, quần áo rồi tóc, trứng... Thậm chí có cả tiền được hút lên.
Còn nước, mỗi phòng có một cái thùng, họ vặn ren vòi để nhỏ giọt. Nhỏ giọt thì đồng hồ phòng trọ không quay, chục phòng trọ nhỏ giọt thì đồng hồ tổng chủ nhà vẫn quay đều.
Điện thì xưa chưa có camera nên manh động lắm, sáng đến thuê thì chiều đã phá kẹp chì. Chuyện tự khoan tường, tự đóng đinh, thậm chí khoan cả vào ống nước là bình thường.
Thứ hai là chi phí không tên hoặc nói theo kinh tế là trích lập dự phòng rủi ro. Ai làm nhà trọ đều dính cả, ở đến tháng xong bỏ đi để lại hóa đơn điện nước còn nhiều hơn tiền cọc, lúc ấy chả biết đòi ai.
Chưa kể những chi phí không tên để vận hành mà tôi không muốn nói ra, hỏng hóc ban ngày thuê thợ sửa vài trăm nhưng lúc tối, lúc đêm thợ bảo tiền triệu cũng phải sửa.
Thứ ba là nhà trọ sẽ phức tạp hơn nhà bình thường rất nhiều, drama suốt ngày, đánh ghen, hát loa kẹo kéo... Thậm chí mất đoàn kết chỉ vì một vài lý do rất trẻ con, bắt chủ nhà sang phân xử như quan tòa ai đúng ai sai, chứ nhất định không chịu dĩ hòa vi quý.