Ý kiến được đại diện các hiệp hội, nhà đầu tư đưa ra tại tọa đàm Bảo đảm năng lượng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của TP HCM do báo Người lao động phối hợp Tổng công ty điện lực TP HCM (EVNHCM) tổ chức, ngày 5/5.
Ông Phan Thanh Lâm, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng tái tạo TP HCM, cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ hay chi phí thiết bị – vốn đã giảm mạnh những năm gần đây – mà ở cơ chế thị trường, đặc biệt là mức giá mua điện dư quá thấp, chưa tạo được động lực tài chính.
Theo ông Lâm, sau giai đoạn bùng nổ với cơ chế giá FIT (FiT 1 và FiT 2) vào các năm 2019-2020, thị trường đã chững lại đáng kể. Các chính sách hiện hành chưa tạo được cú hích đủ mạnh, đặc biệt còn có một số rào cản.
Đầu tiên là thủ tục hành chính và quy trình triển khai còn phức tạp, đặc biệt khi có yếu tố bán điện lên lưới, khiến phần lớn người dân và doanh nghiệp lựa chọn phương án tự tiêu thụ thay vì tham gia sâu hơn vào thị trường điện.
Tiếp đến là thiếu các chính sách khuyến khích mang tính kinh tế rõ ràng. Ở nhiều quốc gia, người dân đầu tư điện mặt trời vì có cơ chế hỗ trợ cụ thể như ưu đãi thuế, tín dụng xanh, hoặc giá điện theo thời gian. Trong khi đó, tại Việt Nam, động lực tài chính hiện nay chưa đủ mạnh để tạo làn sóng đầu tư mới.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Thanh Toàn, đại diện nhóm nhà đầu tư năng lượng tái tạo tại TP HCM, cho rằng ở các khu công nghiệp TP HCM, mái nhà máy sản xuất mới lắp đặt khoảng 20% tiềm năng, còn hộ gia đình tham gia rất ít do bài toán kinh tế chưa khả thi.
“Người dân phát điện vào ban ngày nhưng đi làm, không sử dụng hết; phần điện dư bán lại với giá quá thấp không bù được tiền điện mua vào buổi tối”, ông Toàn nói. Trong khi đó, người dân chỉ được bán tối đa 20% công suất lắp đặt thực tế với giá hiện hành chỉ hơn 800 đồng/kWh.
Theo ông, dự kiến sắp tới tỷ lệ bán điện dư lên lưới lên đến 50% cũng là một tín hiệu để phát triển điện mặt trời áp mái. Tuy nhiên, điều quan trọng là giá mua cần hấp dẫn hơn. “Cần có chính sách để giá mua điện dư tiệm cận với giá đầu tư thì mới đủ sức thu hút”, ông Toàn nói.
Hiện theo quy định, điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu chỉ được bán lên lưới một phần dư với giá điện năng thị trường bình quân năm trước, thay vì cơ chế giá ưu đãi cố định như giai đoạn 2019-2020 (giá mua hiện tại 2.105 đồng/kWh, chưa bao gồm VAT). Giới chuyên môn cho rằng mức này chưa đủ tạo lợi nhuận rõ rệt cho các khoản đầu tư nhỏ lẻ.
Trong khi đó, theo Quy hoạch điện VIII, đến năm 2030 cả nước đặt mục tiêu khoảng 50% mái nhà công sở và hộ gia đình lắp điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu, tương đương quy mô 26.000 MW.
Với TP HCM, nơi nhu cầu điện cho tăng trưởng kinh tế, kinh tế số và AI được dự báo tăng nhanh, việc tận dụng hàng triệu mái nhà như những “nhà máy điện nhỏ” được xem là giải pháp quan trọng để bổ sung nguồn điện tại chỗ.
Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc, Phó giám đốc Sở Công Thương TP HCM, cho biết thành phố hiện có 22.355 hệ thống điện mặt trời mái nhà với tổng công suất khoảng 1.832 MWp, song dư địa phát triển vẫn còn rất lớn ở khu dân cư, thương mại và công nghiệp.
Theo bà Ngọc, TP HCM đang xây dựng một nghị quyết riêng về cơ chế, chính sách hỗ trợ điện mặt trời mái nhà cho hộ dân và doanh nghiệp theo cơ chế đặc thù. Song song đó, thành phố nghiên cứu thêm các giải pháp như tín dụng xanh, vốn vay ưu đãi, mô hình ESCO, hỗ trợ kỹ thuật, số hóa thủ tục và ưu đãi thuế để giảm chi phí đầu tư ban đầu.
Năm 2026, ngành điện TP HCM xây dựng kế hoạch cung cấp điện với mục tiêu đáp ứng mức tăng trưởng điện năng khoảng 5% so với năm trước. Ông Bùi Trung Kiên, Phó tổng giám đốc EVNHCMC, cho biết sau khi tiếp nhận thêm địa bàn Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ), quy mô hệ thống điện TP HCM đã tăng lên đáng kể. Công suất cực đại năm 2025 của toàn hệ thống đạt 8.936 MW; công suất đặt các máy biến áp 110kV thuộc sở hữu ngành điện là 13.363 MVA, tương ứng khoảng 12.027 MW với hệ số công suất 0,90; tỷ lệ dự phòng lưới điện khoảng 35%.
Theo ông Kiên, dù hệ thống điện TP HCM sau khi mở rộng địa bàn vẫn đang duy trì mức dự phòng tương đối an toàn, ngành điện cho rằng để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng cao trong các năm tới, thành phố vẫn cần đẩy mạnh nguồn điện phân tán tại chỗ. EVNHCMC khuyến khích hộ dân, doanh nghiệp phát triển điện mặt trời mái nhà kết hợp lưu trữ năng lượng nhằm giảm áp lực lưới điện giờ cao điểm và tối ưu chi phí sử dụng điện lâu dài.
Điều đáng nói có doanh nghiệp liên tiếp "hứa lèo" với cổ đông suốt nhiều năm.
Năm 2025, Công ty cổ phần phát triển bất động sản Phát Đạt (PDR) ghi nhận lợi nhuận sau thuế khoảng 514 tỉ đồng, tăng mạnh so với năm trước nhưng chỉ hoàn thành gần 71% kế hoạch đề ra.
Đáng chú ý năm 2024, PDR cũng đặt mục tiêu cao 880 tỉ đồng nhưng thực tế chỉ đạt 155 tỉ đồng.
Năm 2022, doanh nghiệp này không đạt chỉ tiêu khi lợi nhuận thực hiện khi chỉ "về đích" hơn 1.160 tỉ đồng, thấp hơn nhiều so với kế hoạch gần 2.900 tỉ đồng. Tuy vậy PDR vẫn rải rác năm thực hiện được cam kết với cổ đông như năm 2020, 2021, 2023.
Cá biệt là Tổng công ty phát triển đô thị Kinh Bắc (KBC) có đến 6 năm liên tiếp "lỡ hẹn". Trong đó năm 2025, KBC "hứa" với cổ đông sẽ mang về lợi nhuận sau thuế hợp nhất 3.200 tỉ đồng, nhưng thực tế chỉ đạt 2.208 tỉ đồng, tương ứng gần 70%. Đây đã là năm thứ 6 liên tiếp doanh nghiệp không hoàn thành các chỉ tiêu tài chính.
Vấn đề là trong giai đoạn 2022 - 2024, KBC liên tục xây dựng các kế hoạch kinh doanh đầy tham vọng, với mục tiêu lợi nhuận sau thuế dao động nhiều nghìn tỉ đồng, nhưng tỉ lệ thực hiện đều ở mức thấp.
Riêng năm 2024, doanh nghiệp chỉ đạt 423 tỉ đồng lợi nhuận, tương ứng hơn 10% của kế hoạch 4.000 tỉ đồng. Một số doanh nghiệp khác cũng được "kể tên" trong danh sách này như KOS, SJS...
Ở nhóm xây dựng, các doanh nghiệp như Công ty cổ phần đầu tư hạ tầng giao thông Đèo Cả (HHV), Công ty cổ phần Tập đoàn xây dựng Hòa Bình (HBC), Công ty cổ phần Đầu tư hạ tầng kỹ thuật TP.HCM (CII)... đều có tỉ lệ hoàn thành kế hoạch kinh doanh 6 năm gần đây dao động từ khoảng mức 91% xuống 50%.
Bên cạnh tình trạng "hứa nhiều, làm ít", thị trường cũng xuất hiện thực trạng ngược lại: đặt kế hoạch thấp để dễ vượt chỉ tiêu.
Một số doanh nghiệp như Đạm Cà Mau (DCM) hay PTSC (PVS) thường xuyên vượt xa kế hoạch, cho thấy kết quả kinh doanh tích cực. Tuy nhiên nếu kéo dài, các kế hoạch công bố sẽ dần mất đi ý nghĩa tham chiếu đối với nhà đầu tư.
Theo các chuyên gia, về bản chất, kế hoạch kinh doanh được trình tại đại hội không chỉ đơn thuần là định hướng, mà thực chất là một lời "hứa" ban lãnh đạo trước cổ đông và đồng vốn của họ.
Đây cũng là nội dung quan trọng, được đưa ra biểu quyết và thông qua bởi đa số cổ đông, qua đó tạo cơ sở để nhà đầu tư đánh giá triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp. Trong nhiều năm, việc theo dõi kế hoạch năm trở thành một "thói quen" của một số nhà đầu tư, như một chỉ báo cho các khoản đầu tư.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Trương Đắc Nguyên, Giám đốc đầu tư Blue Horizon Financial, cho biết trong nhiều năm qua, tình trạng doanh nghiệp không hoàn thành kế hoạch kinh doanh không phải là cá biệt mà diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi. Ngoài một số công ty bất động sản, danh sách này còn có vài doanh nghiệp xây dựng, nhựa...
Theo ông Nguyên, đặc thù ngành bất động sản, xây dựng, phụ thuộc khá lớn vào chi phí đầu vào và tiến độ dự án khiến việc lập kế hoạch thiếu tính ổn định. Nếu liên tục không đạt mục tiêu trong nhiều năm liền vẫn cho thấy phần nào sự hạn chế trong năng lực dự báo và quản trị.
Ông Lương Duy Phước, Giám đốc phân tích Chứng khoán Kafi, cho rằng điều nhà đầu tư cần quan tâm không chỉ là doanh nghiệp có hoàn thành kế hoạch hay không, mà còn là chất lượng lập kế hoạch và mức độ nhất quán trong thực thi.
Có những trường hợp không đạt kế hoạch do yếu tố khách quan như biến động đầu vào, thường gặp ở các ngành như bất động sản, xây dựng hay khu công nghiệp, những lĩnh vực phụ thuộc lớn vào pháp lý, tiến độ dự án, giá vật liệu, chi phí nhân công và chu kỳ thị trường. Với nhóm này, nhà đầu tư cần phân biệt rõ việc hụt kế hoạch mang tính thời điểm hay phản ánh hạn chế trong năng lực dự báo.
Từ thực tế này, ông Phước khuyến nghị nhà đầu tư nên nhìn lại lịch sử 3 - 5 năm để đánh giá cách doanh nghiệp xây dựng kế hoạch: sát thực tế, quá tham vọng hay quá thận trọng. Một doanh nghiệp đáng tin cậy không nhất thiết phải luôn vượt kế hoạch, mà cần dự báo hợp lý, minh bạch trong giải trình và nhất quán trong thực thi.
Ông Nguyên cũng lưu ý tới động cơ huy động vốn với vấn đề đặt mục tiêu cao. Việc đặt ra các mục tiêu doanh thu, lợi nhuận cao không chỉ để tạo hình ảnh tăng trưởng mà còn phục vụ cho các kế hoạch phát hành cổ phiếu, vay vốn ngân hàng. Những "bức tranh lợi nhuận" tươi sáng đôi khi trở thành công cụ để kích thích kỳ vọng, qua đó hỗ trợ giá cổ phiếu trong ngắn hạn.
Do đó nhà đầu tư cũng cần thận trọng với những kế hoạch kinh doanh mang tính "bánh vẽ", đặc biệt là các mục tiêu tăng trưởng quá cao nhưng thiếu cơ sở, có thể dẫn đến sai lầm trong đầu tư.
Sắc xanh lan tỏa trên thị trường chứng khoán trong phiên giao dịch hôm nay (7-5), giúp chỉ số VN-Index bật tăng gần 18 điểm (+0,94%), tạm dừng ở mốc 1.909 điểm khi chốt phiên.
Đáng chú ý, chỉ tháng 4 qua, VN-Index đã tăng hơn 10%. Phản ánh tâm lý của nhà đầu tư trước tin vui về việc chứng khoán Việt Nam được Tổ chức FTSE Russell xác nhận nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp, có hiệu lực từ ngày 21-9-2026, trở thành chất xúc tác thúc đẩy sự chuyển dịch của dòng tiền theo hướng chọn lọc và chuyên nghiệp hơn.
Tuy nhiên đà tăng này mang tính phân hóa rõ rệt, khi phần lớn đến từ một số cổ phiếu vốn hóa lớn, riêng nhóm Vingroup đã đóng góp hơn 186 điểm. Trong khi đó nhiều nhóm cổ phiếu khác diễn biến kém tích cực hơn, chủ yếu đi ngang hoặc điều chỉnh.
Thanh khoản thị trường không đồng thuận với đà tăng. Giá trị giao dịch bình quân trong tháng vừa qua chỉ đạt khoảng 26.300 tỉ đồng/phiên, giảm 22% so với tháng liền trước, phản ánh tâm lý thận trọng của dòng tiền và xu hướng đầu tư có chọn lọc, thay vì lan tỏa rộng.
Diễn biến này khiến hiệu suất thực tế của nhà đầu tư có độ lệch đáng kể so với chỉ số. Có thể hiểu dù thị trường tăng mạnh về mặt điểm số, nhưng không nhiều nhà đầu tư thực sự hưởng lợi tương xứng.
Khi thị trường Việt Nam tiến tới thị trường mới nổi thứ cấp, dòng tiền bắt đầu dịch chuyển theo những tiêu chí khắt khe hơn, trạng thái chọn lọc cao hơn, thay vì vận động theo diện rộng. Với nhà đầu tư cá nhân tự quản lý danh mục, sân chơi mới không còn dễ, không phải vì thiếu thông tin, mà vì thiếu hệ thống để xử lý thông tin.
Trong bối cảnh đó, dữ liệu một năm của nhiều quỹ mở cổ phiếu trên Fmarket - nền tảng phân phối quỹ mở lớn nhất Việt Nam - vẫn đang ghi nhận mức sinh lời 30-49%, vượt đáng kể mức tăng thực tế của thị trường nếu loại trừ nhóm cổ phiếu dẫn dắt.
Đáng chú ý, 5 quỹ mở có hiệu suất tốt bậc nhất lần lượt gồm: VNDAF (49%), MAGEF (44%%), BVFED (39%), VDEF (38%) và DCDS (37%).
Kết quả này đến từ cách tiếp cận có hệ thống của quỹ khi phân bổ linh hoạt giữa các nhóm ngành, chủ động điều chỉnh tỉ trọng theo chu kỳ và tập trung vào các doanh nghiệp có nền tảng cơ bản tốt.
Bà Trần Thị Hồng Tươi, CFA - Trưởng Phòng Quản lý danh mục, Công ty Quản lý Quỹ Mirae Asset Việt Nam, cho biết bên cạnh việc nắm giữ dài hạn các cổ phiếu vốn hóa lớn, quỹ còn phân bổ một phần danh mục vào nhóm cổ phiếu có tính động lượng (Momentum Trading Portfolio), đó là những cổ phiếu vừa và nhỏ có những chuyển biến tích cực trong kết quả kinh doanh và được ủng hộ bởi điều kiện thị trường.
Nhiều quỹ mở ghi nhận lợi nhuận 1 năm trên 30% - Nguồn: Fmarket
Dòng vốn ngoại được kỳ vọng có thể sớm chảy mạnh vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Khi chỉ còn hơn bốn tháng nữa, cổ phiếu Việt sẽ chính thức được đưa vào các rổ chỉ số của FTSE.
Theo phía Chứng khoán VNDirect, lượng vốn hút về có thể đạt khoảng 1 - 1,5 tỉ USD từ các quỹ đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các quỹ ETF (dạng quỹ mô phỏng theo chỉ số chứng khoán).
Bà Nguyễn Hoài Thu, CFA - Phó tổng giám đốc Công ty Quản lý Quỹ VinaCapital, nhận định việc nâng hạng thị trường chứng khoán không chỉ là một cột mốc mang tính kỹ thuật, mà còn là bước chuyển quan trọng về cấu trúc dòng vốn và chất lượng.
"Giúp tăng chiều sâu cho thị trường chứng khoán, khắc phục tình trạng nhà đầu tư cá nhân chiếm khoảng 90% giao dịch như hiện nay. Sự tham gia của nhà đầu tư tổ chức, với dòng vốn ổn định, sẽ góp phần làm giảm biến động thị trường, nâng cao tính bền vững và chất lượng giao dịch", bà Thu nhấn mạnh.
Theo chuyên gia, khi thị trường ngày càng vận hành theo chuẩn tổ chức, lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về những nhà đầu tư có hệ thống phân tích và kỷ luật quản lý danh mục. Những người thiếu hành trang sẽ khó theo kịp nhịp vận động, dễ bị hụt hơi trong cuộc đua gay cấn về lợi nhuận.
Tại Hội nghị UEH Partnerships Summit 2026 do Đại học Kinh tế TP.HCM (UEH) tổ chức ngày 18-4, ông Lâm Đình Thắng - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM - cho biết các nghiên cứu và tư vấn từ UEH đã giúp thành phố có cơ sở định lượng cụ thể về quy mô kinh tế số.
Đơn cử, tỉ trọng kinh tế số được ước tính chiếm khoảng 59,9% trong cơ cấu kinh tế TP.HCM đã trở thành dữ liệu quan trọng, được sử dụng xuyên suốt trong quá trình xây dựng và điều chỉnh chính sách phát triển.
Tuy nhiên, ông Thắng cũng chỉ ra nhiều quyết định hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên báo cáo nội bộ của các cơ quan chức năng, trong khi nguồn dữ liệu nghiên cứu độc lập, đa chiều từ các trường đại học và viện nghiên cứu chưa được khai thác tương xứng.
Trong giai đoạn tới, ông Thắng kỳ vọng mối quan hệ hợp tác giữa Nhà nước và nhà trường sẽ đi sâu hơn vào những vấn đề thiết thực, những "bài toán lớn" của thành phố như câu chuyện tăng trưởng hai con số, phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, kiểm soát ô nhiễm môi trường,…
"Thay vì triển khai các đề tài rời rạc, cần phân rã những vấn đề vĩ mô thành các hợp phần cụ thể để đánh giá chính sách, phân tích tác động và đề xuất giải pháp một cách hệ thống, trở thành nền tảng hỗ trợ ra quyết định hiệu quả hơn", ông Thắng nhấn mạnh.
Tại hội nghị, vấn đề "đào tạo lại" sau tuyển dụng được các doanh nghiệp thảo luận sôi nổi. Bà Đào Khánh Chi, Trưởng ban nhân sự Tập đoàn Sun Group, cho biết trên thực tế, không ít sinh viên sau khi vào doanh nghiệp vẫn phải đào tạo lại từ đầu.
Đồng quan điểm, ông Phạm Hồng Hải - Tổng giám đốc Ngân hàng Phương Đông (OCB) - cho rằng sinh viên hiện nay có nhiều lợi thế về nền tảng học thuật và khả năng tiếp cận tri thức.
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất là chưa chuyển hóa hiệu quả kiến thức thành kỹ năng thực tiễn, và đây chính là "điểm nghẽn" trong kết nối giữa đào tạo và nhu cầu của doanh nghiệp.
Từ đó, ông Hải đề xuất cần đưa các bài toán thực tế của doanh nghiệp vào môi trường học tập để sinh viên không chỉ học lý thuyết mà còn trực tiếp tham gia giải quyết các tình huống thực tiễn. "Khi đó, sinh viên sẽ hiểu rõ hơn yêu cầu công việc, đồng thời hình thành tư duy ứng dụng ngay từ khi còn trên ghế nhà trường", ông Hải nói.
Ông Phạm Quang Chiến - Phó tổng giám đốc Công ty Giải pháp Công nghệ Toàn diện Citek, cho rằng cần tăng cường kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp từ sớm, thay vì chờ đến giai đoạn tuyển dụng.
"Sinh viên cần được tiếp cận môi trường doanh nghiệp từ năm thứ hai thông qua các chương trình tham quan, thực tập hoặc học kỳ doanh nghiệp. Việc tiếp xúc sớm với thực tiễn giúp các em hình dung rõ hơn về nghề nghiệp tương lai cũng như tích lũy kỹ năng trước khi gia nhập thị trường lao động", ông Chiến nói.