Tập đoàn VNG (mã chứng khoán: VNZ) ghi nhận doanh thu thuần quý đầu năm tăng 32% so với cùng kỳ, lên gần 2.800 tỷ đồng.
Trò chơi trực tuyến vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo trong cơ cấu doanh thu với gần 69%, tương đương khoảng 1.940 tỷ đồng. Ứng dụng nhắn tin Zalo và các nền tảng AI đứng thứ hai với tổng cộng 506 tỷ đồng. Ứng dụng thanh toán Zalopay và mảng kinh doanh giải pháp AI cho doanh nghiệp lần lượt xếp sau, đạt 216 tỷ đồng và 170 tỷ đồng.
CEO VNG Kelly Wong cho biết bốn mảng kinh doanh chủ lực của doanh nghiệp đều tăng trưởng hai chữ số trong quý đầu năm. Trong đó, Zalopay biến động mạnh nhất với 117%, một phần nhờ cung cấp thêm giải pháp thanh toán “tap to pay” (chạm để thanh toán) và mở rộng mạng lưới chấp nhận QR quốc tế tại 5 quốc gia châu Á.
VNG lãi gộp 1.110 tỷ đồng trong quý đầu năm. Tỷ suất sinh lời đạt khoảng 40%, tức cứ 100 đồng doanh thu có lãi 40 đồng sau khi trừ giá vốn. Con số này cải thiện đáng kể so với mức 37,5% của cùng kỳ năm ngoái.
Trừ hết chi phí, VNG lãi sau thuế 125 tỷ đồng. Kết quả này cắt chuỗi lỗ hai quý trước đó, đồng thời là mức cao nhất từ khi doanh nghiệp đăng ký giao dịch trên sàn chứng khoán vào cuối 2022. Theo ông Kelly Wong, bên cạnh hiệu quả kinh doanh của 4 mảng chủ lực tăng lên, khoản lãi đậm còn đến từ kỷ luật vận hành và kiểm soát chi phí.
Sức khỏe tài chính của VNG gần đây liên tục khởi sắc. Năm ngoái, doanh nghiệp lỗ hợp nhất 263 tỷ đồng, nối dài chuỗi lỗ 5 năm liên tiếp, nhưng con số này chỉ bằng một phần tư so với 2024 và chưa đến phân nửa so với kế hoạch ban lãnh đạo dự tính trước đó.
VNG thành lập năm 2004 tại một tiệm cà phê internet với tên gọi ban đầu là VinaGame. Từ mảng kinh doanh ban đầu là phát hành game nhập vai, VNG dần mở rộng sang dịch vụ nhắn tin, thanh toán điện tử, quảng cáo trực tuyến và trí tuệ nhân tạo.
Tập đoàn hiện có 37 công ty con trực tiếp và gián tiếp, với tổng số hơn 3.300 nhân sự. Tổng tài sản tính đến cuối quý I hơn 10.730 tỷ đồng, còn lợi nhuận chưa phân phối đạt 740 tỷ đồng.
Tin Gốc: Vnexpress

Sáng 18-5, đúng dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2026), tỉnh Nghệ An chính thức khởi công dự án Nhà máy nhiệt điện LNG Quỳnh Lập tại phường Tân Mai. Đây là một trong những dự án năng lượng quy mô lớn nhất khu vực Bắc Trung Bộ hiện nay.
Dự án được UBND tỉnh Nghệ An chấp thuận chủ trương đầu tư vào tháng 2-2026 với tổng vốn đầu tư khoảng 59.372 tỉ đồng.
Chủ đầu tư là liên danh gồm Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam, Công ty TNHH Mía đường Nghệ An và Tập đoàn năng lượng SK Innovation (Hàn Quốc).
Theo quy hoạch, dự án được triển khai trên tổng diện tích hơn 152ha tại phường Tân Mai, Nghệ An, bao gồm cả đất liền và mặt biển, chưa tính khu vực đê chắn sóng dùng chung cho khu bến Đông Hồi.
Trong đó, diện tích đất liền khoảng gần 60ha, còn lại gần 100ha là khu vực ven biển và mặt nước.
Dự án được đầu tư với quy mô gồm nhà máy nhiệt điện LNG (sản xuất điện từ khí thiên nhiên hóa lỏng) công suất 1.500MW, sử dụng hai tổ máy tua bin khí chu trình hỗn hợp (mỗi tổ 750MW), dự kiến hoàn thành và đưa vào vận hành trong giai đoạn 2026 - 2030.
Dự án đi kèm kho chứa LNG dung tích khoảng 250.000m³, hệ thống tái hóa khí, cảng chuyên dụng tiếp nhận tàu LNG trọng tải đến 150.000 tấn cùng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ. Mỗi năm, nhà máy dự kiến tiêu thụ khoảng 1,15 triệu tấn LNG nhập khẩu.
Nhà máy nhiệt điện LNG Quỳnh Lập được xem như mắt xích chiến lược trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của Nghệ An giai đoạn tới. Với tổng mức đầu tư gần 60.000 tỉ đồng, đây là dự án lớn nhất trong 12 dự án trọng điểm của tỉnh.
Quy mô này được kỳ vọng tạo cú hích mạnh cho mục tiêu tăng trưởng trên 12% trong 5 năm tới, thông qua việc thu hút dòng vốn công nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng tỉ trọng công nghiệp trong GRDP.
Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Võ Trọng Hải cho hay khi đi vào hoạt động, dự án không chỉ góp phần cung cấp nguồn điện ổn định cho hệ thống quốc gia mà còn tạo lực hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, nâng cao tỉ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của Nghệ An.
Dự án này còn được dự báo mang lại nguồn thu ngân sách bền vững. Khi đi vào vận hành, nhà máy có thể đóng góp 6.000 - 7.000 tỉ đồng mỗi năm, trở thành một trong những nguồn thu lớn nhất của Nghệ An.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

"Mỗi sáng thức dậy lại thấy một mức giá mới", ông Đào Trọng Khoa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam nói, khi đề cập đến áp lực chi phí mà công ty đang phải đối mặt. Hiện chi phí không còn biến động theo tháng hay theo quý, mà thay đổi từng ngày, thậm chí từng buổi sáng.
Theo ông Khoa, chỉ cần mở email, doanh nghiệp lại phải cập nhật thêm một loạt chi phí mới, từ phí bảo hiểm, cước vận tải đến các loại phụ phí phát sinh. Những kế hoạch tài chính vừa hoàn tất nhanh chóng trở nên lỗi thời, khi biến động không còn theo quy luật quen thuộc.
Chi phí tăng theo ngày, lan rộng toàn chuỗi
Áp lực chi phí khởi phát từ giá năng lượng, nhưng nhanh chóng lan rộng sang toàn bộ nền kinh tế. Ngày 19/3, giá xăng RON 95-III lên 30.690 đồng một lít, dầu diesel 33.420 đồng, tăng lần lượt 52% và 73% so với cuối tháng 2; giá gas cũng tăng 2-3 lần, mỗi bình 12 kg thêm 50.000-70.000 đồng, kéo chi phí vận chuyển và sản xuất đi lên.
Đến 27/3, sau khi giảm thuế, giá xăng dầu hạ mạnh (RON 95-III giảm 5.620 đồng còn 24.330 đồng một lít; dầu giảm 970-2.450 đồng mỗi lít), nhưng mặt bằng giá vẫn cao hơn đáng kể so với trước xung đột Trung Đông, trong đó xăng RON 95-III cao hơn khoảng 21% và dầu diesel khoảng 84% so với cuối tháng 2.
Ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP HCM, nhận định xăng dầu là đầu vào của hầu hết ngành nghề, nên khi giá tăng sẽ kéo theo chi phí logistics, vận tải và hàng hóa tăng theo. Nhiều tuyến vận chuyển quốc tế ghi nhận mức tăng chi phí gấp 2-3 lần, trong khi vận tải nội địa cũng chịu áp lực tương tự.
Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất không phải chi phí tăng, mà doanh nghiệp không thể chuyển phần này sang giá bán.
Tại Công ty cổ phần Mebi Farm, CEO Lâm Thúy Ái nói chi phí đầu vào tăng liên tục theo kiểu "gối đầu", trong khi sức mua giảm khoảng 30%. Trong ngành chăn nuôi, chi phí thức ăn chiếm hơn 70% giá thành, nên biến động giá đã khiến tổng chi phí sản xuất tăng khoảng 35%. Dù vậy, giá trứng không thể điều chỉnh tương ứng, thậm chí duy trì ở mức thấp do tiêu thụ chậm.
Doanh nghiệp vì vậy buộc duy trì sản xuất để đảm bảo chuỗi cung ứng và việc làm, dù phải chấp nhận bù lỗ. Bà Ái cho biết khả năng chịu lỗ của doanh nghiệp đã gần như cạn kiệt.
Áp lực tương tự cũng diễn ra trong ngành phân bón. Ông Vũ Đình Tuấn, đại diện Công ty cổ phần Phân bón Dầu khí Cà Mau, cho biết chi phí đầu vào tăng mạnh theo giá dầu, trong khi chi phí logistics quốc tế tăng 20-30% và trong nước tăng 15-20%. Cứ mỗi 10 USD giá dầu tăng, chi phí doanh nghiệp tăng thêm khoảng 525 tỷ đồng.
Mặc dù vậy, doanh nghiệp không thể điều chỉnh giá bán tương ứng, do lo ngại gây áp lực lên nông dân. Ông Vũ Khánh Thiện - ban Kinh doanh Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (Phân bón Phú Mỹ) - nói giá phân bón trong nước đã tăng khoảng 20%, nhưng các doanh nghiệp vẫn phải nỗ lực giữ giá ở mức thấp hơn so với thị trường thế giới để hỗ trợ sản xuất nông nghiệp.
Ở các ngành xuất khẩu, áp lực chi phí đi kèm với sự suy giảm nhu cầu. Ông Phạm Văn Việt, Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Thắng Jean, thông tin chi phí nguyên liệu tăng 8-18%, cước vận chuyển tăng thêm 4.000-5.000 USD mỗi container, trong khi sức mua tại các thị trường lớn giảm. Doanh nghiệp vì vậy phải giữ giá để duy trì đơn hàng.
Điểm chung của các ngành là chi phí đầu vào tăng nhanh, trong khi đầu ra không thể tăng tương ứng. Khi sức mua yếu, phần lớn áp lực chi phí bị giữ lại trong doanh nghiệp.
Doanh nghiệp xoay xở trong dư địa hạn hẹp
Trong bối cảnh này, doanh nghiệp buộc phải chủ động điều chỉnh hoạt động để duy trì sản xuất, dù dư địa không còn nhiều.
Tại Mebi Farm, bà Ái cho biết doanh nghiệp đang kiểm soát chặt tồn kho, chuyển sang sản xuất theo đơn hàng thực tế, đồng thời chỉ điều chỉnh giá bán ở mức hạn chế, khoảng 10%, với một số sản phẩm thủy sản chế biến; trong khi giá trứng tươi không thể điều chỉnh. Với các sản phẩm được chế biến từ nguồn nguyên liệu tồn kho có giá thấp trước đó, doanh nghiệp giữ nguyên giá để ổn định thị trường.
Trong ngành phân bón, ông Tuấn cho hay doanh nghiệp duy trì nhà máy ở công suất cao nhằm tối ưu chi phí sản xuất, đồng thời đàm phán với các đối tác vận chuyển để kiểm soát chi phí logistics. Khi nhu cầu nội địa suy giảm, doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm như urê, NPK để duy trì công suất và dòng tiền. Đồng thời, các doanh nghiệp trong ngành cũng kiến nghị cơ quan quản lý xem xét giảm thuế xuất khẩu phân bón từ 5% xuống 0% nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Ở ngành dệt may, ông Việt cho hay doanh nghiệp đang phải chia nhỏ đơn hàng, hạn chế vận chuyển bằng đường hàng không và đa dạng hóa thị trường nhằm giảm phụ thuộc vào các thị trường lớn.
Trong lĩnh vực logistics, xu hướng ứng phó chuyển sang quản trị rủi ro chủ động. Theo FIATA, doanh nghiệp cần rà soát điều khoản hợp đồng, cập nhật phụ phí và bảo hiểm theo thời gian thực để tránh rủi ro từ giá cố định, đồng thời xây dựng kịch bản vận chuyển linh hoạt, đẩy mạnh vận tải đa phương thức. Những giải pháp này không giảm chi phí ngay nhưng giúp doanh nghiệp chủ động hơn trước biến động.
Dẫu vậy, khả năng tự điều chỉnh của doanh nghiệp có giới hạn, khi phần lớn áp lực đến từ yếu tố đầu vào mang tính hệ thống.
Trước áp lực giá năng lượng tăng cao, Chính phủ yêu cầu đảm bảo nguồn cung, tăng nhập khẩu từ thị trường ổn định và vận hành tối đa các nhà máy lọc dầu trong nước.
Đồng thời, loạt công cụ tài khóa được áp dụng để hạ nhiệt giá: thuế nhập khẩu xăng dầu giảm về 0% giai đoạn 9/3-30/4, thuế bảo vệ môi trường với xăng, dầu về 0 đồng mỗi lít (giảm 1.500-2.000 đồng) áp dụng từ 27/3 đến 15/4. Thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng cũng về 0%, còn xăng dầu không phải kê khai, nộp VAT nhưng vẫn được khấu trừ đầu vào.
Theo Bộ Tài chính, các biện pháp này khiến ngân sách giảm thu khoảng 7.200 tỷ đồng mỗi tháng, đổi lại giúp hạ chi phí cho người dân và doanh nghiệp, hạn chế tác động lan rộng đến lạm phát và mặt bằng giá.
Ở góc nhìn dài hạn, theo ông Phạm Bình An, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP HCM, áp lực chi phí hiện nay cũng cho thấy rủi ro từ việc phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Do đó, việc chuyển sang các nguồn năng lượng thay thế, đặc biệt là điện và năng lượng tái tạo, có thể giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong kiểm soát chi phí và giảm thiểu rủi ro trong tương lai.
Việt Nam hiện có lợi thế trong phát triển năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió, với nhiều dự án lớn dự kiến triển khai tại khu vực Cần Giờ, Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) và trung tâm năng lượng Long Sơn. "Đây được xem là nền tảng để doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào xăng dầu và chủ động hơn về chi phí sản xuất", ông An nhìn nhận.
Thi Hà
Nguồn: https://vnexpress.net/doanh-nghiep-chat-vat-trong-vong-xoay-chi-phi-5054084.html

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh, năm nay, diện tích vải toàn tỉnh là 29.800ha. Sản lượng ước đạt khoảng 95.000 tấn, bằng khoảng 60% so với kế hoạch.
Trong đó diện tích vải sớm 8.200ha, sản lượng hơn 40.000 tấn. Vải chính vụ 21.600ha, sản lượng hơn 55.000 tấn. Dự kiến vải sớm thu hoạch từ 25-5, còn vải chính vụ thu hoạch từ ngày 10-6.
Năm 2026, sản lượng vải giảm do giai đoạn phân hóa mầm hoa gặp điều kiện thời tiết bất thuận, nhiệt độ cao, rét ngắn. Mặt khác thời gian ra hoa không tập trung, gây khó khăn cho việc chỉ đạo kỹ thuật dự báo sản lượng và áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh.
Vụ này, Bắc Ninh bắt đầu triển khai bình chọn "vườn vải đẹp". Đến nay có 15 xã, phường vùng trọng điểm sản xuất vải đã khảo sát, lựa chọn được 117 vườn vải đẹp, tổng diện tích hơn 114ha, ước đạt khoảng 934 tấn phục vụ xuất khẩu và tham quan du lịch trải nghiệm.
Hiện Sở Nông nghiệp và Môi trường Bắc Ninh đã làm việc với một số doanh nghiệp có nhu cầu thu mua vải thiều xuất khẩu.
Theo ông Lại Văn Viên - nhà vườn vải thiều xã Sơn Hải (Bắc Ninh), gia đình có 1,5ha vải thiều tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP từ năm 2021 với sản lượng 10-14 tấn/năm.
Dù đã liên kết với các doanh nghiệp xuất khẩu đi Nhật Bản, Úc, Thái Lan, ông Viên vẫn mong được hỗ trợ mở rộng diện tích vùng trồng, tăng cường tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, tem truy xuất nguồn gốc, website hay các kênh bán hàng trực tuyến…
Ông Nguyễn Minh Tiến - Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) - đề nghị Bắc Ninh xem xét xây dựng bộ nhận diện cho cây vải, livestream quy mô lớn, có cam kết giao hàng sớm sau livestream.
Cùng với thu hoạch quả vải, địa phương quan tâm du lịch, trải nghiệm tại các vườn vải thiều gắn với quà lưu niệm.
Phó chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh Phạm Văn Thịnh cho biết vải thiều là cây trồng chủ lực, giá trị kinh tế cao, tạo việc làm và thu nhập cho hàng chục nghìn hộ dân.
Việc duy trì diện tích, mở rộng vùng sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ giúp quả vải không chỉ giữ vững thị trường nội địa mà còn mở rộng thị trường xuất khẩu quan trọng như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, EU, Mỹ…
Bắc Ninh đã giao các sở ngành liên quan kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thu mua, vận chuyển và phân phối sản phẩm. Trong đó có việc hướng dẫn nông dân chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, kiểm soát chặt dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, quản lý tốt mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói…
Tỉnh cũng hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, thương nhân thu mua, sơ chế, bảo quản, phân phối và tiêu thụ sản phẩm.
Bắc Ninh còn giao trách nhiệm cho các xã, phường vùng trồng vải trong chỉ đạo sản xuất, thu hoạch, tiêu thụ thuận lợi, ví dụ tổ chức hoạt động du lịch trải nghiệm, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thu mua hay xử lý các hành vi gian lận thương mại, đầu cơ, ép giá.
Phó chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh đề nghị cộng đồng doanh nghiệp, hệ thống phân phối, chợ đầu mối, sàn thương mại điện tử và đơn vị logistics tiếp tục đồng hành. Tăng cường liên kết với các hợp tác xã, vùng trồng vải thiều.
Chủ động xây dựng kế hoạch thu mua, mở rộng thị trường. Áp dụng công nghệ trong bảo quản, vận chuyển...
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

