Theo Cục Phòng bệnh – Bộ Y tế, vi khuẩn Burkholderia pseudomallei tồn tại tự nhiên trong đất, bùn và nước ô nhiễm. Người có thể mắc bệnh khi tiếp xúc với đất, bùn, nước có chứa vi khuẩn qua các vết trầy xước, vết thương hở trên da; do hít phải bụi hoặc giọt nước bị nhiễm khuẩn; hoặc do sử dụng nguồn nước, thực phẩm bị ô nhiễm.
Bệnh Whitmore có biểu hiện lâm sàng đa dạng, dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh khác, gây khó khăn cho chẩn đoán sớm. Bệnh có thể diễn biến nặng với các biểu hiện như viêm phổi, áp xe ở nhiều cơ quan, nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm trùng và có nguy cơ tử vong nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời.
Những người có bệnh nền như đái tháo đường, bệnh gan, bệnh thận, bệnh phổi mạn tính, suy giảm miễn dịch và người thường xuyên tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn là nhóm có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Sau khi tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn, nhất là sau mưa bão, ngập lụt, nếu có biểu hiện sốt, ho, đau ngực, khó thở, nổi áp xe, nhiễm trùng da hoặc tình trạng nhiễm trùng kéo dài, cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Whitmore là bệnh ít gặp, chủ yếu liên quan đến phơi nhiễm từ môi trường, không phải là bệnh lây truyền phổ biến từ người sang người. Bệnh ghi nhận nhiều tại khu vực Đông Nam Á và miền bắc nước Úc. Tại VN, hằng năm ghi nhận một số ca bệnh rải rác, thường tăng sau mưa lớn, ngập lụt, bão lũ.
Sáng 26.5, Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ngãi cho biết các bác sĩ của bệnh viện vừa phẫu thuật thành công cho một nữ bệnh nhân có khối u xơ tử cung kích thước rất lớn, nặng khoảng 4,5 kg.
Trước đó, ngày 21.5, nữ bệnh nhân T.T.N.E (47 tuổi, ở xã Trường Giang, tỉnh Quảng Ngãi) nhập viện trong tình trạng kinh nguyệt không đều kéo dài, đau vùng hạ vị và bụng to bất thường.
Qua thăm khám lâm sàng, siêu âm cùng các xét nghiệm cần thiết, các bác sĩ xác định bệnh nhân bị u xơ tử cung kích thước lớn và chỉ định phẫu thuật.
Đến ngày 25.5, các bác sĩ Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ngãi tiến hành ca phẫu thuật.
Theo các bác sĩ, quá trình can thiệp gặp nhiều khó khăn do khối u phát triển quá lớn, chiếm gần toàn bộ ổ bụng và dính vào ruột. Sau nhiều giờ phẫu thuật, ê kíp đã bóc tách, lấy thành công khối u nặng khoảng 4,5 kg ra khỏi cơ thể bệnh nhân.
Hiện sức khỏe bệnh nhân đã ổn định và đang tiếp tục được theo dõi, chăm sóc hậu phẫu tại bệnh viện.
Trao đổi với PV Thanh Niên, bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Văn Sáu, Phó khoa phụ trách Khoa Phụ sản, Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ngãi, cho biết u xơ tử cung là bệnh lý phụ khoa phổ biến ở phụ nữ trung niên. Tuy nhiên, những trường hợp khối u phát triển kích thước quá lớn nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời có thể gây chèn ép các cơ quan trong ổ bụng, thiếu máu kéo dài và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.
"Phụ nữ nên khám phụ khoa định kỳ 6 tháng một lần tại các cơ sở chuyên khoa để phát hiện sớm, điều trị kịp thời các bệnh lý phụ khoa, hạn chế biến chứng nguy hiểm", bác sĩ Sáu nói.
Bệnh nhân quê Hoài Nhơn, Gia Lai, nhập viện trong tình trạng nuốt nghẹn. Bác sĩ Khoa Nội 4 xác định bệnh nhân có khối u ở đầu tụy, chỉ định sinh thiết để làm giải phẫu bệnh. Đây là cơ sở bắt buộc để đưa ra phác đồ điều trị chính xác.
Tuy nhiên, ca can thiệp đối mặt với nhiều thách thức do bệnh nhân lớn tuổi, có sẹo mổ cũ trên thành bụng làm giảm khả năng quan sát qua siêu âm. Khối u nằm ở đầu tụy - vị trí hiểm hóc trong ổ bụng, bị bao quanh bởi hệ thống mạch máu tạng, mạc treo và dính chặt vào tá tràng. Trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính, các bác sĩ gần như không tìm thấy đường vào rõ ràng do bị ống tiêu hóa và mạch máu che phủ.
Để chuẩn bị, êkíp dựng hình tái tạo 3D dựa trên phim CT vùng bụng, đồng thời áp dụng kỹ thuật đè ép ống tiêu hóa nhằm mở đường đi an toàn cho kim sinh thiết.
Trong phòng can thiệp, lượng hơi trong ống tiêu hóa của bệnh nhân còn nhiều hạn chế tầm nhìn của bác sĩ. Ở lần bấm kim đầu tiên, êkíp lấy được hai mẫu bệnh phẩm nhưng kết quả chưa đạt yêu cầu chẩn đoán do đặc tính xơ của tổn thương u tụy. Không bỏ cuộc, êkíp điều chỉnh chiến lược, đưa kim sâu vào trung tâm khối u lần thứ hai để lấy mẫu lõi dài hơn.
Sau 35 phút căng thẳng, ca sinh thiết hoàn thành, lấy đủ mẫu bệnh phẩm đạt chất lượng mà không gây biến chứng thủng tá tràng hay tổn thương mạch máu lớn. Kết quả giải phẫu bệnh sau đó xác định khối u đã xâm nhập thần kinh, phù hợp với biểu hiện đau của bệnh nhân trong quá trình làm thủ thuật.
"Việc lấy được mẫu sinh thiết để giải phẫu bệnh là hết sức cần thiết. Khi có kết quả này, các bác sĩ sẽ nhanh chóng tiến hành phác đồ điều trị phù hợp để kéo dài sự sống cho bệnh nhân", BS.CKI Nguyễn Công Tâm, Khoa Nội 4, Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, cho biết.
Theo BS.CKI Phạm Nguyễn Huy Tùng, Khoa Chẩn đoán hình ảnh, sinh thiết tụy là một trong những kỹ thuật khó nhất thuộc nhóm sinh thiết tạng sâu. Thủ thuật đòi hỏi bác sĩ phải vững chuyên môn và linh hoạt xử lý tình huống vì chỉ một sai lệch nhỏ có thể dẫn đến tai biến nguy hiểm.
Hiện kỹ thuật này được thực hiện thường quy tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng thông qua sự phối hợp đa chuyên khoa, giúp nâng cao năng lực chẩn đoán và mở ra cơ hội điều trị sớm cho bệnh nhân ung thư.
Giá trị dinh dưỡng của cá không chỉ phụ thuộc vào việc chúng được nuôi hay đánh bắt tự nhiên, mà còn liên quan đến loài cá, nguồn thức ăn, vùng đánh bắt, phương pháp nuôi trồng và cách bảo quản sau khi bắt, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Trong một số trường hợp, cá tự nhiên có tỷ lệ omega-3 cao hơn. Nhưng ở những trường hợp khác, cá nuôi lại có hàm lượng omega-3 tương đương, giá rẻ và đôi khi có mức thủy ngân thấp hơn.
Với protein, một số quan điểm rằng cá tự nhiên giàu protein hơn vì chúng phải bơi nhiều hơn trong môi trường tự nhiên. Điều này có thể đúng ở một số loài nhưng mức chênh lệch thường không đáng kể.
Một nghiên cứu công bố trên chuyên san Current Research in Food Science cho thấy cá hồi tự nhiên có hàm lượng protein và tổng a xít amin cao hơn một chút so với cá hồi nuôi. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng cho thấy mức khác biệt này không quá lớn.
Trên thực tế, nếu ăn cá đều đặn mỗi tuần, lựa chọn cá nuôi hay cá tự nhiên thường không ảnh hưởng quá nhiều đến tổng lượng protein hấp thụ.
Một trong những khác biệt dễ thấy nhất giữa cá nuôi và cá tự nhiên là tổng lượng mỡ cá. Cá nuôi thường được cho ăn theo chế độ giúp tăng trưởng nhanh hơn, đồng thời mức vận động cũng thấp hơn cá sống ngoài tự nhiên. Điều này khiến nhiều loại cá nuôi có xu hướng có nhiều mỡ hơn.
Ví dụ điển hình là cá hồi nuôi thường có phần thịt béo hơn, mềm hơn và nhiều calo hơn cá hồi tự nhiên. Trong khi đó, cá đánh bắt tự nhiên thường có phần thịt săn chắc hơn, ít mỡ hơn và phù hợp với những người đang muốn kiểm soát calo.
Một quan niệm khá phổ biến là cá sống trong môi trường tự nhiên luôn sạch hơn cá nuôi. Nhưng thực tế phức tạp hơn nhiều. Cá tự nhiên có thể tiếp xúc với thủy ngân, vi nhựa và nhiều chất ô nhiễm khác tồn tại trong sông, hồ hoặc đại dương. Đặc biệt, những loài cá lớn sống lâu và đứng cao trong chuỗi thức ăn như cá kiếm, cá mập hoặc cá thu thường có nguy cơ tích lũy thủy ngân cao hơn.
Trong khi đó, một số nghiên cứu cho thấy nhờ thay đổi công thức thức ăn chăn nuôi, nhiều trang trại thủy sản hiện đại đã có thể giảm nồng độ một số chất ô nhiễm hữu cơ trong cá nuôi. Vì vậy, yếu tố quan trọng hơn không nằm ở cá được nuôi hay đánh bắt mà là loài cá và nguồn gốc của chúng.
Bên cạnh yếu tố cá nuôi hay cá tự nhiên, mọi người cũng nên quan tâm nhiều hơn đến loại cá cụ thể và nguồn gốc sản phẩm. Ưu tiên các loại cá có hàm lượng thủy ngân thấp, nguồn cung rõ ràng và được bảo quản đúng cách, theo Healthline.