Đồng thời, Moody’s giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm cơ sở (Baseline Credit Assessment – BCA) của MB ở mức ba3, phản ánh đánh giá tích cực đối với năng lực tài chính, hiệu quả hoạt động cũng như triển vọng tăng trưởng bền vững của ngân hàng.
Theo Moody’s, quyết định nâng hạng đối với MB được hỗ trợ bởi khả năng sinh lời duy trì ở mức cao so với nhiều ngân hàng cùng quy mô, cùng với nền tảng huy động vốn ngày càng được củng cố. Tính đến cuối năm 2025, thị phần tiền gửi của MB đã tăng lên khoảng 5% toàn hệ thống, so với khoảng 3% vào năm 2021.
Moody’s đồng thời đánh giá mức độ hỗ trợ từ Chính phủ Việt Nam đối với MB đã tăng từ “Trung bình” lên “Cao”, phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của ngân hàng trong hệ thống tài chính. Bên cạnh đó, cơ cấu cổ đông có liên hệ chặt chẽ với Nhà nước tiếp tục là một trong những yếu tố củng cố hồ sơ tín nhiệm của MB, với tỷ lệ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước tại ngân hàng đạt khoảng 48% vào cuối năm 2025.
Việc được Moody’s nâng hạng lên Ba2 có ý nghĩa quan trọng đối với MB trong việc củng cố niềm tin của khách hàng, nhà đầu tư và các đối tác quốc tế, đồng thời tạo thêm dư địa thuận lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực huy động vốn trên thị trường quốc tế và tiếp tục duy trì vị thế trong nhóm các ngân hàng hoạt động hiệu quả hàng đầu Việt Nam.
Kết thúc Quý I/2026, MB ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực với quy mô tổng tài sản hợp nhất vượt 1,61 triệu tỷ đồng. Đồng thời, MB luôn giữ vững định hướng quản trị rủi ro thận trọng, kỷ luật với việc duy trì các chỉ số an toàn hoạt động ở mức cao.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
Bộ Công thương chưa nhận được khiếu nại chính thức về chất lượng xăng E10

Đó là thông tin do Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân báo cáo về việc chuyển sử dụng xăng khoáng sang xăng E10 trên toàn quốc từ 1.6, tại giao ban báo chí do Ban Tuyên giáo - Dân vận T.Ư tổ chức ngày 26.5.
Theo lãnh đạo Bộ Công thương, kế hoạch chuyển đổi từ xăng khoáng (hoàn toàn nhiên liệu hóa thạch) sang việc sử dụng nhiên liệu sinh học, xăng sinh học E5, E10 (pha 5% và 10% etanol vào xăng khoáng) là chủ trương của Chính phủ tại Quyết định số 53/2012/QĐ-TTg ngày 22.11.2012 (Quyết định 53).
Đến ngày 7.11.2025, Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành Thông tư số 50/2025/TT-BCT quy định, kể từ ngày 1.6.2026, xăng không chì phải phối trộn, pha chế thành xăng E10 để sử dụng cho động cơ xăng trên toàn quốc; tiếp tục phối trộn, pha chế xăng E5RON 92 để sử dụng cho động cơ xăng đến hết 31.12.2030.
Từ cuối năm 2024, Bộ Công thương đã khảo sát tại các địa phương có mức tiêu thụ xăng dầu lớn, các doanh nghiệp có thị phần xăng dầu lớn, làm việc với các chuyên gia về động cơ, nhiên liệu của Đại học Bách khoa Hà Nội, Trung tâm nhiên liệu xanh toàn cầu, tham khảo kinh nghiệm thực tế sử dụng xăng sinh học tại các nước đã sử dụng xăng sinh học… về tác động của xăng sinh học đến hiệu suất và tuổi thọ động cơ.
Bộ Công thương cũng gửi văn bản yêu cầu đánh giá về mức độ đáp ứng của phương tiện đối với xăng E10 đến Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), Hiệp hội các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM), Trung tâm đăng kiểm Việt Nam, các hãng sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy lớn như Toyota, Honda, Huyndai…
Các văn bản VAMA, VAM cũng như các hãng sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy đều khẳng định hầu hết ô tô, xe máy đang lưu hành tại Việt Nam đều sử dụng được xăng E10 (ngoại trừ một dòng xe tải hạng nhẹ sản xuất từ 1996 đến 2023 thì dừng sản xuất và một số xe máy). Tuy nhiên, để đảm bảo mọi loại xe đều có nhiên liệu sử dụng, tránh mọi nguy cơ (dù là rất nhỏ) có loại xe quá cũ không tương thích với xăng E10, Bộ Công thương quyết định vẫn duy trì xăng E5RON 92 đến năm 2030.
Thứ trưởng Bộ Công thương khẳng định, ngay khi Thông tư 50 được ban hành, Bộ Công thương phối hợp cùng các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có liên quan chuẩn bị nguồn cung xăng khoáng, ethanol (E100); chuẩn bị cơ sở hạ tầng lưu chứa, phối trộn; nâng cấp, chuẩn bị hạ tầng phân phối xăng E10 đến người tiêu dùng.
Thứ trưởng Bộ Công thương khẳng định, toàn bộ hệ thống bán lẻ đã có kinh nghiệm kinh doanh xăng E5RON 92 nên về cơ bản, có thể tiếp nhận và phân phối E10 mà không gặp trở ngại lớn về kỹ thuật. Hệ thống phân phối tới người dùng xăng của các doanh nghiệp lớn về cơ bản không gặp nhiều khó khăn trong xử lý các vấn đề nêu trên. Hiện nay, 2 doanh nghiệp đầu mối lớn nhất là Petrolimex và PVOil chiếm khoảng 70 - 75% thị phần bán lẻ xăng dầu.
Trong đó, PVOil đã thử nghiệm phân phối E10 tại Hà Nội và Hải Phòng từ đầu tháng 8.2025 và chính thức phân phối xăng E10 trên toàn hệ thống gần 1.000 cửa hàng xăng dầu trên cả nước từ ngày 15.5. Petrolimex thử nghiệm bán E10 tại một số cửa hàng trên địa bàn TP.HCM và chính thức phân phối trên toàn hệ thống từ ngày 20.5.
"Thực tế phân phối xăng E5, cũng như thử nghiệm, phân phối xăng E10 từ tháng 8.2025 ở một số địa phương và từ giữa tháng 5.2026 trên phạm vi toàn quốc của PVOil và Petrolimex, Bộ Công thương và các doanh nghiệp chưa nhận được khiếu nại chính thức nào về chất lượng xăng sinh học E5, E10 hay các tác động tiêu cực đến hiệu suất hoạt động và tuổi thọ của động cơ từ phía người sử dụng xăng", ông Tân nói.
Thứ trưởng Bộ Công thương khẳng định, sử dụng nhiên liệu sinh học, xăng sinh học là chủ trương đúng đắn để phát triển bền vững và góp phần ổn định, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Việc tăng cường sử dụng nhiên liệu sinh học, xăng sinh học là rất cần thiết.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bà Phạm Thị Hoa, hộ kinh doanh tại một chợ truyền thống ở TP.HCM, cho hay hộ của bà có doanh thu năm ước dưới 500 triệu đồng, tức thuộc nhóm 1, không đóng thuế, không xuất hóa đơn. Tuy nhiên, từ cuối tháng 3, bà nhận được hợp đồng cung cấp rau sạch thường xuyên cho bếp ăn của một công ty may mặc với doanh thu từ khách hàng mới này là trên 500 triệu đồng/năm. Như vậy tổng doanh thu của hộ kinh doanh nhà bà ước trên 1 tỉ đồng.
"Bán hàng cho công ty họ yêu cầu xuất hóa đơn nhưng lên thuế thì được trả lời là doanh thu chưa vượt 500 triệu đồng, chưa xuất được và hướng dẫn về ghi bảng kê bán hàng, khi nào vượt trên 500 triệu đồng/năm thì họ mở khóa cho xuất hóa đơn. Trong khi đó, công ty mua hàng đòi hóa đơn ngay khi cung cấp, không thể chờ đến cuối năm nên tôi chưa biết xử trí ra sao", bà Hoa lo lắng.
Anh Lê Chí Đạt, kinh doanh hàng thời trang tại TP.HCM qua cửa hàng bán lẻ trực tiếp lẫn sàn thương mại điện tử, doanh thu trên 3 tỉ đồng/năm, thuộc nhóm 3. Tuy nhiên, doanh thu 3 tháng vừa rồi giảm mạnh so với dự kiến nên khi kê khai quý 1, anh muốn chuyển sang nhóm 2 và tính thuế % trên doanh thu. "Nhưng tôi cũng lo nhỡ các quý sau, tình hình kinh tế tốt hơn, doanh thu vọt lên nhóm 3, lúc đó lại đổi để đóng thuế 17% trên lợi nhuận có được hay không?", anh Đạt băn khoăn và cho biết đang "rối như canh hẹ" với việc kê khai thuế theo cách chọn nhóm, "nhảy" nhóm này.
Theo quy định, hộ kinh doanh đóng thuế theo doanh thu từ đầu năm nay được chia làm 3 nhóm, với cơ chế kê khai và nộp thuế khác nhau. Trong đó, nhóm 2 và 3 được trừ mức 500 triệu đồng/năm trước khi tính thuế theo tỷ lệ. Đồng thời, doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng cũng tương ứng lên 500 triệu đồng.
Các quy định nói trên có hiệu lực từ ngày 1.1. Tuy nhiên, sau hơn 4 tháng, mới đây, trong hồ sơ gửi Bộ Tư pháp về dự thảo luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Thuế thu nhập cá nhân, luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và luật Thuế giá trị gia tăng, Bộ Tài chính lại đề xuất thay vì quy định "cứng" ngưỡng doanh thu như tại luật, sẽ giao Chính phủ quy định mức này. Tức là ngưỡng doanh thu 500 triệu đồng/năm có thể thay đổi.
Hiện tại, hộ và cá nhân kinh doanh tự ước tính mức doanh thu để chọn nhóm khi kê khai thuế cho quý đầu năm. Đa số tham chiếu doanh thu từ năm 2025 để chọn nhóm nhưng kết quả kinh doanh mới chỉ 1 quý đã có nhiều biến động bất ngờ và việc "nhảy" nhóm là không thể tránh khỏi. Đáng lưu ý, trong mấy ngày gần đây, nhiều cơ sở thuế địa phương gửi thông báo đến hộ kinh doanh thuộc nhóm 1 (doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm) cho biết ngừng sử dụng hóa đơn điện tử theo quy định về quản lý thuế với hộ, cá nhân kinh doanh tại điều 5, Nghị định 68/2026 của Chính phủ. Điều này khiến những băn khoăn, lo ngại về kê khai, "nhảy" nhóm, hóa đơn… đối với hộ kinh doanh càng cao hơn.
Liên quan yêu cầu hộ có doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm không áp dụng hóa đơn, theo đánh giá của TS Nguyễn Ngọc Tú (Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội), đây là "một điểm thụt lùi". Bởi về nguyên tắc, hóa đơn là hình thức phổ biến và là quyền lợi của hộ kinh doanh, còn việc được miễn thuế hay không là vấn đề khác. Hơn nữa, Nghị định 123/2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ cũng nêu rõ khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ người bán phải xuất hóa đơn cho người mua và phải khuyến khích hộ kinh doanh sử dụng hóa đơn.
Thế nên, với trường hợp nhóm 1 nhảy bậc lên nhóm 2 không xuất được hóa đơn, theo ông Tú, trước mắt hộ kinh doanh liên hệ với cơ quan thuế để được cấp hóa đơn theo từng lần phát sinh. "Nếu không áp dụng hóa đơn, các doanh nghiệp mua hàng từ hộ kinh doanh có doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm sẽ không có chứng từ để hạch toán chi phí là gây thiệt thòi họ cũng như đánh mất cơ hội làm ăn của hộ kinh doanh nhỏ", TS Nguyễn Ngọc Tú khuyến cáo.
Cụ thể hơn, chuyên gia thuế Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, cho rằng khi xác định và phân nhóm hộ kinh doanh đã có 2 quan điểm. Một là theo quy định của Nghị định 68/2026, dựa vào doanh thu của năm 2025 để phân nhóm nghĩa vụ thuế năm nay. Hai là theo ý kiến của một số cơ sở thuế địa phương, sử dụng ước tính doanh thu năm nay để phân nhóm nghĩa vụ thuế. Mới đây, tại một hội thảo về giải pháp giúp hộ kinh doanh kê khai, đại diện Cục Thuế cũng chọn quan điểm 1, tức là theo Nghị định 68, dựa vào doanh thu của năm 2025 để phân nhóm nghĩa vụ thuế năm nay. Đến giữa năm nếu doanh thu có biến động, "nhảy" nhóm, hộ kinh doanh cũng không được điều chỉnh mà phải chờ sang 2027 mới dựa vào kết quả kinh doanh năm 2026 thế nào để áp dụng cho năm sau.
Ông Lê Văn Tuấn nói: "Theo tôi, cả 2 quan điểm trên đều chưa nên và khó áp dụng ngay trong năm 2026 - năm đầu tiên hộ kinh doanh bắt đầu đóng thuế theo kê khai doanh thu. Hãy dựa vào doanh thu thực tế năm nay để phân nhóm nghĩa vụ thuế cho năm sau. Còn năm nay thì nên để hộ kinh doanh đóng thuế theo thực tế doanh thu toàn năm, làm thế nào để có lợi nhất cho hộ kinh doanh".
"Năm 2026, hộ kinh doanh nên được lựa chọn tính thuế theo % doanh thu, hay % lợi nhuận, bất kể doanh thu bao nhiêu, như vậy sẽ không bị nhảy nhóm. Từ 2027 trở đi, khi hộ kinh doanh đã có doanh thu thực tế của 2026 mới lấy đó làm cơ sở để xác định nghĩa vụ thuế", ông Tuấn đề xuất và nói thêm về nguyên tắc, bất kỳ sự thay đổi lớn nào của chính sách thuế cũng cần một giai đoạn chuyển tiếp và thích nghi. Việc xóa bỏ thuế khoán và chuyển sang thuế kê khai là phù hợp với xu hướng thực tế hiện nay. Tuy nhiên, việc thay đổi phương pháp tính thuế từ thuế khoán sang thuế tính theo lợi nhuận, bỏ qua giai đoạn tính thuế theo kê khai % doanh thu thực tế, là một thay đổi quá lớn đối với hộ kinh doanh nên cần có thời gian làm quen và thích nghi.
"Khảo sát cho thấy thời gian để hộ, cá nhân kinh doanh có thể chuyển tiếp và thích nghi là ít nhất từ 1,5 - 2 năm. Năm đầu tiên bắt đầu thực hiện đóng thuế theo thực tế doanh thu sẽ giúp hộ kinh doanh xác định nghĩa vụ thuế chính xác hơn. Qua đó, có thời gian chuẩn bị và thích nghi tốt hơn. Nhà nước có thời gian tiếp nhận góp ý để ban hành chính sách phù hợp hơn với thực tế, cơ quan thuế có thời gian chuẩn bị hệ thống phù hợp với chính sách thuế mới", ông Tuấn phân tích.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sau cuộc họp giữa Ngân hàng Nhà nước VN (NHNN) với các NH ngày 9.4 đến nay, đã có hơn 30 nhà băng đồng loạt giảm lãi suất huy động, mức phổ biến từ 0,1 - 0,5%/năm. Trong đợt giảm lãi suất này, có một số NH đã 2 lần cắt giảm như Agribank, SeABank.
Đối với các kỳ hạn dưới 6 tháng, lãi suất tiết kiệm đa số kịch trần ở 4,75%/năm. Từ 6 tháng trở lên, lãi suất vẫn khá cạnh tranh, dao động phổ biến ở 5,3 - 6,8%/năm. Riêng một số NH có mức lãi suất cao trên 8%/năm như NH số Cake by VPBank áp dụng mức 8,5%/năm khi khách hàng mới gửi từ 100 triệu đồng trở lên. Kỳ hạn 6 tháng có lãi suất mức 7,05%/năm tại Bac A Bank; VCBNeo có mức lãi suất 7%/năm khi gửi trực tuyến; PGBank có lãi suất 6,9%/năm… Đối với kỳ hạn 12 tháng trở lên, lãi suất huy động của các nhà băng dao động từ 6,7 - 7,2%/năm. Một số NH huy động khối lượng tiền lớn với mức lãi suất khủng như PVCombank áp dụng 10%/năm đối với số tiền gửi đặc biệt lớn. Cake by VPBank áp dụng lãi suất 8,7%/năm.
Trong khi đó, lãi suất cho vay vẫn chưa "nhúc nhích". Lãi suất cho vay tiền đồng bình quân trong tháng 3 của nhóm NH thương mại nhà nước và cổ phần đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 7,4 - 9,7%/năm. Đối với khách hàng vay mua bất động sản, lãi vay 12 - 14%/năm vẫn hiện hữu. Nếu tính riêng đối với từng khách hàng thì lãi vay tăng lên khoảng 1% so với những tháng đầu năm. Còn lãi suất cho vay USD đối với khoản vay mới và cũ ở mức 4 - 5,3%/năm.
Công ty CP chứng khoán KB VN (KBSV) nhận định trong ngắn hạn, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý 2. Bên cạnh đó, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) thuần của các NH vẫn ở mức cao và gần chạm mức trần 85% theo Thông tư 22. Tâm lý nắm giữ và giao dịch tiền mặt trước các thay đổi về chính sách thuế tiếp tục khiến việc huy động của các NH vẫn sẽ còn khó khăn. Ngoài ra, giải ngân đầu tư công khó có đột phá trong quý này cũng sẽ khiến kho bạc tiếp tục bội thu ngân sách. Cả hai yếu tố này đều khiến thu hẹp dòng tiền quay trở lại hệ thống NH. Hơn nữa, diễn biến phức tạp tại khu vực Trung Đông tạo áp lực kép lên lạm phát và tỷ giá khiến NHNN chưa có nhiều dư địa trong việc hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống.
Tương tự, Công ty chứng khoán Vietcombank nhận định bước sang quý 2, thanh khoản hệ thống dự kiến tiếp tục chịu áp lực trong bối cảnh nhu cầu giải ngân tăng mạnh, định hướng giảm lãi suất huy động có thể làm chậm tốc độ cải thiện nguồn vốn đầu vào tại một số NH, đặc biệt là nhóm quy mô vừa và nhỏ hoặc có tăng trưởng tín dụng cao. Bên cạnh đó, khối lượng thị trường mở (OMO) đáo hạn trong tháng 4 vẫn ở mức lớn. Do đó thanh khoản dự kiến kém dồi dào, lãi suất huy động sẽ tiếp tục neo ở mức tương đối cao trong thời gian tới, đặc biệt tại các kỳ hạn trung và dài hạn.
Câu chuyện lãi suất là một trong những vấn đề được cổ đông các NH đặt ra tại các cuộc họp đại hội đồng cổ đông vừa qua. Ông Nguyễn Đức Vinh, Tổng giám đốc VPBank, giải thích: Thanh khoản trong quý 1 tương đối căng thẳng, dẫn đến xu hướng tăng lãi suất huy động của hầu hết các NH. Hiện lãi suất huy động đang tăng cao nhất 3 năm qua ở các kỳ hạn. Tuy nhiên, xu hướng này chỉ duy trì ở mức cao trong một thời gian ngắn nữa và sẽ giảm dần vào cuối quý 2 đầu quý 3. Theo ông Nguyễn Đức Vinh, cuộc họp của tân Thống đốc NHNN với các NH mới đây đã thể hiện quyết tâm rất cao trong việc kiểm soát lãi suất. Do đó, các nhà băng sẽ duy trì lãi suất đi ngang, sau đó sẽ giảm và tiến tới giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ nền kinh tế.
Ông Lê Thanh Tùng, Thành viên HĐQT VietinBank, cũng thừa nhận mặt bằng lãi suất thời gian qua đã tăng nhanh và duy trì ở mức cao, chủ yếu phản ánh nhu cầu cân đối thanh khoản của hệ thống và mức độ cạnh tranh gia tăng, gây áp lực lên chi phí huy động vốn của các NH. Xu hướng lãi suất phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong nước và thế giới, trong đó đặc biệt là diễn biến xung đột tại Trung Đông. Trong kịch bản cơ sở, VietinBank cho rằng chi phí vốn có thể vẫn duy trì ở mức cao trong ngắn hạn, nhưng tốc độ tăng thêm sẽ chậm lại và có cơ sở ổn định dần khi điều kiện thanh khoản thị trường trở nên thuận lợi hơn. Tuy nhiên nếu cú sốc giá dầu kéo dài và USD tiếp tục mạnh lên, áp lực lãi suất tăng có thể kéo dài trong năm 2026.
"Thanh khoản hệ thống hiện nay phản ánh áp lực do tăng trưởng tín dụng nhanh hơn so với tăng trưởng nguồn vốn. Để cân bằng hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô, NHNN đã điều hành linh hoạt các giải pháp để giữ ổn định thanh khoản hệ thống, ổn định mặt bằng lãi suất. Tuy nhiên, những diễn biến phức tạp của thị trường quốc tế đã tạo ra áp lực lớn đến chính sách điều hành của NHNN", ông Tùng phân tích. Theo đánh giá của VietinBank, NHNN sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ thanh khoản hệ thống thông qua các công cụ điều hành như tỷ giá, lãi suất, thị trường mở (OMO), tái cấp vốn, room tín dụng. Các NH cũng kiến nghị xem xét nới lỏng cách tính tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước để giảm áp lực LDR. Đồng thời, NHNN cũng phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.
KBSV kỳ vọng xu hướng hạ nhiệt lãi suất sẽ rõ ràng hơn, với mức giảm bình quân khoảng 0,5 - 1%/năm vào 2 quý cuối năm 2026 nhờ nguồn vốn dồi dào từ dòng vốn đầu tư công giải ngân mạnh mẽ chảy vào hệ thống NH; tình hình xung đột tại Iran hạ nhiệt, giải tỏa áp lực lạm phát, tỷ giá, qua đó giúp NHNN có dư địa hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống NH; nhiều chính sách mới sẽ được đưa ra vào nửa cuối năm từ Chính phủ và NHNN để nỗ lực đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10%, trong đó bao gồm hạ nhiệt mặt bằng lãi suất. "Bước sang nửa sau của năm 2026, mặt bằng lãi suất cho vay sẽ có xu hướng hạ nhiệt rõ nét hơn, tương đồng mức giảm ở mặt bằng lãi suất huy động nhằm hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Xu hướng giảm trong giai đoạn này nhiều khả năng vẫn mang tính chọn lọc, ưu tiên tập trung vào các lĩnh vực động lực như xuất khẩu và sản xuất công nghiệp", KBSV nhận định.
Tin Gốc: Thanh Niên

