Một ngôi mộ thuộc về một cá nhân có địa vị cao đã được phát hiện, chứa hài cốt người cổ đại đeo vòng tay vàng có niên đại hơn 1.500 năm, được chôn cất bên cạnh một chiếc trống lớn trên cánh đồng lúa ở huyện Ban Lat, tỉnh Phetchaburi, Thái Lan.
Vào lúc 13h ngày 30/4, tại địa điểm khai quật trống đồng ở Moo 6, Ban Don Phlap, Tambon Samophlu, Amphoe Ban Lat, tỉnh Phetchaburi, ông Phanombut Chantharachoti, Tổng Giám đốc Sở Mỹ thuật, đã đến thị sát công việc của các nhà khảo cổ học thuộc Văn phòng Mỹ thuật Vùng 1, Ratchaburi, những người đang khai quật chiếc trống đồng.
Buổi lễ đón tiếp có sự tham dự của bà Nipa Sangkhanakinth, Giám đốc Sở Mỹ thuật Vùng 1, Ratchaburi; Phó Giáo sư Tiến sĩ Patcharasak Alai, Hiệu trưởng Đại học Rajabhat Phetchaburi; bà Prajin Kreuajanth, Giám đốc Bảo tàng Quốc gia Phra Nakhon Khiri và một nhóm các nhà khảo cổ học đến từ Sở Mỹ thuật Vùng 1, Ratchaburi.
Ban đầu, các nhà khảo cổ học từ Khoa Mỹ thuật đã khai quật được một chiếc vòng tay bằng vàng trong một hố chôn cất, nơi người ta tìm thấy một chiếc trống đồng. Chiếc vòng tay này được đeo trên cánh tay của một bộ xương người, ước tính có niên đại từ 1.500 đến 2.000 năm, thuộc thời kỳ tiền sử đến văn hóa Dvaravati.
Ngoài ra, bốn chiếc trống đồng nữa đã được khai quật, nâng tổng số lên 6 chiếc. Thông tin này được đưa ra sau báo cáo của Phó Giáo sư Saenprasert Panneiam, Trợ lý Hiệu trưởng Đại học Rajabhat Phetchaburi, người đã thông báo cho Sở Mỹ thuật Vùng 1, Ratchaburi, rằng người dân đã phát hiện các hiện vật cổ được chôn dưới lòng đất trong ruộng lúa ở Moo 6, Ban Don Phlap, Tambon Samorphlu, Amphoe Ban Lat, tỉnh Phetchaburi.
Cuộc điều tra ban đầu cho thấy họ nghi ngờ những chiếc trống này là trống đồng cổ, có thể được gọi là trống “Mahorathuk”. Sau khi kiểm tra, chúng được xác nhận là trống đồng tiền sử cổ đại, có niên đại từ 1.500 đến 2.000 năm trước. Vụ việc sau đó đã được báo cáo cho Tổ chức Hành chính Tiểu khu Samophlu, các lãnh đạo cộng đồng, trưởng thôn và chủ đất.
Cuộc khai quật các bộ phận còn lại của trống đồng được cho là vẫn còn chôn vùi dưới lòng đất, đã nhận được sự đồng ý từ ông Jane và bà Khanang Phetsut, chủ sở hữu ruộng, cũng như nhận được sự hợp tác từ cộng đồng dân cư và sự hỗ trợ từ các cơ quan chính phủ.
Công tác khai quật bắt đầu vào ngày 9/2, do bà Kannika Premjai, một nhà khảo cổ học kỳ cựu kiêm trưởng nhóm khai quật, cùng với bà Kanyaphat Toheng, một nhà khảo cổ học, và Napapol Plianwong, một sinh viên thực tập ngành lịch sử đến từ Khoa Khoa học Xã hội, Đại học Naresuan dẫn đầu, với sự hợp tác của giảng viên, sinh viên Đại học Phetchaburi Rajabhat và người dân địa phương tại phường Samophlu.
Bằng chứng khảo cổ được phát hiện từ tháng 2 đến đầu tháng 3/2026 liên quan đến việc khai quật một hố rộng 2 mét và dài 2,2 mét. Việc khai quật đạt độ sâu 1 mét, hé lộ một mảnh vỡ của đáy trống đồng ở độ sâu 60 cm so với mặt đất.
Các mảnh vỡ của vành trống được tìm thấy ở độ sâu 1 mét, cho thấy chiếc trống được đặt úp ngược với đáy hướng lên trên. 8 vật dụng bằng đất nung được tìm thấy ở độ sâu 60 cm so với mặt đất.
Các hiện vật bao gồm 7 vật dụng hình nồi và một vật dụng hình bát. Người ta tìm thấy các hạt thủy tinh cùng với một viên đạn bằng đất sét. Di hài của khoảng 4 bộ xương người, cũng như các vật dụng bằng đồng, cũng được phát hiện. Đáng chú ý nhất, một chiếc nhẫn và một chiếc vòng tay bằng vàng đã được tìm thấy, chiếc vòng tay bằng vàng dường như đã được đeo trên cánh tay của một bộ xương người.
Bà Kannika cho biết việc phát hiện bộ xương người có liên quan đến một nghi lễ mai táng bao gồm việc sử dụng trống lớn, bình đồng, đồ gốm và đồ trang sức bằng vàng được chôn cùng người chết như vật tế lễ.
Trong giai đoạn khai quật thứ 2, bắt đầu vào tháng 3 – 4/2026, bằng chứng được phát hiện sau khi hố được mở rộng lên 4 mét chiều rộng và 4,5 mét chiều dài bao gồm thêm 4 mảnh vỡ được cho là phần đế của những chiếc trống lớn.
Những vật phẩm này bao gồm 2 chiếc trống được tìm thấy ở góc tây nam và 2 chiếc ở góc tây bắc, cùng với 2 chiếc trống đã được phát hiện trước đó, nâng tổng số trống được tìm thấy lên 6 chiếc.
Bà Kanyaphat cho biết 7 bộ xương người đã được phát hiện trong hố khai quật. Bộ xương đầu tiên được tìm thấy nằm thẳng, trong khi bộ xương thứ 2, thứ 3 và 4 không còn nằm trong bối cảnh chôn cất ban đầu và chồng lên nhau.
Tiếp theo, các bộ xương số 5, 6 và 7 được tìm thấy nằm ngửa. Điều quan trọng là hộp sọ của cả 7 bộ xương đều có các mảnh đồng bao phủ. Hơn nữa, nhiều hạt thủy tinh được tìm thấy trên các bộ xương số 5-7. Việc phát hiện đồ trang sức bằng vàng và các mảnh đồng gần 7 bộ xương này cho thấy những cá nhân này có địa vị xã hội cao.
Sau 1 ngày triển khai nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn tại khu vực động đất ở bang La Guaira, Venezuela, đội chó nghiệp vụ của lực lượng cứu hộ Việt Nam đã trực tiếp phát hiện, đánh dấu 9 vị trí nghi có nạn nhân, giúp lực lượng công binh đưa 8 nạn nhân ra khỏi đống đổ nát.
Theo báo cáo của Trường Trung cấp 24 Biên phòng, từ 5h30 đến 20h ngày 30-6 (giờ địa phương), đội công tác triển khai tìm kiếm cứu nạn tại hiện trường.
Lực lượng được chia thành 5 tổ, mỗi tổ gồm 2 chó nghiệp vụ, 5 cán bộ công binh và 5 cán bộ quân y (8 chó nghiệp vụ của Biên phòng, 2 chó nghiệp vụ của Công an).
Đến khoảng 20h ngày 30-6 (giờ địa phương), tức 7h ngày 1-7 (giờ Việt Nam), đội chó nghiệp vụ đã trực tiếp phát hiện, đánh dấu 9 vị trí nghi có nạn nhân.
Trên cơ sở đó, chỉ huy hiện trường đã huy động lực lượng công binh và các lực lượng phối hợp tổ chức đào bới 7 vị trí, đưa 8 nạn nhân ra khỏi đống đổ nát và bàn giao cho chính quyền sở tại. Hai vị trí còn lại đang tiếp tục được đào bới.
Hoạt động tìm kiếm được triển khai là khu vực Playa Grande, quận Catia La Mar, bang La Guaira.
Đoàn cứu hộ Việt Nam đã chia thành 5 mũi, phối hợp với lực lượng sở tại tìm kiếm trong phạm vi khoảng 2,2km².
Theo báo cáo, sức khỏe của cán bộ, huấn luyện viên và chó nghiệp vụ đều an toàn, ổn định, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ. Tại hiện trường, nhiệt độ ban ngày khoảng 29°C, ban đêm khoảng 21°C.
Đêm 28-6, Việt Nam cử đoàn cứu hộ gồm 124 cán bộ, chiến sĩ thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, mang theo 10 chó nghiệp vụ cùng hàng chục tấn hàng hóa sang Venezuela hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất.
Video: Đoàn cứu hộ Việt Nam tìm thấy 8 nạn nhân động đất tại Venezuela
Một phụ nữ đã sinh bốn đứa trẻ cùng lúc trên xe ba bánh khi đang được đưa đến bệnh viện ở huyện Mandla, bang Madhya Pradesh (Ấn Độ). Không may, cả bốn đứa bé đều tử vong ngay sau khi sinh, các quan chức cho biết hôm thứ Ba.
Gia đình người phụ nữ cáo buộc rằng việc thiếu xe cứu thương đã cướp đi sinh mạng của các bé sơ sinh, trong khi các quan chức y tế cho biết các bé tử vong vì sinh non và chưa phát triển đầy đủ.
Sản phụ Rajni Singaram, hiện đã được nhập viện tại Trung tâm Y tế cộng đồng Bichhiya và đã qua khỏi nguy hiểm. Chồng cô cho biết các em bé có thể đã sống sót nếu có xe cứu thương đến kịp thời.
Bác sĩ DJ Mohanty, Trưởng phòng Y tế và Sức khỏe huyện, cho biết Rajni Singaram, cư dân của Naigaon, được đưa đến trung tâm y tế chính phủ ở Ghuthas bằng xe riêng sau khi cô bắt đầu có cơn đau chuyển dạ vào tháng thứ Bảy của thai kỳ.
Do tình trạng nguy kịch, sản phụ đã được chuyển đến Trung tâm Y tế cộng đồng ở Bichhiya và được đưa đến đó bằng xe tuk-tuk (một loại xe ba bánh có gắn cabin), ông Mohanty cho hay.
Trước khi đến trung tâm y tế cộng đồng, người phụ nữ này đã sinh bốn đứa bé trong xe. Ông nói thêm: "Cả bốn đứa bé - ba bé gái và một bé trai - đều tử vong vì sinh non và chỉ nặng khoảng 1,5 kg mỗi bé."
Các thành viên trong gia đình cho biết họ đã gọi dịch vụ xe cấp cứu sau khi Rajni chuyển dạ nhưng không nhận được phản hồi và phải đưa cô đến bệnh viện bằng xe ba bánh.
Chồng cô, Ganesh Singaram, khẳng định rằng nếu xe cứu thương đến kịp thời, các con của anh đã có thể được cứu sống.
Khi được hỏi về những cáo buộc này, ông Rahul Namdev Dhote, quan chức đứng đầu huyện Mandla, nói với hãng tin PTI rằng ông chưa nhận được bất kỳ khiếu nại nào về vấn đề này cho đến nay.
Ông cho biết vụ việc sẽ được điều tra và có biện pháp xử lý cần thiết nếu nhận được đơn khiếu nại.
Giữa vùng núi xã Linh Sơn (Thanh Hóa), trang trại cá tầm của ông Hà Khắc Sâm (60 tuổi) nằm nép mình bên sườn đồi, bao quanh là rừng già và những khe suối đầu nguồn trong vắt.
Những ngày cuối tháng 5, khi nền nhiệt ngoài trời chạm ngưỡng 39-40 độ C, dòng nước từ suối Tá trên đỉnh Pù Rinh vẫn lạnh buốt, dao động 11-23 độ C quanh năm. Nguồn nước ấy được dẫn qua hệ thống ống dài hàng kilomet về các bể nuôi cá tầm giữa lưng chừng núi.
Hàng nghìn con cá tầm nặng từ vài kilogram đến cả chục kilogram bơi lội trong làn nước trong vắt. Tiếng nước chảy róc rách ngày đêm là âm thanh quen thuộc gắn bó với ông Sâm suốt hơn một thập kỷ qua.
Năm 2009, sau quá trình khảo sát, ngành khoa học tỉnh Thanh Hóa xác định suối Tá có điều kiện phù hợp để phát triển các loài cá nước lạnh như cá hồi, cá tầm. Tuy nhiên, việc tìm được hộ dân đủ điều kiện để thực hiện mô hình không đơn giản bởi chi phí đầu tư rất lớn, trong khi kỹ thuật nuôi hoàn toàn mới.
Khi đó, gia đình ông Hà Khắc Sâm được lựa chọn triển khai dự án và nhận hỗ trợ 200 triệu đồng từ địa phương.
"Được giao thực hiện dự án, tôi lo nhiều hơn vui. Đây là mô hình mới hoàn toàn, vốn đầu tư lớn. Nếu thất bại có thể mất hết tài sản tích cóp bao năm", ông Sâm nhớ lại.
Để hiện thực hóa dự án, việc đầu tiên ông làm là mở đường vào khu vực suối Tá. Sau đó, ông nhiều lần ra các trang trại nuôi cá hồi ở Sa Pa học hỏi kỹ thuật chăm sóc và vận hành hệ thống nuôi cá nước lạnh.
Khi đã nắm vững kỹ thuật, ông quyết định đầu tư hơn 3 tỷ đồng xây dựng 3 bể nuôi rộng 300 m2 cùng hệ thống đập chứa, đường ống dẫn nước từ đầu nguồn về trang trại.
Lứa đầu tiên, ông thả 6.000 con cá hồi giống. Giữa năm 2011, những lứa cá thương phẩm đầu tiên được xuất bán, mở ra nhiều kỳ vọng về một hướng phát triển kinh tế mới cho vùng núi.
Nhưng niềm vui chưa kéo dài bao lâu thì thiên tai ập đến.
Cuối năm 2011, một trận mưa lớn khiến nước suối dâng cao, tràn qua bể nuôi. Chỉ trong một đêm, gần 8 tấn cá theo dòng nước cuốn đi.
"Tôi mất hơn 3 tỷ đồng. Nhìn cá trôi hết mà bất lực. Vợ chồng gần như trắng tay sau trận lũ ấy", ông kể.
Nhiều người nghĩ ông sẽ từ bỏ, nhưng người đàn ông khi ấy ngoài 40 tuổi quyết định làm lại từ đầu.
Ông vay mượn thêm vốn, gia cố lại hệ thống bể nuôi, tiếp tục đầu tư con giống và kiên trì bám nghề.
Theo ông Sâm, cá tầm là loài cá "khó tính" bậc nhất. Chúng chỉ phát triển tốt trong môi trường nước lạnh, sạch và giàu oxy. Thức ăn chủ yếu là cám chuyên dụng nhập khẩu với giá khoảng 35.000 đồng/kg.
"Loài cá này có thể nhịn đói đến chết chứ nhất định không ăn thức ăn khác", ông nói.
Những năm sau đó, mô hình phát huy hiệu quả rõ rệt. Mỗi năm gia đình ông xuất bán khoảng 14 tấn cá thương phẩm. Với giá từ 250.000-280.000 đồng/kg, doanh thu đạt 3,5-4 tỷ đồng.
Từ thành công của ông Sâm, một số hộ dân địa phương cũng mạnh dạn đầu tư nuôi cá tầm bằng nước suối tự nhiên.
Tuy nhiên, khoảng hai năm trở lại đây, nghề nuôi cá tầm không còn thuận lợi như trước.
Ông Sâm cho biết áp lực lớn nhất đến từ nguồn cá tầm nhập khẩu giá rẻ ngày càng xuất hiện nhiều trên thị trường.
"Trước đây cá bán 250.000-280.000 đồng/kg, nay chỉ còn khoảng 180.000-200.000 đồng/kg nhưng tiêu thụ vẫn chậm. Nhiều nhà hàng từng lấy cá thường xuyên giờ chỉ nhập cầm chừng", ông nói.
Theo ông, cá tầm nuôi công nghiệp nhập khẩu có giá thấp hơn đáng kể nên dễ cạnh tranh về mặt thương mại. Trong khi đó, cá được nuôi bằng nước suối tự nhiên phải chịu chi phí đầu tư, vận hành và chăm sóc cao hơn nhiều.
Ông cho rằng chất lượng cá nuôi từ nguồn nước đầu nguồn tự nhiên có sự khác biệt rõ rệt.
"Cá thịt chắc, thơm hơn và được nhiều thực khách đánh giá cao. Nhưng người tiêu dùng đa số vẫn nhìn vào giá nên những hộ nuôi nhỏ như chúng tôi rất khó cạnh tranh", ông nói.
Không chỉ đối mặt áp lực giá bán, chi phí duy trì trang trại cũng là gánh nặng lớn. Với 11 bể nuôi hiện nay, riêng tiền thức ăn đã tiêu tốn hơn 100 triệu đồng mỗi tháng.
Bên cạnh đó, nghề nuôi cá tầm phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nước tự nhiên nên luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Mùa mưa lũ, nước từ đầu nguồn thường đục ngầu, mang theo bùn đất khiến cá bị sốc môi trường, dễ chết hàng loạt.
"Năm ngoái mưa lớn kéo dài làm nước đục, cá chết rất nhiều. Người nuôi lúc nào cũng thấp thỏm vì thời tiết. Nay giá bán lại giảm mạnh nên càng thêm áp lực", ông Sâm cho hay.
Theo đại diện UBND xã Linh Sơn, từ hiệu quả ban đầu của mô hình nuôi cá tầm bằng nước suối tự nhiên, địa phương hiện có 3 hộ phát triển nghề này. Tuy nhiên, gia đình ông Hà Khắc Sâm vẫn là mô hình duy trì quy mô lớn nhất.