“Chúng ta đang trong trạng thái ngừng bắn và điều đó nghĩa là ‘đồng hồ 60 ngày’ sẽ tạm dừng hoặc chấm dứt hiệu lực”, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth ngày 29/4 nói với nghị sĩ Tim Kaine trong phiên điều trần trước Ủy ban Quân vụ Thượng viện, đề cập đến chiến dịch tấn công Iran.
Ông Hegseth cũng nhắc đến Đạo luật Quyền lực Chiến tranh, được quốc hội Mỹ thông qua năm 1973, trong đó quy định Tổng thống có 60 ngày để chấm dứt chiến dịch nếu không được quốc hội phê duyệt. “Chiếc đồng hồ” pháp lý này bắt đầu chạy từ ngày 2/3, thời điểm Tổng thống Donald Trump thông báo cho quốc hội về chiến dịch ở Iran và thời hạn 60 ngày kết thúc hôm 1/5.
“Tôi không tin đạo luật ủng hộ cách hiểu đó”, thượng nghị sĩ Kaine đáp lại, đồng thời cảnh báo chính quyền Tổng thống Trump đang đối mặt một vấn đề pháp lý nghiêm trọng.
Cuộc tranh luận này một lần nữa khiến sự chú ý trên chính trường Mỹ dồn vào Đạo luật Quyền lực Chiến tranh. Hơn nửa thế kỷ sau khi được thông qua, đây vẫn là công cụ pháp lý rõ ràng nhất mà quốc hội Mỹ sử dụng để kiềm chế quyền lực chiến tranh của tổng thống.
Hiến pháp Mỹ quy định quốc hội, thuộc nhánh lập pháp, nắm quyền tuyên chiến, cấp ngân sách và ban hành khung pháp lý cho việc sử dụng quân đội, trong khi tổng thống, người đứng đầu nhánh hành pháp, là tổng tư lệnh, trực tiếp chỉ huy quân đội và chịu trách nhiệm ứng phó nhanh với các tình huống khẩn cấp liên quan an ninh quốc gia.
Tuy nhiên, sự phân quyền này còn tồn tại “vùng xám” mà nhiều đời tổng thống Mỹ đã tận dụng để phát động chiến dịch mà không cần xin quốc hội phê chuẩn. Để duy trì vai trò của nhánh lập pháp, quốc hội Mỹ năm 1973 đã thông qua Đạo luật Quyền lực Chiến tranh, nhằm giới hạn quyền hạn của tổng thống trong các cuộc chiến ở nước ngoài.
Theo đạo luật, tổng thống có thể kích hoạt quân đội Mỹ trong những tình huống nhất định, bao gồm “tình trạng khẩn cấp quốc gia do một cuộc tấn công nhằm vào Mỹ gây ra”. Đạo luật nhấn mạnh tổng thống phải báo cáo quốc hội trong vòng 48 giờ “từ khi quân đội Mỹ tham gia các hoạt động chống lại lực lượng thù địch”.
Sau đó là thời hạn 60 ngày để quốc hội xem xét và phê chuẩn chiến dịch. Nếu quốc hội không phê chuẩn, tổng thống phải chấm dứt chiến dịch đó. Luật cho phép tổng thống có thêm tối đa 30 ngày, nhưng chỉ nhằm phục vụ việc rút quân an toàn, không phải để tiếp tục mở rộng chiến dịch.
Trên lý thuyết, đây là giới hạn đáng kể với quyền lực hành pháp, bởi đạo luật thiết lập một “đồng hồ pháp lý” để buộc Nhà Trắng phải tìm kiếm sự hậu thuẫn từ quốc hội nếu muốn kéo dài xung đột. Tuy nhiên, thực tiễn nhiều thập niên qua cho thấy đạo luật khó trở thành “hàng rào cứng” đối với tổng thống Mỹ.
Tổng thống Bill Clinton ngày 26/3/1999 gửi thư đến quốc hội thông báo về quyết định ông đưa ra hai ngày trước đó, đưa Mỹ tham gia chiến dịch của NATO nhằm vào Nam Tư. Ông lưu ý rất khó dự đoán chiến dịch sẽ kéo dài trong bao lâu.
Lưỡng viện Mỹ sau đó nhiều lần bỏ phiếu về các nghị quyết chấp thuận hoặc bác bỏ quyết định của ông Clinton trong tháng 3-4/1999, nhưng không thể thông qua được biện pháp nào. NATO kết thúc chiến dịch sau 78 ngày, đồng nghĩa ông Clinton đã vượt quá thời hạn quy định.
Hạ nghị sĩ Cộng hòa Tom Campbell đã đệ đơn kiện ông Clinton vi phạm Đạo luật Quyền lực Chiến tranh. Một tòa án liên bang bác bỏ vụ kiện, cho rằng các nghị sĩ không có đủ tư cách pháp lý để tòa thụ lý, do đó không ra phán quyết về việc ông Clinton có phạm luật hay không.
Tháng 3/2011, tổng thống Barack Obama triển khai quân đội Mỹ tham gia chiến dịch của NATO nhằm vào chính quyền Libya dưới thời ông Muammar Gaddafi. Ông cũng không được quốc hội chấp thuận trước cho quyết định này.
Tổng thống Obama sau đó vẫn tiếp tục các hoạt động quân sự của Mỹ tại Libya khi đã vượt quá mốc 60 ngày. Chính quyền của ông lập luận rằng chiến dịch không cấu thành “hoạt động thù địch” theo nghĩa mà đạo luật đề cập, bởi không có giao tranh kéo dài và Mỹ không triển khai lực lượng trên bộ.
Mỹ ngày 28/2 phối hợp cùng Israel tấn công hàng loạt mục tiêu ở Iran, khi chưa có sự chấp thuận từ quốc hội. Tổng thống Trump thông báo cho quốc hội ngày 2/3 rằng ông phát động chiến dịch theo thẩm quyền hiến định nhằm bảo vệ người dân, lợi ích quốc gia và thúc đẩy các mục tiêu an ninh, đối ngoại của Mỹ. Đây cũng là cách diễn đạt từng được ông Clinton và ông Obama sử dụng.
“Tôi trân trọng sự ủng hộ từ quốc hội với động thái này”, ông Trump viết.
Mỹ và Iran đạt lệnh ngừng bắn từ ngày 7/4, theo giờ Washington, và đã gia hạn để đàm phán. Đây chính là cơ sở để chính quyền Tổng thống Trump đưa ra cách diễn giải khác với “đồng hồ 60 ngày”, theo lý thuyết sẽ kết thúc vào ngày 1/5.
Bruce Fein, chuyên gia luật quốc tế và hiến pháp Mỹ, nói với Al Jazeera rằng Đạo luật Quyền lực Chiến tranh “không đề cập ở bất kỳ đâu rằng đồng hồ 60 ngày sẽ dừng nếu có lệnh ngừng bắn”. Ông Fein lưu ý nếu chấp nhận lập luận đó, đạo luật sẽ trở thành “hổ giấy”.
“Tôi không chắc sẽ có bao nhiêu người chấp nhận lập luận đó”, Scott Lucas, giáo sư về chính trường Mỹ và quốc tế tại Viện Clinton, Đại học UCD, Ireland, bình luận với Washington Post. “Vấn đề có thể trở nên phức tạp nếu Mỹ nối lại các cuộc không kích hoặc triển khai bộ binh trên thực địa”.
Quốc hội Mỹ đến nay chưa ra nghị quyết nào về việc chấp thuận cuộc chiến với Iran và cũng chưa thông báo kế hoạch hành động khi hạn chót trôi qua. Tạp chí Time đưa tin phe Dân chủ đang xem xét các phương án kiện ông Trump nếu Tổng thống tiếp tục cuộc chiến.
Các nghị sĩ Dân chủ đã nhiều lần đề xuất dự thảo nghị quyết giới hạn quyền lực chiến tranh của ông Trump để chấm dứt chiến sự, nhưng đều bất thành vì đảng Cộng hòa đang kiểm soát lưỡng viện. Lãnh đạo Cộng hòa tại Thượng viện John Thune nói ông sẽ xem xét kỹ lưỡng lợi ích của đảng này trước khi hành động.
Một quyết định ủng hộ xung đột có thể khiến cử tri Mỹ rời xa đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng 11. Kết quả thăm dò do Reuters/Ipsos công bố tuần này cho thấy chỉ 34% cử tri Mỹ ủng hộ cuộc chiến với Iran. Mô hình dự báo của nền tảng phân tích bầu cử Silver Bulletin cho thấy tỷ lệ ủng hộ – phản đối cuộc chiến là 38,4% và 54,8%.
Trong khi đó, Nhà Trắng cho biết chính quyền ông Trump đang “trao đổi tích cực với quốc hội” về vấn đề, đồng thời cảnh báo các nhà lập pháp không nên “ghi điểm chính trị bằng cách tiếm quyền của Tổng tư lệnh”.
Trong thông điệp đăng trên mạng xã hội hôm 28/5, Đại sứ Danny Danon thông báo Liên Hợp Quốc (LHQ) đã đưa Israel và nhóm vũ trang Hamas vào danh sách "các bên có hành vi bạo lực tình dục trong xung đột", khẳng định động thái này là "không thể chấp nhận được".
"Cáo buộc chúng tôi sử dụng bạo lực tình dục như vũ khí trong chiến sự là quyết định quá đáng. Chúng tôi đã mời đại diện của LHQ đến Israel để kiểm chứng những cáo buộc đó, song họ chọn không tới. Israel không còn dính dáng gì với Tổng thư ký này nữa", ông Danon cho hay.
Phái bộ Israel tại LHQ tuyên bố sẽ không liên lạc với Văn phòng Tổng thư ký LHQ chừng nào ông Guterres còn giữ cương vị người đứng đầu tổ chức.
Stephane Dujarric, phát ngôn viên của Tổng thư ký LHQ, sau đó nói rằng cơ quan này "đã biết" về phát biểu của Đại sứ Danon. "Về phía chúng tôi, cánh cửa của Tổng thư ký vẫn mở", bà nói.
LHQ chưa công bố báo cáo về danh sách này. Theo thông lệ, báo cáo thường niên của Tổng thư ký LHQ về bạo lực tình dục trong xung đột sẽ được gửi đến các bên liên quan để xem xét trước khi công bố.
Trong báo cáo năm ngoái, Israel bị cảnh báo rằng nước này có thể bị đưa vào danh sách các bên bị nghi hoặc chịu trách nhiệm về hành vi bạo lực tình dục trong xung đột vũ trang. Lực lượng Hamas tại Dải Gaza cũng xuất hiện trong danh sách.
Vào thời điểm đó, LHQ cho biết đã có "thông tin đáng tin cậy" về hành vi bạo lực tình dục được cho là do lực lượng an ninh Israel gây ra đối với tù nhân Palestine, thêm rằng thanh sát viên LHQ đã bị từ chối tiếp cận các cơ sở này.
Quan hệ giữa Israel và LHQ đang căng thẳng, đã xuống đến mức thấp nhất kể từ ngày 7/10/2023, thời điểm Hamas phát động cuộc tấn công nhằm vào miền nam Israel, khiến Tel Aviv mở chiến dịch đáp trả tại Dải Gaza.
Giới chức Israel đã chỉ trích Tổng thư ký Guterres và các quan chức LHQ vì họ phê phán chiến dịch của Tel Aviv. Ông Guterres bị tuyên bố là "người không được hoan nghênh" ở Israel từ năm 2024.
Theo báo Washington Post ngày 21-5, các nguồn tin cho biết Mỹ đã sử dụng hơn một nửa kho tên lửa đánh chặn THAAD để bảo vệ Israel trước các cuộc tấn công của Iran trong cuộc chiến gần đây.
Washington đã phóng hơn 200 tên lửa đánh chặn THAAD cùng hơn 100 tên lửa SM-3 và SM-6 để hỗ trợ phòng thủ, trong khi phía Israel dùng chưa tới 100 tên lửa Arrow và khoảng 90 tên lửa thuộc hệ thống David's Sling - theo dữ liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ.
Một quan chức Mỹ cho rằng nếu xung đột với Iran bùng phát trở lại, Washington có thể phải dùng nhiều tên lửa đánh chặn hơn nữa do Israel đã đưa một số tổ hợp phòng thủ tên lửa đi bảo trì.
Đáng chú ý người này còn nhận định: "Israel không đủ khả năng tự mình chiến đấu và giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh, nhưng hầu như không ai biết điều này vì họ không nhìn thấy mặt hậu cần phía sau".
Tuy nhiên Lầu Năm Góc bác bỏ lo ngại về việc Mỹ phải gánh phần lớn chi phí phòng thủ cho Israel, khẳng định tên lửa đánh chặn "chỉ là một phần trong mạng lưới phòng thủ quy mô lớn của hai nước".
Về phía Israel, đại sứ quán nước này tại Washington nhấn mạnh: "Mỹ không có đối tác nào khác có cùng ý chí quân sự, mức độ sẵn sàng, lợi ích chung và năng lực như Israel".
Trước đó Israel nhiều lần phủ nhận thông tin nước này đang cạn kiệt tên lửa đánh chặn. Tháng trước Tel Aviv đã thông qua kế hoạch tăng tốc sản xuất tên lửa Arrow.
Israel hiện vận hành hệ thống phòng không nhiều tầng, trong đó Arrow 2 có thể đánh chặn mục tiêu trong và ngoài khí quyển, còn Arrow 3 chuyên đánh chặn ngoài khí quyển Trái đất. Mỗi tên lửa Arrow 3 được ước tính trị giá khoảng 2-3 triệu USD và mất vài tháng để sản xuất.
Theo giới chức Israel, chiến dịch quân sự phối hợp với Mỹ nhằm làm suy yếu năng lực quân sự của Iran, đặc biệt là chương trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Tehran.
Dù vậy báo cáo gần đây của Đài CNN cho biết khoảng 2/3 số bệ phóng tên lửa của Iran có thể vẫn còn tồn tại, trong khi nước này vẫn sở hữu hàng nghìn máy bay không người lái (drone) - tương đương khoảng 50% năng lực drone trước chiến sự.
Đồng thời tình báo Mỹ đánh giá rằng Iran đang tái thiết nền công nghiệp quân sự nhanh hơn nhiều so với dự đoán ban đầu, thậm chí đã nối lại một phần hoạt động sản xuất drone, trong thời gian ngừng bắn kéo dài sáu tuần từ đầu tháng 4.
Cử tri tại 6 bang Alabama, Georgia, Idaho, Kentucky, Oregon và Pennsylvania của Mỹ đã bắt đầu đi bỏ phiếu bầu cử sơ bộ vào ngày 19-5.
Kết quả các cuộc bỏ phiếu sẽ cho thấy mức độ ảnh hưởng của Tổng thống Donald Trump trong việc tác động đến lá phiếu của cử tri Đảng Cộng hòa, cũng như khả năng Đảng Dân chủ giành lại quyền kiểm soát Hạ viện và Thượng viện trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào cuối năm nay.
Sự xuất hiện của nhiều nhân vật chính trị hàng đầu từ hai đảng đã "hâm nóng" cuộc đua ở các bang.
Theo báo US News & World Report, tại bang Alabama, Đảng Cộng hòa sẽ bầu ứng viên thay vị trí tại thượng viện của thượng nghị sĩ Tommy Tuberville - người sẽ ra tranh cử Thống đốc.
Ông Tuberville dự kiến có màn tái đấu với cựu thượng nghị sĩ Dân chủ Doug Jones - người đã thất bại trước ông trong cuộc bầu cử Thượng viện năm 2020.
Trong khi đó ở đường đua Thượng viện bang này, dân biểu Barry Moore - ứng viên "nặng ký" do được Tổng thống Trump hậu thuẫn - sẽ cạnh tranh với 6 ứng viên khác như Tổng chưởng lý Steve Marshall và cựu đặc nhiệm hải quân Jared Hudson.
Tại bang Georgia, cuộc đua Thống đốc phía Dân chủ có sự tham gia của cựu Thị trưởng Atlanta Keisha Lance Bottoms, người nhận được sự ủng hộ của cựu Tổng thống Joe Biden.
Nếu giành chiến thắng, bà có thể trở thành nữ Thống đốc da màu đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, theo phóng viên TTXVN ở Washington. Về phía Đảng Cộng hòa, ông Trump dành sự hậu thuẫn Phó thống đốc Burt Jones trong cuộc đua Thống đốc.
Ngoài ra, cử tri bang này sẽ bầu ba ghế tại Tòa án tối cao bang. Hai trong số đó hiện do các thẩm phán được phe Cộng hòa bổ nhiệm nắm giữ.
Hiện Đảng Dân chủ kỳ vọng các ứng viên được cựu Tổng thống Barack Obama và nhiều lãnh đạo đảng hậu thuẫn có thể tạo đột phá.
Tại bang Pennsylvania, cử tri Đảng Dân chủ sẽ chọn ra các ứng viên để giành lại bốn ghế do Đảng Cộng hòa nắm giữ, được coi là rất quan trọng để đảng này giành lại quyền kiểm soát Hạ viện Mỹ tại cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng 11 tới
Tại Kentucky, tâm điểm là cuộc đối đầu giữa dân biểu Đảng Cộng hòa Thomas Massie - người thường xuyên chỉ trích ông Trump - và ứng viên được ông Trump hậu thuẫn là ông Ed Gallrein.
Theo Công ty AdImpact, đây là cuộc bầu cử sơ bộ Hạ viện có chi tiêu quảng cáo lớn nhất kể từ năm 2018, với gần 33 triệu USD, chủ yếu từ các nhóm ủng hộ ông Trump và các tổ chức thân Israel phản đối lập trường của ông Massie về cuộc chiến ở Iran.
Ngoài ra, cử tri bang này sẽ tìm ra người kế nhiệm thượng nghị sĩ Mitch McConnell - người có bốn thập niên giữ ghế tại Thượng viện.
Tại Idaho, toàn bộ 105 ghế trong nghị viện bang sẽ được bầu lại.
Một trong những cuộc đua đáng chú ý của Đảng Cộng hòa là màn "tái đấu" giữa thượng nghị sĩ bang Jim Woodward và cựu thượng nghị sĩ Scott Herndon để giành quyền đại diện khu vực 1 ở Thượng viện bang. Đây là lần thứ ba trong bốn năm họ đối đầu nhau, sau cuộc đua tốn kém kỷ lục năm 2024.
Tại Oregon, cử tri sẽ bỏ phiếu cho bầu cử sơ bộ Thống đốc và đề xuất tăng thuế xăng dầu, giao thông. Đáng chú ý là phe Đảng Cộng hòa có tới 14 ứng viên tranh cử Thống đốc tại bang này.