Đêm 1/5, một phụ nữ mang thai 29 tuần được đưa đến phòng khám sản khoa ở thành phố Cheongju, tỉnh Bắc Chungcheong, do bị xuất huyết. Khi tim thai bất ngờ giảm mạnh, cơ sở này lập tức gọi 119, số điện thoại tiếp nhận các ca cấp cứu tại Hàn Quốc, đề nghị chuyển bệnh nhân lên tuyến trên.
Cuộc chạy đua với thời gian biến thành hành trình tìm nơi tiếp nhận. 6 bệnh viện lần lượt từ chối với lý do thiếu bác sĩ chuyên môn và hạn chế về khả năng điều trị. Khoảng ba giờ rưỡi kể từ cuộc gọi đầu tiên, một trực thăng xuất hiện để đưa sản phụ đến Bệnh viện Đại học Donga ở thành phố Busan cách đó 280 km. Khi đến nơi, em bé đã tử vong.
Sự việc gây chấn động dư luận Hàn Quốc, phơi bày những lỗ hổng trong hệ thống chăm sóc thai sản khẩn cấp tại một trong những nền kinh tế hàng đầu châu Á.
“Tôi cảm thấy trách nhiệm đè nặng lên vai mình”, Bộ trưởng Y tế Hàn Quốc Jeong Eun-kyeong nói, cam kết có biện pháp để những sự việc tương tự không tái diễn.
‘Lang thang y tế’
Sự việc ở Cheongju không phải trường hợp cá biệt. Những năm gần đây, Hàn Quốc ngày càng nhắc nhiều tới “lang thang y tế”, chỉ tình trạng bệnh nhân bị bệnh viện từ chối và phải liên hệ nhiều nơi mới tìm được cơ sở tiếp nhận. Tình trạng này đang để lại những hậu quả nặng nề ở khoa sản.
Cùng ngày 1/5, một phụ nữ ngoài 40 tuổi mang thai 26 tuần, bị tăng huyết áp nghiêm trọng, đã phải di chuyển gần 300 km từ thành phố Sejong tới Busan sau khi 52 bệnh viện từ chối tiếp nhận. Hành trình kéo dài khoảng 6 giờ bằng xe cứu thương.
Hồi tháng 2, tại thành phố Daegu, một phụ nữ mang thai song sinh có dấu hiệu sinh non bị 7 bệnh viện địa phương từ chối trước khi được chuyển tới một bệnh viện gần Seoul, cách hơn 230 km. Ca mổ cấp cứu giúp hai em bé chào đời, nhưng chỉ một trẻ sống sót. Em bé còn lại đã tử vong ngay sau sinh.
Theo Korea Herald, những câu chuyện này phản ánh những trục trặc mang tính hệ thống trong cách vận hành mạng lưới cấp cứu.
Một trong những nút thắt nằm ở cơ chế tiếp nhận bệnh nhân. Tại Hàn Quốc, xe cứu thương không thể tự đưa bệnh nhân vào khoa cấp cứu nếu chưa có xác nhận đồng ý tiếp nhận từ bệnh viện, buộc lực lượng 119 phải liên hệ từng cơ sở. Khi nhiều bệnh viện từ chối, “thời gian vàng” để xử lý các ca khẩn cấp cũng trôi qua.
“Hệ thống chuyển viện cấp cứu chỉ tồn tại trên danh nghĩa”, nghị sĩ Lee Joo-young nói, đồng thời chỉ trích cơ chế hiện nay là gần như không vận hành hiệu quả. “Cơ chế điều phối giữa các địa phương không hoạt động, khiến bệnh nhân nhiều lần rơi vào cảnh phải tiếp tục tìm kiếm nơi tiếp nhận phù hợp”.
Ông Lee thêm rằng nếu không tái cơ cấu toàn diện sự phân chia trách nhiệm giữa Cơ quan Cứu hỏa Quốc gia và Bộ Y tế Hàn Quốc, những sự việc tương tự sẽ còn tiếp diễn.
Những lỗ hổng sản khoa
Những ca sinh nguy cơ cao không chỉ cần bác sĩ sản khoa có chuyên môn cao, mà còn đòi hỏi hệ thống chăm sóc tích cực cho trẻ sơ sinh, đặc biệt là các giường hồi sức tích cực trẻ em (NICU). Nguồn lực này chủ yếu tập trung ở Seoul và một số đô thị lớn, trong khi nhiều địa phương thiếu cả nhân lực lẫn hạ tầng.
Tính trên toàn quốc, tỷ lệ bác sĩ sản khoa trên mỗi 1.000 phụ nữ ở Hàn Quốc là 0,24, tức là trung bình một bác sĩ phải phụ trách hơn 4.000 người. Ở nhiều khu vực như Bắc Gyeongsang hay Nam Chungcheong, tỷ lệ này còn thấp hơn bình quân, khiến nhiều sản phụ khó tìm được bệnh viện đủ năng lực tại địa phương.
Trong khi đó, áp lực lên hệ thống y tế Hàn Quốc ngày một lớn. Tỷ lệ mang thai ở độ tuổi cao hơn tăng lên, số ca đa thai nhiều hơn kéo theo nhu cầu điều trị thai kỳ nguy cơ cao cũng gia tăng.
“Các ca mang thai nguy cơ cao đang ngày càng nhiều, trong khi nguồn cung bác sĩ chuyên khoa vẫn không theo kịp”, Bộ trưởng Jeong thừa nhận sau cuộc họp khẩn với giới chuyên môn.
Bên cạnh thiếu hụt nhân lực là xu hướng né tránh rủi ro. Sản khoa là lĩnh vực có thể xảy ra tai biến bất ngờ, ngay cả khi quy trình chuyên môn được thực hiện đầy đủ. Nhưng tại Hàn Quốc, nếu kết cục xấu xảy ra, bác sĩ không chỉ chịu áp lực nghề nghiệp mà còn có nguy cơ bị điều tra hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều này dẫn tới xu hướng mà giới chuyên môn gọi là “hội chứng sợ trách nhiệm”, tức bác sĩ hoặc bệnh viện có xu hướng tránh tiếp nhận những ca có nguy cơ biến chứng cao để giảm rủi ro pháp lý.
“Các bác sĩ được yêu cầu đảm nhận những ca điều trị nguy cơ rất cao, gánh trách nhiệm pháp lý nặng nề, nhưng thù lao lại tương đối thấp”, ông Yang Seung-duk, chủ tịch Hiệp hội Bác sĩ tỉnh Bắc Chungcheong, nói.
Theo ông Yang, vấn đề này không chỉ nằm trong sản khoa, mà còn lan sang toàn bộ các dịch vụ y tế thiết yếu.
“Cần giảm bớt gánh nặng rủi ro mà các nhân viên y tế đang phải đối mặt, đồng thời tăng cường các cơ chế khuyến khích đối với những người làm việc trong các lĩnh vực chăm sóc y tế trọng yếu”, ông Yang cho biết.
Sau loạt sự cố, chính phủ Hàn Quốc đang thúc đẩy một gói cải cách toàn diện cho hệ thống chăm sóc mẹ và trẻ sơ sinh. Bộ Y tế Hàn Quốc cho biết sẽ tiếp tục thảo luận với 22 trung tâm mẹ và trẻ sơ sinh trên toàn quốc cùng các hội chuyên ngành để rà soát lại toàn bộ mạng lưới điều trị, đưa ra các biện pháp hiệu quả.
Một trong những thay đổi trọng tâm là xây dựng hệ thống dữ liệu thời gian thực, cho phép biết ngay bệnh viện nào còn bác sĩ, giường NICU và có khả năng tiếp nhận ca khẩn cấp. Nếu được triển khai hiệu quả, hệ thống này có thể thay thế cách thức hiện nay là gọi điện từng nơi để hỏi.
Hàn Quốc cũng cam kết tăng cường phối hợp giữa mạng lưới sản khoa và lực lượng 119, mở rộng hỗ trợ cho những khu vực thiếu nguồn lực, cải thiện chế độ đãi ngộ cho nhân viên y tế trong các chuyên ngành thiết yếu, đồng thời củng cố cơ chế bảo vệ pháp lý cho bác sĩ trước những tai biến ngoài khả năng kiểm soát.
“Chúng tôi sẽ xây dựng một hệ thống chăm sóc mẹ và trẻ sơ sinh để phụ nữ mang thai có thể sinh con an toàn ở bất cứ đâu trên cả nước”, Bộ trưởng Jeong tuyên bố.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng cải tổ cơ chế điều phối chỉ mới giải quyết một phần bài toán. Thách thức lớn hơn vẫn là nhân lực, bởi đào tạo một bác sĩ mất nhiều năm, trong khi sức hút của sản khoa đối với bác sĩ trẻ đang giảm dần.
Sebby Sambom, phát ngôn viên của Quân đội Giải phóng Quốc gia Tây Papua (TPNPB), nhóm vũ trang ly khai tại vùng Papua của Indonesia, tuyên bố lực lượng này hôm 2/7 bắn chết phi công Mỹ Nicholas Gosselin và phóng hỏa máy bay của người này, sau khi phương tiện hạ cánh xuống khu vực Yahukimo ở tỉnh Papua Cao nguyên.
Máy bay thuộc sở hữu của hãng hàng không PT AMA, chuyên vận chuyển thực phẩm, nhiên liệu và thư tín đến các ngôi làng hẻo lánh ở Papua.
Tuy nhiên, Sebby cáo buộc máy bay "thường xuyên thả quân nhân Indonesia xuống và vi phạm tối hậu thư của TPNPB", thêm rằng cuộc tấn công là thông điệp gửi tới chính phủ Indonesia và Mỹ vì đã "không giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của xung đột tại Papua giữa quân đội Indonesia và TPNPB".
Sebby tuyên bố quân nổi dậy sẽ bắt đầu tiến hành các cuộc tấn công nếu Jakarta tiếp tục cho phép máy bay dân sự vào các vùng đỏ do phe ly khai kiểm soát ở Papua.
Yusuf Sutejo, phát ngôn viên của lực lượng liên hợp giữa cảnh sát và quân đội Indonesia, xác nhận một máy bay do phi công Mỹ lái và chở theo 7 hành khách đã được phát hiện trong tình trạng bị cháy ở một sân bay địa phương tại Yahukimo. Tất cả hành khách đều là người Papua.
Theo Bộ Giao thông vận tải Indonesia, máy bay trên di chuyển tới Yahukimo từ thành phố Wamena ở tỉnh Papua Cao nguyên và liên lạc đã bị gián đoạn sau khi phi cơ hạ cánh. Cơ quan này dẫn báo cáo sơ bộ của ban quản lý sân bay Wamena xác nhận phi công Gosselin đã thiệt mạng.
Đại sứ quán Mỹ ở Jakarta chưa bình luận về thông tin.
Giao tranh giữa các lực lượng ly khai có vũ trang và quân chính phủ bắt đầu xuất hiện tại Papua kể từ khi vùng đất này sáp nhập vào Indonesia sau cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức dưới sự giám sát của Liên Hợp Quốc vào năm 1969.
Các nhà hoạt động người Papua chỉ trích cuộc bỏ phiếu và yêu cầu tiến hành trưng cầu dân ý lần nữa, song chính phủ Indonesia khẳng định Liên Hợp Quốc ủng hộ chủ quyền của Jakarta đối với khu vực này.
Bạo lực tại Papua leo thang nghiêm trọng kể từ năm 2018, khi các lực lượng ly khai tấn công với tần suất lớn và có mức độ nguy hiểm cao hơn, được cho là do những nhóm này đã mua được nhiều vũ khí hiện đại. Lực lượng an ninh Indonesia cho biết các nhóm vũ trang đã sát hại binh sĩ và cảnh sát trong một số vụ đụng độ.
Lực lượng nổi dậy tại Papua từng bắt cóc phi công New Zealand Phillip Mehrtens sau khi người này đáp máy bay thương mại cỡ nhỏ xuống khu vực miền núi hẻo lánh ở Nduga, Papua Cao nguyên trước khi trả tự do cho phi công vào năm 2024.
Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth gần đây đã ra lệnh xét nghiệm testosterone hằng năm đối với quân nhân tại ngũ và dự bị từ 30 tuổi trở lên, cho rằng biện pháp này sẽ giúp duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội.
Theo Reuters ngày 18.7, chỉ thị mới yêu cầu sàng lọc tình trạng thiếu hụt testosterone, đi kèm tư vấn y tế để quân nhân tự quyết định việc điều trị. Ông Hegseth nói mục tiêu của chỉ thị là bảo đảm binh sĩ có mức hormone phù hợp để đạt trạng thái thể chất tốt nhất, cải thiện khả năng phục hồi, tuổi thọ và hiệu suất.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia y tế cảnh báo việc sàng lọc diện rộng có thể dẫn đến điều trị không cần thiết, thậm chí gây hại nếu testosterone được kê đơn không đúng. Trong 6 chuyên gia sức khỏe nam giới được Reuters khảo sát, 5 người bày tỏ lo ngại hoặc khó hiểu trước quyết định này.
Nhiều chuyên gia y tế cảnh báo rằng nó có thể không mang lại hiệu quả như mong muốn mà ngược lại còn có thể làm tăng nguy cơ vô sinh hoặc các hậu quả khác cho quân nhân nếu testosterone được kê đơn không đúng cách.
Theo các bác sĩ, hiện chưa có bằng chứng chắc chắn cho thấy xét nghiệm testosterone định kỳ cho toàn bộ quân nhân từ 30 tuổi trở lên có thể tối ưu hóa khả năng sẵn sàng chiến đấu. Hiệp hội Niệu khoa Mỹ và Hiệp hội Nội tiết Mỹ khuyến cáo chỉ bổ sung testosterone cho người đã được xác nhận thiếu hormone này và có triệu chứng như giảm ham muốn, rối loạn cương dương, mệt mỏi, giảm khối lượng cơ hoặc mật độ xương thấp.
Tiến sĩ Kevin McVary, bác sĩ tiết niệu trong ban cố vấn y tế của nền tảng khám chữa bệnh từ xa Rugiet (Mỹ), cho rằng một số bệnh nhân có triệu chứng thiếu testosterone có thể cải thiện về sức bền và sự tỉnh táo sau điều trị.
Tuy nhiên, ông nhấn mạnh bằng chứng này đến từ nhóm bệnh nhân có triệu chứng, không phải từ việc sàng lọc đại trà người khỏe mạnh. Ông cảnh báo việc tiêm testosterone khi không có triệu chứng bệnh lý sẽ dẫn đến điều trị quá mức, điều này có thể gây ra những hậu quả bất lợi.
Các chuyên gia cũng bày tỏ lo ngại tác động của liệu pháp testosterone đối với khả năng sinh sản nam giới. "Nhiều người trong lực lượng vũ trang của chúng ta là những thanh niên trẻ chưa hoàn thành việc lập gia đình. Nếu tiêm testosterone một cách không khoa học, tinh hoàn sẽ teo lại. Và bạn không thể chắc chắn rằng chúng sẽ trở lại kích thước ban đầu", theo ông McVary.
Những rủi ro khác gồm tăng độ cô đặc máu, vấn đề tuyến tiền liệt, mụn trứng cá, rụng tóc, phát triển mô vú và thay đổi tâm trạng.
Ông Hegseth nói một trong những mục tiêu của quy định mới là xử lý toàn diện "Hội chứng chiến sĩ" (Operator Syndrome), tình trạng được ghi nhận ở một số thành viên lực lượng đặc nhiệm như Delta Force và Navy SEAL. Hội chứng này bao gồm nhiều vấn đề sức khỏe như nồng độ testosterone thấp, chấn thương sọ não, rối loạn nội tiết và chuyển hóa, rối loạn giấc ngủ và nhiều bệnh lý khác.
Tuy nhiên, tiến sĩ B. Christopher Frueh thuộc Đại học Hawaii (Mỹ), cho rằng lực lượng đặc nhiệm không đại diện cho toàn bộ quân nhân. Theo ông, nhóm này chịu mức rủi ro đặc biệt cao do thường xuyên tiếp xúc với vụ nổ, nhảy dù, vũ khí hạng nặng và các điều kiện tác chiến khắc nghiệt.
Một số chuyên gia cho rằng xét nghiệm testosterone vẫn có giá trị nếu được thực hiện đúng cách và đi kèm đánh giá y tế đầy đủ. Tiến sĩ Haleem Mohammed, Giám đốc y tế chuỗi phòng khám Gameday Health (Mỹ), cho hay nồng độ hormone này tự nhiên giảm dần theo tuổi tác, bắt đầu từ khoảng 30 tuổi.
Tuy nhiên, chính độ tuổi 30 không phải là thời điểm thích hợp để tầm soát. Song, ông cũng cho rằng xét nghiệm có thể giúp phát hiện người thực sự thiếu testosterone, cũng như các nguyên nhân có thể điều chỉnh.
Lầu Năm Góc hiện chưa công bố hướng dẫn chi tiết về cách đánh giá kết quả bất thường, tiêu chí điều trị, cũng như việc quy định này sẽ áp dụng ra sao với nam và nữ quân nhân.
Theo Hãng tin Bloomberg, Áo sẽ lập đồn cảnh sát mới trong tòa nhà nơi Adolf Hitler sinh ra tại địa chỉ Salzburger Vorstadt 15 (thị trấn Braunau am Inn, gần biên giới Áo - Đức), với mục tiêu ngăn địa điểm này trở thành nơi hành hương của các phần tử cực hữu và tân phát xít.
Công trình cải tạo tiêu tốn khoảng 20 triệu euro (22,9 triệu USD), Bộ trưởng Nội vụ Áo Gerhard Karner dự kiến nơi này sẽ chính thức khánh thành vào ngày 22-7.
Theo báo cáo năm 2016, quyết định này nhằm hạn chế khả năng tiếp cận của công chúng và bảo đảm sự hiện diện thường xuyên của cơ quan nhà nước tại một địa điểm gắn với lịch sử Đức Quốc xã.
Kiến trúc sư Stefan Marte, người phụ trách dự án cải tạo, cho biết mục tiêu là đưa tòa nhà trở lại những nét kiến trúc của thế kỷ 17, thay vì chỉ tháo bỏ những phần được bổ sung trong năm 1938.
Ngôi nhà này là nơi ông trùm Hitler chào đời vào năm 1889. Trong thời kỳ Đức Quốc xã, tòa nhà từng được biến thành địa điểm tôn sùng nhà độc tài với tên gọi "Phòng trưng bày Braunau trong ngôi nhà nơi Führer sinh ra".
Führer là một danh từ tiếng Đức có nghĩa là "người dẫn đường", "người lãnh đạo" hoặc "người hướng dẫn". Tuy nhiên, từ này gắn liền với ông Adolf Hitler và ngày nay thường mang nghĩa tiêu cực.
Chính phủ Áo đã quốc hữu hóa tòa nhà này vào năm 2016 sau nhiều năm công trình bị bỏ không. Trước đó, một ủy ban gồm 13 chuyên gia do chính phủ thành lập đã bác bỏ phương án xây dựng bảo tàng vì lo ngại địa điểm này có thể bị du khách hiểu sai ý nghĩa lịch sử hoặc biến thành nơi tôn sùng Hitler.
Phương án phá dỡ cũng không được chấp thuận do tòa nhà thuộc khu trung tâm lịch sử của Braunau am Inn và nằm trong diện bảo vệ di sản. Các chuyên gia cũng lo ngại việc phá bỏ có thể bị diễn giải như một hành động phủ nhận lịch sử.
Dù vậy, việc biến nơi này thành đồn cảnh sát vẫn gây tranh luận. Một khảo sát năm 2023 với 1.000 người cho thấy: chỉ 6% ủng hộ việc sử dụng tòa nhà cho mục đích hành chính; hơn 1/2 số người được hỏi muốn thành lập một cơ sở dành cho hoạt động tưởng niệm, chống chủ nghĩa phát xít và thúc đẩy lòng khoan dung; và khoảng 1/4 ủng hộ phá dỡ.