Thứ nhất, nếu hộ kinh doanh chắc chắn doanh thu cả năm từ 1 tỉ đồng trở xuống (nếu muốn hủy tờ khai) thì thực hiện gửi văn bản đề nghị hủy Tờ khai 01/CNKD đã nộp đến cơ quan thuế.
Hộ kinh doanh thực hiện ghi sổ theo mẫu S1a – doanh thu ghi theo ngày; sau đó, thực hiện gửi thông báo số tài khoản ngân hàng/ví điện tử đến cơ quan thuế.
Cơ quan thuế không khuyến khích hộ kinh doanh thực hiện điều chỉnh doanh thu về bằng 0. Bởi vì như vậy, xét đúng bản chất thì xem như hộ kinh doanh đang xác định có nghĩa vụ thuế trên 1 tỉ đồng nhưng doanh thu quý bằng 0.
Điều này dẫn tới các quý sau cơ quan thuế sẽ nhắc nhở việc nộp các Tờ khai 01/CNKD. Cuối năm, nếu hộ kinh doanh gửi thông báo doanh thu Mẫu 01/TKN thì hộ sẽ có 2 nghĩa vụ tờ khai chồng chéo nhau.
Thứ hai, nếu hộ kinh doanh chưa chắc chắn về doanh thu cả năm từ 1 tỉ đồng trở xuống thì có 2 lựa chọn:
Một là tiếp tục thực hiện kê khai hàng quý. Cuối năm, hộ tổng hợp doanh thu, nếu doanh thu từ 1 tỉ đồng trở xuống có thể thực hiện thủ tục bù trừ, hoàn trả, hoàn trả kiêm bù trừ thu ngân sách theo quy định của pháp luật quản lý thuế đối với số thuế nộp thừa theo điều 12 Nghị định 68/2026/NĐ-CP.
Hai là thông báo hủy tờ khai thuế gửi đến cơ quan thuế, không kê khai thuế các quý. Tuy nhiên, đến quý phát sinh doanh thu trên 1 tỉ đồng thì hộ kê khai lũy kế toàn bộ doanh thu và nộp hết số thuế phải nộp theo quy định.
Hộ kinh doanh có thể chọn hủy tờ khai hoặc không hủy mà vẫn nộp theo quý để theo dõi doanh thu. Việc này cơ quan thuế không bắt buộc hủy tờ khai hay không.
Thứ ba, nếu hộ kinh doanh có doanh thu lớn, nhưng vẫn đề nghị hủy tờ khai, có thể đối mặt rủi ro phạt vi phạm hành chính do đã cam kết doanh thu cả năm từ 1 tỉ đồng trở xuống và đề nghị hủy tờ khai đã nộp.
Có nhiều hộ kinh doanh doanh thu rất lớn, tách hộ nhưng để chung kho hàng, chuyển dòng tiền không minh bạch… nên cam kết doanh thu năm dưới 1 tỉ đồng để hủy tờ khai thuế sẽ vướng rủi ro này.
Còn các hộ kinh doanh hoạt động bình thường nhưng chưa nắm được doanh thu có thể khai lũy kế lúc doanh thu trên 1 tỉ đồng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Thị trường chứng khoán mở cửa phiên 2/6 với nỗ lực hồi phục sau chuỗi 5 phiên giảm liên tiếp. Tuy nhiên, đà tăng của VN-Index không duy trì được lâu khi lực cầu tỏ ra khá thận trọng, trong khi áp lực bán gia tăng mạnh về cuối phiên khiến các chỉ số quay đầu giảm sâu.
Trong buổi sáng, VN-Index có thời điểm lấy lại sắc xanh nhờ sự hỗ trợ của một số cổ phiếu vốn hóa lớn. Dù vậy, lực đỡ này không đủ mạnh để tạo động lực cho toàn thị trường. Diễn biến rung lắc nhanh chóng xuất hiện trở lại khi dòng tiền vẫn duy trì trạng thái phân hóa.
Bước sang phiên chiều, áp lực bán gia tăng trên diện rộng khiến thị trường chìm trong sắc đỏ. Kết thúc phiên giao dịch ngày 2/6, VN-Index giảm 18,07 điểm, tương đương 0,98%, xuống 1.826,46 điểm, ghi nhận phiên giảm thứ sáu liên tiếp.
Thanh khoản toàn thị trường đạt hơn 727 triệu cổ phiếu, tương ứng giá trị giao dịch 19.486 tỷ đồng. Trong đó, khối lượng khớp lệnh đạt gần 645 triệu đơn vị, còn giao dịch thỏa thuận đạt hơn 82 triệu cổ phiếu.
Độ rộng thị trường nghiêng mạnh về bên bán với 226 mã giảm giá, trong khi chỉ có 87 mã tăng và 52 mã đứng giá.
Xét theo nhóm ngành, công nghệ là một trong số ít lĩnh vực giữ được đà tăng. Chỉ số ngành công nghệ tăng 0,64%, dẫn đầu thị trường về mức tăng.
Cổ phiếu FPT tăng 2,61% lên 74.800 đồng/cổ phiếu với khối lượng giao dịch hơn 17,3 triệu đơn vị. Bên cạnh đó, CMG tăng 3,84%, ST8 tăng 5,06% và HPT tăng 3,7%, góp phần nâng đỡ nhóm ngành này.
Ngược lại, nhóm tài chính trở thành lực cản lớn nhất của thị trường khi giảm 1,18% và cũng là nhóm có giá trị giao dịch cao nhất với hơn 7.760 tỷ đồng.
Nhiều cổ phiếu ngân hàng và chứng khoán chịu áp lực bán mạnh như HDB giảm 3,3%, VIX giảm 2,79%, SHS giảm 2,75%, VND giảm 2,28%, CTG giảm 2,03%, VPB giảm 1,86% và MBB giảm 1,79%. Điểm sáng hiếm hoi thuộc về ACB khi tăng 0,8%.
Nhóm bất động sản diễn biến phân hóa. Một số mã vẫn duy trì được đà tăng như HQC tăng 6,61%, KDH tăng 1,32% và DLG tăng 0,74%.
Tuy nhiên, phần lớn cổ phiếu trong ngành chịu áp lực điều chỉnh, nổi bật là NVL giảm 6,89%, OGC giảm 6,77%, PDR giảm 5,28%, HHS giảm 4,31%, CEO giảm 3,61%, TCH giảm 3,23% và DIG giảm 2,27%.
Ở nhóm năng lượng, sắc đỏ chiếm ưu thế khi chỉ số ngành giảm 2,64% - mức giảm mạnh nhất trong các nhóm ngành chính.
Các cổ phiếu dầu khí đồng loạt đi xuống như BSR giảm 3,15%, PVD giảm 2,5%, PLX giảm 2,26%, PVS giảm 2,07% và OIL giảm 2,01%.
Nhóm dịch vụ hạ tầng cũng giao dịch kém tích cực với mức giảm 1,42%. Nhiều cổ phiếu điện và khí đốt giảm giá như GAS giảm 2,38%, NT2 giảm 1,96%, POW giảm 1,81% và REE giảm 1,37%.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM phối hợp với Trung tâm Climatwords (ĐH Monash Úc) ngày 10.7 tổ chức Hội thảo Khu công nghiệp (KCN) Net Zero.
Phát biểu tại hội thảo, Phó tổng giám đốc Công ty CP đầu tư và phát triển điện Becamex VSIP (BV Power) Nguyễn Lý Trung cho rằng: "KCN có điện xanh không?" là câu hỏi đầu tiên mà nhiều nhà đầu tư nước ngoài đặt ra bởi các dự án đầu tư nước ngoài đều hướng đến sản xuất xuất khẩu".
Theo ông Trung, các KCN nếu không có giải pháp năng lượng xanh, nhà đầu tư hoàn toàn có thể chuyển qua chỗ khác hoặc thậm chí lựa chọn một quốc gia khác. Điều đó cho thấy năng lượng xanh đang trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng trong thu hút đầu tư. Không chỉ điện sạch, các doanh nghiệp còn quan tâm chứng chỉ năng lượng tái tạo (I-REC), các yêu cầu về giảm phát thải carbon và lộ trình đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. "Một tín hiệu rất tích cực là cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) đang ngày càng được hoàn thiện. Đặc biệt, Thông tư số 29/2026 của Bộ Công thương đã mở rộng đối tượng tham gia khi hạ ngưỡng khách hàng tiêu thụ điện lớn từ 200.000 kWh/tháng xuống còn 20.000 kWh/tháng đối với mô hình đấu nối bằng đường dây riêng", ông Trung nói và nhấn mạnh điện mặt trời mái nhà kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng mang lại hai lợi ích lớn. Vừa bổ sung nhanh nguồn điện tại chỗ, góp phần giải quyết tình trạng thiếu điện cục bộ ở các KCN tập trung, vừa giúp giảm tải cho lưới điện truyền tải quốc gia. Chẳng hạn, một dự án điện mặt trời công suất khoảng 50 MW, thời gian thi công chỉ khoảng 6 tháng nên có thể đưa nguồn điện vào vận hành rất nhanh.
Tuy vậy, để dòng điện xanh "chảy" hiệu quả nhất vào KCN, ông Trung kiến nghị cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế DPPA theo hướng linh hoạt, phù hợp với thực tiễn để nhiều doanh nghiệp trong KCN có thể tiếp cận nguồn điện xanh. "Chúng tôi đề xuất khuyến khích phát triển các nguồn điện tái tạo tại chỗ, kết hợp điện mặt trời mái nhà, các trang trại điện mặt trời liền kề KCN và hệ thống lưu trữ năng lượng nhằm bổ sung nguồn điện cục bộ, giảm áp lực lên lưới điện quốc gia và nâng cao năng lực thu hút đầu tư. Bên cạnh đó, doanh nghiệp mong muốn sớm hình thành hệ sinh thái chuyển đổi xanh đồng bộ, bao gồm dịch vụ kiểm toán năng lượng, kiểm kê khí nhà kính, hỗ trợ doanh nghiệp đạt các chứng chỉ năng lượng tái tạo và từng bước xây dựng tổ chức cấp chứng chỉ trong nước", ông Trung nhấn mạnh và cho biết công ty đang triển khai các hệ thống điện mặt trời mái nhà, trong thời gian tới sẽ phát triển mô hình điện mặt trời trang trại (solar farm) đặt liền kề các KCN, kết hợp hệ thống pin lưu trữ.
Tương tự, đại diện Công ty CP cao su Phước Hòa nói có 10 dự án điện mặt trời với tổng công suất dự kiến 391,3 MWp sẽ cung cấp điện sạch trực tiếp cho các KCN Tân Bình, Bắc Tân Uyên 2, Bắc Tân Uyên 4, Nam Tân Uyên mở rộng, Bàu Bàng 4 và Cụm công nghiệp Bố Lá, đáp ứng một phần nhu cầu phụ tải của khu vực, qua đó góp phần xây dựng các KCN xanh, tự chủ năng lượng. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, đại diện Công ty Phước Hòa kiến nghị sớm hoàn thiện cơ chế DPPA, đặc biệt chính sách cho hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS), thị trường tín chỉ carbon và cơ chế ưu đãi đầu tư nhằm thúc đẩy phát triển mô hình KCN Net Zero.
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Phạm Bình An, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, phân tích: Sau khi mở rộng địa giới, TP.HCM hiện có 66 KCN và dự kiến tăng lên 105 khu với tổng diện tích khoảng 50.000 ha. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về chuyển đổi mô hình phát triển.
Ông Trần Văn Bích, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, bổ sung: TP.HCM sau hợp nhất đã hình thành một không gian công nghiệp quy mô lớn nhất cả nước khi hội tụ đầy đủ 3 trụ cột gồm công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến - chế tạo và công nghiệp nền tảng như năng lượng, hóa dầu, luyện kim, cảng biển. Đây là lợi thế mà rất ít địa phương có được, tạo tiền đề để xây dựng chuỗi giá trị công nghiệp hoàn chỉnh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Cùng với đó, TP còn có dư địa phát triển rất lớn với 116 KCN có tổng diện tích hơn 48.000 ha, rất thuận lợi để quy hoạch các KCN thế hệ mới theo hướng sinh thái, công nghệ cao, phát thải thấp và gắn với hệ thống logistics hiện đại. Tuy nhiên, TP.HCM cũng đang đối mặt với không ít thách thức. Đó là tỷ lệ lấp đầy tại nhiều KCN, quỹ đất sạch ngày càng hạn chế, trong khi hạ tầng logistics vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Đặc biệt, một số ngành công nghiệp nặng vẫn có cường độ phát thải khí nhà kính cao, đòi hỏi quá trình chuyển đổi mạnh mẽ hơn trong thời gian tới…
Khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM cho thấy nhóm ngành phát thải trong KCN của TP chỉ chiếm khoảng 12% giá trị sản xuất công nghiệp, nhóm phát thải cao chiếm gần 18%, trong khi các ngành phát thải trung bình và thấp chiếm gần 70%. "TP chưa có cơ chế chuyên biệt khuyến khích doanh nghiệp giảm phát thải, chưa hình thành cơ chế tài chính xanh hoặc thị trường carbon để tạo động lực đầu tư. Các chính sách hỗ trợ vẫn chủ yếu dựa trên lĩnh vực ưu tiên, chưa gắn với kết quả giảm phát thải hay các tiêu chí ESG và mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Bên cạnh đó, việc thiếu hệ thống đo lường và giám sát phát thải, thiếu tiêu chí định lượng cũng khiến hiệu quả chính sách chưa được đánh giá đầy đủ…", ông Bích phân tích.
Từ đó, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM đưa ra 8 điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ, gồm chính sách chưa theo kịp mô hình tăng trưởng mới; thiếu cơ chế thúc đẩy đổi mới công nghệ; liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu; chuyển đổi công nghiệp xanh còn chậm; chưa gắn với quy hoạch không gian công nghiệp vùng; hạ tầng công nghiệp và logistics còn nhiều hạn chế; thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao; và cơ chế tài chính cho công nghiệp xanh còn chưa đáp ứng yêu cầu.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng 12/6, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026-2031 khai mạc kỳ họp thứ tư (kỳ họp chuyên đề) để xem xét, quyết định nhiều nội dung quan trọng thuộc thẩm quyền, trong đó tập trung cụ thể hóa và triển khai các cơ chế, chính sách theo Luật Thủ đô năm 2026.
Tại phiên thảo luận tổ số 5, nhiều đại biểu đã tập trung góp ý vào các dự thảo nghị quyết thuộc lĩnh vực văn hóa - xã hội và kinh tế - ngân sách. Nhiều ý kiến đánh giá cao các cơ chế đặc thù được đề xuất theo Luật Thủ đô năm 2026, đồng thời đề nghị tiếp tục hoàn thiện để các chính sách sớm phát huy hiệu quả trong thực tiễn.
Góp ý vào dự thảo Nghị quyết Quy định hoạt động đầu tư kinh doanh sản phẩm, dịch vụ được tổ chức và vận hành trong thời gian ban đêm, đại biểu Phạm Thị Thanh Hương nhận định đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Hà Nội khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế đêm, phát huy lợi thế về văn hóa, du lịch và dịch vụ, từ đó hình thành động lực tăng trưởng mới cho Thủ đô.
Theo đại biểu Hương, kinh tế đêm có thể mở rộng không gian tiêu dùng, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách. Tuy nhiên, lĩnh vực này cũng liên quan trực tiếp đến giao thông, môi trường, an ninh trật tự, phòng cháy, chữa cháy và đời sống dân cư. Vì vậy, việc phân cấp cho cấp xã quản lý các khu, tuyến, điểm kinh tế đêm cần được cân nhắc kỹ lưỡng để bảo đảm tính thống nhất trong quản lý đô thị.
Nêu quan điểm về định hướng phát triển, đại biểu đặt vấn đề: "Điều quan trọng nhất cần làm rõ là Hà Nội đang xây dựng một nghị quyết về phát triển kinh tế đêm hay chỉ là một nghị quyết kéo dài thời gian các loại hình kinh doanh hiện có?"
Theo đại biểu, giá trị của kinh tế đêm không nằm ở việc các cơ sở kinh doanh mở cửa muộn hơn, mà ở khả năng tạo ra các sản phẩm văn hóa, du lịch đặc sắc mang bản sắc Hà Nội. "Đây mới là yếu tố quyết định sức hấp dẫn và tính bền vững của kinh tế đêm", đại biểu Hương nhấn mạnh.
Cùng góp ý về dự thảo nghị quyết này, đại biểu Nguyễn Hồng Dân đề nghị thành phố quy định rõ trách nhiệm của đơn vị vận hành và ban quản lý trong xử lý tiếng ồn, rác thải phát sinh vào ban đêm, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và chất lượng sống của người dân.
Còn đại biểu Nguyễn Danh Phúc cho rằng, thành phố đang đẩy mạnh cải cách hành chính nên cần làm rõ liệu các quy định mới từ kinh tế đêm có làm phát sinh thêm thủ tục, điều kiện kinh doanh và chi phí tuân thủ đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh hay không.
Đồng thời, đại biểu Phúc đề nghị UBND thành phố đánh giá cụ thể hơn hiệu quả dự kiến của chính sách, như mức đóng góp vào tăng trưởng GRDP, khả năng thúc đẩy phát triển du lịch, thương mại, dịch vụ, tạo việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động trẻ và lao động trong các ngành công nghiệp văn hóa, sáng tạo.
Thảo luận về các nghị quyết thuộc lĩnh vực kinh tế - ngân sách, đại biểu Nguyễn Hồng Dân đánh giá cao nỗ lực của thành phố trong việc xây dựng các cơ chế đặc thù nhằm khơi thông nguồn lực cho phát triển.
Trong đó, đại biểu đặc biệt quan tâm đến dự thảo Nghị quyết quy định chính sách ưu đãi, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực công nghiệp môi trường và dịch vụ môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Theo đại biểu Dân, việc hỗ trợ tới 70% lãi suất vay vốn từ Quỹ Đầu tư phát triển thành phố trong thời gian ưu đãi 10 năm là bước đi mang tính đột phá để cụ thể hóa các cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô năm 2026, tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào các mô hình sản xuất xanh, tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải.
Đại biểu cũng đề nghị nghiên cứu cơ chế hỗ trợ linh hoạt đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề phụ nhưng thuộc các lĩnh vực ưu tiên như công nghệ xanh, chuyển đổi số.
Tuy nhiên, để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, đại biểu cho rằng thành phố cần sớm ban hành bộ tiêu chí kỹ thuật rõ ràng đơn giản, dễ áp dụng nhằm xác định thế nào là mô hình kinh tế tuần hoàn. "Nếu thủ tục xác nhận quá phức tạp, doanh nghiệp sẽ khó tiếp cận chính sách và điểm nghẽn sẽ xuất hiện ngay từ khâu hồ sơ", đại biểu Nguyễn Hồng Dân lưu ý.
Đối với Nghị quyết quy định việc sử dụng, khai thác quỹ đất nông nghiệp tại bãi sông, bãi nổi ở các tuyến sông có đê để sản xuất nông nghiệp, đại biểu Phạm Hải Hoa đánh giá đây là một chính sách mang tính đột phá, mở ra cơ hội khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai còn nhiều dư địa của Thủ đô.
Theo đại biểu, Hà Nội hiện có hệ thống đê điều dài khoảng 770km, với hơn 36.000ha bãi sông và lòng sông. Nếu được khai thác hợp lý, đây sẽ là nguồn lực kinh tế quan trọng, tạo không gian phát triển cho nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao gắn với du lịch trải nghiệm.
Đại biểu cho rằng thực tế đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp du lịch tại các vùng bãi sông, bãi nổi cho hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, nếu không có quy định chặt chẽ, việc khai thác quỹ đất này rất dễ bị biến tướng, nhất là liên quan đến quy mô công trình, diện tích sử dụng và mục đích khai thác.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

