Bắc Ninh vừa cấp giấy chứng nhận đầu tư cho hai dự án Nhật Bản vào cuối tháng 4-2026: Aeon Mall Tân Tiến với tổng vốn gần 150 triệu USD và Nhà máy Sunhill Việt Nam số 2 với vốn khoảng 3 triệu USD, đặt tại cụm công nghiệp Hiệp Hòa.
Hai dự án này là minh chứng mới nhất cho làn sóng đầu tư Nhật Bản đang không ngừng mở rộng tại Việt Nam – quốc gia mà họ đã gắn bó hơn ba thập niên.
Riêng trong quý 1-2026, vốn đầu tư mới từ Nhật Bản đạt khoảng 191,3 triệu USD, chiếm 1,9% tổng vốn FDI đăng ký cấp mới, theo số liệu từ Cục Thống kê, đưa Nhật Bản vào top 5 quốc gia, vùng lãnh thổ có vốn đầu tư mới lớn nhất. Tính đến nay, Nhật Bản là nguồn cung FDI lớn thứ ba tại Việt Nam với khoảng 5.630 dự án, tổng vốn đăng ký vượt 79,4 tỉ USD.
Những thương hiệu như Honda, Toyota, Canon, Panasonic hay Nidec từ lâu đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống người Việt. Các doanh nghiệp này không chỉ hiện diện trên thị trường bán lẻ mà còn từng bước mở rộng qua các khoản đầu tư quy mô lớn vào sản xuất, hệ thống phân phối và chuỗi cung ứng, trải dài trên nhiều địa phương.
Hiện các doanh nghiệp Nhật tham gia đầu tư tại 33/34 tỉnh thành, tập trung vào công nghệ chế biến chế tạo (61%), sản xuất phân phối điện (15%) và kinh doanh bất động sản (12%).
Các địa phương thu hút vốn Nhật nhiều nhất lần lượt là TP.HCM, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Phòng và Đồng Nai.
Việt Nam không chỉ là điểm đến đầu tư mà còn là thị trường mang lại hiệu quả kinh doanh rõ nét. Khảo sát mới nhất của JETRO cho thấy năm 2025 có khoảng 67,5% doanh nghiệp Nhật tại Việt Nam báo cáo kinh doanh có lãi – mức cao nhất trong 15 năm và đứng thứ ba tại Đông Nam Á.
Đáng chú ý, 35% doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam có hoạt động xuất khẩu sang Mỹ, chủ yếu trong lĩnh vực điện tử và vận tải, cao hơn mức 28,9% của toàn khu vực ASEAN – khẳng định vai trò của Việt Nam như một trung tâm sản xuất quan trọng trong chiến lược toàn cầu của các doanh nghiệp Nhật.
Bên cạnh sản xuất, làn sóng đầu tư Nhật Bản đang chuyển dịch rõ rệt sang thị trường tiêu dùng nội địa. Theo nhận định của Công ty tư vấn thị trường B&Company (Nhật Bản), các khoản đầu tư Nhật Bản trong năm 2025 được phân bổ trên nhiều lĩnh vực bao gồm năng lượng tái tạo, logistics, dịch vụ và phát triển hạ tầng.
Báo cáo của JETRO cũng xác nhận 60,1% doanh nghiệp Nhật có kế hoạch mở rộng tại Việt Nam coi “sự gia tăng nhu cầu của thị trường nội địa” là động lực chính – cho thấy Việt Nam đang dịch chuyển từ cứ điểm sản xuất phục vụ xuất khẩu sang thị trường tiêu dùng đầy tiềm năng.
Tỉ lệ doanh nghiệp Nhật dự định mở rộng hoạt động trong một đến hai năm tới đạt 56,9%, cao hơn đáng kể so với mức trung bình khu vực ASEAN là 46,8%.
Các tên tuổi lớn của Nhật Bản đang hiện diện ngày càng đậm nét trên thị trường bán lẻ Việt Nam. AEON Việt Nam hiện vận hành 8 trung tâm thương mại, 15 cửa hàng bách hóa tổng hợp và siêu thị, 45 siêu thị quy mô vừa và nhỏ, 180 cửa hàng tiện lợi, 29 cửa hàng chuyên doanh cùng 1 cửa hàng dược phẩm và mỹ phẩm trên khắp cả nước.
Tập đoàn này dự kiến đầu tư thêm 1,5 tỉ USD, đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu hằng năm khoảng 30% và mở rộng quy mô gấp ba lần vào năm 2030. Chuỗi bách hóa cao cấp Takashimaya cũng đang triển khai dự án trung tâm thương mại tại khu đô thị Tây Hồ Tây (Hà Nội), dự kiến đi vào hoạt động từ quý 3-2027, trong khi lợi nhuận từ trung tâm thương mại tại phường Sài Gòn (TP.HCM) được kỳ vọng tăng mạnh.
Không kém phần đáng chú ý, tháng 12-2025, tập đoàn văn phòng phẩm hàng đầu Nhật Bản Kokuyo đã chi khoảng 185 triệu USD để mua 65,01% cổ phần Tập đoàn Thiên Long, qua đó nắm vị thế dẫn đầu thị trường văn phòng phẩm Việt Nam và sở hữu mạng lưới phân phối mở rộng trong ASEAN.
Gần đây nhất, tháng 3-2026, Showa Sangyo – doanh nghiệp Nhật Bản được xem là phát minh bột tempura đầu tiên trên thế giới – chính thức vận hành nhà máy sản xuất bột trộn sẵn trị giá 21 triệu USD tại TP.HCM, định vị đây là trung tâm sản xuất trọng điểm của doanh nghiệp tại ASEAN.
"Một số thành viên cho rằng có cơ sở vững chắc để không loại trừ phương án lãi suất nào trong tương lai. Việc này phản ánh khả năng điều chỉnh để phù hợp việc lạm phát liên tục cao hơn mục tiêu 2% của Fed", biên bản công bố ngày 8/4 viết. Quan điểm này được quan tâm trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông khiến giá năng lượng tăng cao hơn một tháng qua.
Fed đã giảm lãi suất nhiều lần từ năm 2024. Tuyên bố sau cuộc họp tháng trước của cơ quan này cũng nghiêng về khả năng tiếp tục nới lỏng. Tuy nhiên, biên bản tháng 3 cho thấy số quan chức cởi mở hơn với khả năng tăng lãi suất so với thông điệp đưa ra sau cuộc họp đầu năm.
Sau khi xung đột tại Trung Đông nổ ra ngày 28/2, "nhiều thành viên chỉ ra rủi ro lạm phát duy trì ở mức cao đang kéo dài lâu hơn dự kiến do giá dầu tăng". Nếu giá năng lượng vẫn cao, "chi phí đầu vào tăng có thể sẽ phản ánh vào lạm phát cơ bản", biên bản viết.
Chỉ số giá chi tiêu cá nhân (PCE) - thước đo lạm phát ưa thích của Fed - tăng 2,8% trong tháng 1 và 2,9% tháng 12/2025. Mục tiêu của cơ quan này là lạm phát 2%. PCE tháng 3 sẽ được công bố tuần này.
Trong cuộc họp tháng 3, Fed giữ nguyên lãi suất tham chiếu ở mức 3,5-3,75%. Cơ quan này cũng nhận định xung đột đang gây ra nhiều bất ổn mới cho triển vọng kinh tế.
Dù vậy, "nhiều thành viên" vẫn coi việc giảm lãi suất là kịch bản cơ sở. Phần lớn thành viên cho rằng nếu xung đột Trung Đông kéo dài, tác động tiêu cực lên tăng trưởng có thể đủ lớn để buộc họ giảm lãi suất nhiều hơn.
Họ lo ngại "xung đột kéo dài có thể khiến thị trường lao động suy yếu thêm, từ đó cần gia tăng các đợt giảm lãi suất do giá dầu leo thang làm giảm sức mua của hộ gia đình, thắt chặt điều kiện tài chính và kìm hãm tăng trưởng toàn cầu", biên bản cho biết.
Biên bản được Fed đưa ra một ngày sau khi Mỹ và Iran thông báo ngừng bắn 2 tuần. Dù vậy, tối 8/4, truyền thông Iran đưa tin nước này đình chỉ cho phép tàu qua eo biển Hormuz và đe dọa rút khỏi thỏa thuận ngừng bắn vì Israel tiếp tục tấn công vào Lebanon, nơi có nhóm Hezbollah do Tehran hậu thuẫn. Mỹ đồng thời cảnh báo Iran không để thỏa thuận đổ vỡ vì Lebanon.
Tại phiên họp thường niên của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) chiều 16/4, một cổ đông nêu ý kiến trong bối cảnh nhiều công ty chứng khoán đang được các ngân hàng hỗ trợ, VDSC thu xếp nguồn tài chính như thế nào để có thể cạnh tranh.
Trả lời vấn đề trên, Chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Miên Tuấn cho biết Chứng khoán Rồng Việt là một công ty độc lập, không thuộc hệ sinh thái của bất kỳ ngân hàng nào. Việc này khiến công ty gặp khó khăn trong việc có nguồn vốn đủ mạnh và chủ động để đẩy mạnh hoạt động cho vay ký quỹ (margin).
Thực tế, trong năm qua, mảng margin của Chứng khoán Rồng Việt chỉ tăng trưởng hơn 40%. Con số này chậm hơn so với mức tăng trưởng chung của toàn thị trường, xấp xỉ 60%. Tính đến cuối năm 2025, dư nợ margin của toàn ngành chứng khoán vượt mốc 400.000 tỷ đồng, mức cao kỷ lục trong lịch sử. Nếu cộng thêm giá trị ứng trước tiền bán, quy mô cho vay toàn thị trường đạt khoảng 410.000 tỷ đồng.
Theo định hướng, công ty luôn duy trì chính sách cân bằng, đảm bảo an toàn thanh khoản và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động cho vay. Mục tiêu là đưa cho vay margin thành mảng đóng góp tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu doanh thu, nhưng phải không phát sinh rủi ro nợ xấu.
Ông Tuấn nhận định việc chủ động và ổn định nguồn vốn rất quan trọng vì hoạt động cho vay hiện nay đang ghi nhận mức độ cạnh tranh rất lớn. Trong khi đó, VDSC gặp bất lợi do chi phí vốn không thấp.
Nếu muốn tăng trưởng mạnh mảng cho vay, công ty phải cho các nhóm nhà đầu tư lớn vay để thực hiện các thương vụ (deal) lớn, từ đó mới có thể duy trì dư nợ ổn định. Tuy nhiên, đặc thù của cho vay theo deal là lãi suất thấp. Do đó, họ sẽ cân bằng giữa việc sử dụng vốn hiệu quả nhất và việc đảm bảo tăng trưởng dư nợ.
Hiện tại, Rồng Việt đang giao dịch với nhiều ngân hàng như BIDV, VietinBank, Vietcombank, các ngân hàng cổ phần và ngân hàng nước ngoài để có hạn mức tín dụng. Nguồn tài chính này chủ yếu phục vụ cho vay ký quỹ, ứng trước và một phần cho hoạt động kinh doanh vốn.
Song, ông Tuấn thừa nhận không dễ dàng thu xếp vốn từ các đối tác do quy mô của VDSC chỉ ở mức tầm trung. Tuy nhiên, trong 5 năm qua, công ty vẫn tăng vốn chủ sở hữu từ khoảng 1.000 tỷ lên gần 3.000 tỷ đồng. Ban lãnh đạo đang nỗ lực làm việc với các đối tác trong và ngoài nước để có thêm các cổ đông chiến lược nhằm tiếp tục tăng cường năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh.
Từ đầu năm đến nay, nhóm Nutifood thông qua hai công ty con gồm Kido Foods và Nutifood Bình Dương đã sở hữu 24,72% vốn tại Chứng khoán Rồng Việt và trở thành nhóm cổ đông lớn nhất. Ông Tuấn cho biết nhóm cổ đông này từ trước vốn là khách hàng và đối tác đồng hành hơn 10 năm qua. Sau khi phát triển lên thành cổ đông lớn, họ có định hướng nắm giữ lâu dài, đồng thời đồng hành cùng công ty thông qua việc sử dụng sản phẩm dịch vụ, kết nối phát triển khách hàng và hỗ trợ nguồn vốn nhàn rỗi thông qua cho vay hoặc mua trái phiếu của Rồng Việt.
Trong năm 2026, VDSC sẽ đẩy mạnh mảng margin vì dư nợ cho vay trên vốn chủ sở hữu đến cuối năm trước khoảng 120%. Theo quy định, công ty chứng khoán không được cho vay ký quỹ vượt quá 2 lần vốn chủ sở hữu tại cùng thời điểm.
Năm nay, Rồng Việt có phương án tăng vốn điều lệ từ 2.720 tỷ lên 4.500 tỷ đồng thông qua việc phát hành tối đa 178 triệu cổ phiếu. Số tiền huy động được chủ yếu dùng cho hoạt động cho vay margin, đầu tư tự doanh và các mảng kinh doanh khác. Theo đó, họ đề ra mục tiêu doanh thu khoảng 1.318 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế khoảng 408 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng lần lượt khoảng 20% và 45%.
Diễn biến này đặt ra câu hỏi: liệu thị trường còn phản ánh đúng giá trị nội tại của doanh nghiệp hay đang bị chi phối bởi những yếu tố khác?
Ông Trần Trương Mạnh Hiếu, Trưởng phòng phân tích chiến lược chứng khoán KIS Việt Nam, cho biết đặc điểm nổi bật của thị trường chứng khoán Việt Nam là tỉ trọng giao dịch của nhà đầu tư cá nhân chiếm ưu thế, dao động khoảng 80%.
Tuy nhiên, nhiều nhà đầu tư cá nhân giao dịch theo tin tức ngắn hạn, chịu ảnh hưởng lớn từ yếu tố cảm xúc và hành vi thay vì nghiên cứu sâu về nội tại doanh nghiệp. Bởi vậy nhiều cổ phiếu có nền tảng cơ bản tốt, lợi nhuận ổn định nhưng lại không tăng giá tương xứng hoặc chịu áp lực điều chỉnh "vô cớ".
Ngược lại, một số nhóm cổ phiếu lại ghi nhận mức tăng đáng kể trong thời gian ngắn, dù kết quả kinh doanh chưa thực sự có đột phá tương ứng hoặc định giá đã quá cao. Sự lệch pha này cho thấy yếu tố nội tại doanh nghiệp không còn là biến số duy nhất trong việc định giá cổ phiếu.
"Nhiều người có tâm lý vừa mua xong là cổ phiếu phải tăng ngay, sau T+2 tài khoản phải có lãi 5-7%. Nếu cổ phiếu đi ngang, họ dễ chán nản và bán ra" - ông Trương Hiền Phương, Giám đốc cấp cao chứng khoán KIS Việt Nam, bổ sung.
Cũng bởi vậy, các cổ phiếu có mức biến động thấp dù doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, lại khó thu hút dòng tiền ngắn hạn. Ngược lại, dòng tiền thường đổ vào các mã đang "có sóng", bất chấp rủi ro định giá quá cao.
"Hệ quả khi dòng tiền đầu cơ rút đi, giá cổ phiếu có thể rơi vào trạng thái đi ngang kéo dài, dù doanh nghiệp vẫn duy trì kết quả kinh doanh sau đó có tích cực", ông Phương nêu thực tế.
Một xu hướng khác là việc nhiều nhà đầu tư giao dịch theo tin tức ngắn hạn, thậm chí theo từng diễn biến trong ngày. Lấy ví dụ ở nhóm ngành dầu khí, khi xuất hiện thông tin giá dầu thế giới tăng do căng thẳng Trung Đông, không ít nhà đầu tư ngay lập tức "đua lệnh" mua vào các cổ phiếu nhóm "P" mà chưa phân tích cụ thể từng doanh nghiệp.
Ông Dominic Scriven - Chủ tịch Dragon Capital, chuyên gia lâu năm trên thị trường tài chính Việt Nam - nhấn mạnh thị trường chịu tác động từ nhiều yếu tố khó lường bên ngoài, như các tuyên bố chính sách đột ngột từ lãnh đạo các nền kinh tế lớn, điển hình là Mỹ.
"Nhưng tôi khuyên các nhà đầu tư trong hoàn cảnh này cần tránh việc sáng đọc báo, lướt tin đã vội đặt lệnh" - ông Scriven nhấn mạnh, đồng thời lưu ý nhà đầu tư cần giữ sự bình tĩnh, tránh tham gia thị trường khi chưa có đánh giá và dự báo đủ chắc chắn.
Nhìn chung, chính sự kết hợp giữa tâm lý giao dịch theo tin tức, dòng tiền ngắn hạn và các yếu tố bất định từ bên ngoài đang góp phần làm gia tăng tình trạng lệch pha giữa giá cổ phiếu và giá trị thực của doanh nghiệp trên thị trường.
Bà Trần Thị Khánh Hiền - Giám đốc khối phân tích chứng khoán MB (MBS) - nói việc giá cổ phiếu bị dòng tiền "cuốn" đi và lệch khỏi giá trị nội tại là hiện tượng phổ biến, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều thị trường trên thế giới. Điều này có thể xảy ra với cả doanh nghiệp lớn lẫn doanh nghiệp nhỏ.
Trong những giai đoạn dòng tiền mạnh, yếu tố định giá có thể bị "bỏ qua" trong ngắn hạn. Tuy nhiên khi dòng tiền đảo chiều, giá cổ phiếu thường có xu hướng điều chỉnh trở lại vùng hợp lý hơn, theo bà Hiền.
Một sai lầm phổ biến là nhà đầu tư mua cổ phiếu theo "sóng" hoặc tin tức nhưng khi giá giảm lại không chấp nhận cắt lỗ mà chuyển sang kỳ vọng dài hạn dựa trên yếu tố cơ bản. Điều này dễ khiến khoản đầu tư ngắn hạn biến thành "gồng lỗ" kéo dài.
Đáng lưu ý, ngay cả những cổ phiếu có nền tảng tốt cũng không nằm ngoài quy luật này. Khi bị đẩy lên mức định giá quá cao so với nội tại, các cổ phiếu này vẫn có thể điều chỉnh mạnh khi dòng tiền rút đi.
Song tựu trung, theo bà Hiền, trong ngắn hạn giá cổ phiếu có thể chịu tác động lớn từ kỳ vọng và dòng tiền. Tuy nhiên về dài hạn, giá trị nội tại của doanh nghiệp vẫn là yếu tố cốt lõi quyết định xu hướng bền vững của cổ phiếu.
Một chuyên gia lâu năm trên thị trường chứng khoán lý giải: lâu nay nhiều thành viên diễn đàn chứng khoán thường nói vui "Cổ phiếu không có lái... rất nhạt".
"Cách nói vui nhưng không phải không thực tế" - vị này cho hay, hoạt động "làm giá" cổ phiếu là có. Dẫn chứng rõ thấy nhất vừa qua cơ quan quản lý nhà nước liên tiếp xử phạt hàng loạt trường hợp thao túng cổ phiếu, có vụ còn chuyển sang hình sự.
Quy trình này thường bắt đầu bằng việc các "đội lái" tích lũy cổ phiếu. Khi đã gom đủ hàng và bắt đầu đẩy giá, họ có thể phối hợp với chính người nội bộ doanh nghiệp để tung ra các thông tin tích cực nhằm hỗ trợ đà tăng.
"Một dấu hiệu nhận biết phổ biến là khi giá cổ phiếu tăng mạnh đi kèm với dồn dập các tin tốt, đây có thể là giai đoạn "hiện thực hóa lợi nhuận" của các nhóm này. Ngược lại, khi giá giảm, các thông tin tích cực cũng dần biến mất do không còn động lực duy trì", chuyên gia này phân tích.