Các công ty chứng khoán cho rằng VN-Index vẫn duy trì xu hướng tăng trung hạn tích cực, dù áp lực chốt lời quanh vùng đỉnh đang gia tăng. Dòng tiền được kỳ vọng tiếp tục phân hóa vào một số nhóm ngành như ngân hàng, thép, bán lẻ, cảng biển và cao su.
Theo nhận định của CTCK Vietcombank (VCBS), VN-Index vẫn vận động tích cực quanh vùng đỉnh với các nhịp tăng giảm đan xen cùng sự phân hóa giữa các nhóm cổ phiếu. Thanh khoản thị trường có dấu hiệu cải thiện trong các phiên gần đây được xem là tín hiệu cho thấy tâm lý kỳ vọng của nhà đầu tư đang quay trở lại.
VCBS khuyến nghị nhà đầu tư tiếp tục duy trì tỷ trọng cổ phiếu trong danh mục, đồng thời cân nhắc giải ngân ở các nhịp rung lắc. Công ty ưu tiên các cổ phiếu giữ được vùng hỗ trợ hoặc đang thu hút dòng tiền thuộc nhóm ngân hàng, bán lẻ và thép.
Trong khi đó, CTCK Tiên Phong (TPBS) đánh giá VN-Index vẫn duy trì quán tính tăng điểm trong phiên cuối tuần trước, với thanh khoản duy trì trên mức trung bình 20 phiên, phản ánh lực cầu vẫn tương đối tích cực.
Tuy nhiên, TPBS cho rằng áp lực cung ngắn hạn vẫn hiện hữu khi chỉ số chưa thể vượt vùng kháng cự quanh 1.925 điểm. Công ty dự báo thị trường có thể xuất hiện thêm các nhịp rung lắc do áp lực chốt lời gia tăng. Trong trường hợp điều chỉnh kỹ thuật xảy ra, vùng 1.860 điểm được kỳ vọng đóng vai trò hỗ trợ tâm lý quan trọng.
Dù vậy, TPBS vẫn đánh giá xu hướng tăng trung hạn của thị trường đang được duy trì nhờ cấu trúc kỹ thuật ổn định và các vùng hỗ trợ bên dưới còn tương đối dày. Nhà đầu tư được khuyến nghị hạn chế mua đuổi, ưu tiên tận dụng các nhịp điều chỉnh để cơ cấu danh mục vào những cổ phiếu có xu hướng tăng và dòng tiền duy trì tích cực.
Theo CTCK Phú Hưng (PHS), VN-Index xuất hiện mẫu hình nến Spinning Top trong bối cảnh thanh khoản gia tăng, cho thấy áp lực bán vẫn khá lớn quanh vùng đỉnh cũ. Chỉ số vẫn có thể tiếp tục tăng theo quán tính nhờ lực đỡ từ nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn, với vùng kháng cự gần quanh 1.950 điểm.
Tuy nhiên, PHS lưu ý chỉ báo RSI đã đi vào vùng quá mua, trong khi MACD có dấu hiệu chững lại, cho thấy động lực tăng đang suy yếu dần. Nếu độ rộng thị trường không được cải thiện, rủi ro đảo chiều có thể xuất hiện khi nhóm cổ phiếu dẫn dắt giảm nhiệt.
PHS xác định vùng hỗ trợ gần của VN-Index quanh 1.850-1.880 điểm. Công ty khuyến nghị nhà đầu tư tiếp tục quản trị danh mục hiện tại, duy trì nắm giữ với các cổ phiếu chưa vi phạm vùng hỗ trợ và chưa vội mở vị thế mua mới nếu chưa xuất hiện tín hiệu bứt phá đủ tin cậy.
Các nhóm ngành được PHS đánh giá đáng chú ý gồm ngân hàng, cao su, cảng biển và thép.
Theo ông Nguyễn Thế Minh – Giám đốc Khối Ngân hàng đầu tư của Công ty Chứng khoán An Bình, dòng tiền trong tháng 4/2026 tập trung mạnh vào nhóm bất động sản vốn hóa lớn, đặc biệt là cổ phiếu thuộc hệ sinh thái Vingroup.
Giá trị giao dịch bình quân của nhóm này tăng hơn 20% so với tháng trước và đóng vai trò chính trong việc kéo VN-Index đi lên. Trong khi đó, nhiều nhóm ngành như dầu khí, hóa chất, công nghệ hay năng lượng lại ghi nhận thanh khoản giảm.
Theo ông Minh, điều này cho thấy dòng tiền đang có xu hướng rút khỏi các nhóm tăng nóng để tập trung vào cổ phiếu dẫn dắt thị trường, phản ánh tâm lý thận trọng và chọn lọc của nhà đầu tư.
Dù VN-Index tăng mạnh, nhiều cổ phiếu vẫn đi ngang hoặc giảm giá, khiến không ít nhà đầu tư chưa đạt mức lợi nhuận như kỳ vọng. Thị trường cũng thường xuất hiện trạng thái “xanh vỏ đỏ lòng”, khi chỉ số tăng nhưng số mã giảm giá vẫn chiếm ưu thế.
Bước sang những ngày đầu tháng 5/2026, dòng tiền bắt đầu lan sang một số nhóm khác như ngân hàng và cổ phiếu vốn hóa vừa, nhỏ.
Thanh khoản thị trường cải thiện nhưng dòng tiền chưa thực sự bùng nổ do tâm lý dè dặt vẫn còn. Ông Minh cho rằng nếu VN-Index vượt vùng 1.920 điểm, dòng tiền đầu cơ có thể gia tăng mạnh hơn.
Ngoài yếu tố dòng tiền trong nước, kỳ vọng nâng hạng thị trường cũng được xem là động lực hỗ trợ chứng khoán Việt Nam trong trung và dài hạn, giúp thu hút thêm vốn ngoại và cải thiện tính minh bạch của thị trường.
Theo ông Minh, nhiều nhà đầu tư vẫn thua lỗ dù thị trường phục hồi do ba sai lầm phổ biến: giữ cổ phiếu quá lâu khi thị trường giảm, sử dụng margin cao và chọn sai cổ phiếu.
Hiện dòng tiền chủ yếu tập trung ở một số nhóm dẫn dắt như cổ phiếu “họ Vin”, ngân hàng, chứng khoán và thép, thay vì lan tỏa toàn thị trường.
Vị chuyên gia đánh giá xu hướng thị trường vẫn tích cực nhờ rủi ro bên ngoài hạ nhiệt và dòng tiền duy trì ổn định.
Một trong số đó là kiến nghị ban hành quy định, hướng dẫn cụ thể về cơ chế, cách thức huy động, thu mua nguồn vàng trong dân làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, chế tác vàng trang sức, mỹ nghệ.
Trong đó, cho phép các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận phù hợp với pháp luật dân sự để sản xuất vàng trang sức mỹ nghệ.
Không đồng tình với đề xuất trên, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, về bản chất, cho phép doanh nghiệp vay vàng trực tiếp từ người dân với lãi suất thỏa thuận chính là mở lại kênh tín dụng bằng vàng dưới một hình thức khác, lợi bất cập hại.
Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro vĩ mô như: rủi ro hệ thống, làm suy yếu vai trò của tiền đồng; hình thành một thị trường tín dụng ngầm bằng vàng rất khó kiểm soát. Nhà nước không thể giám sát quy mô, dòng tiền, mức độ rủi ro.
"Doanh nghiệp vay vàng nhưng doanh thu lại bằng tiền đồng. Khi giá vàng biến động mạnh, doanh nghiệp không chỉ chịu rủi ro kinh doanh mà còn gánh thêm rủi ro tài chính. Nếu mất khả năng trả nợ, thiệt hại sẽ chuyển sang phía người dân.
Đáng chú ý, khi vàng trở thành công cụ sinh lãi, người dân có xu hướng nắm giữ vàng thay vì gửi tiết kiệm bằng tiền. Điều này đi ngược nỗ lực củng cố niềm tin vào tiền đồng của Ngân hàng Nhà nước", ông Nhân lý giải.
Vị chuyên gia nhấn mạnh, trước kia, Việt Nam từng trải qua giai đoạn "vàng hóa" nền kinh tế rất nặng nề. Khi đó, hệ thống ngân hàng huy động vàng, cho vay vàng. Doanh nghiệp vay vàng để kinh doanh, trong khi người dân coi vàng như phương tiện thanh toán song song với tiền.
Điều này gây nhiều hệ quả như: chính sách tiền tệ bị suy yếu, tỷ giá chịu áp lực lớn... Năm 2012, Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng ra đời với mục tiêu chính là chấm dứt tình trạng "vàng hóa" nền kinh tế, đưa vàng ra khỏi lưu thông tín dụng. Không có lý gì hiện tại lại cho phép tái diễn.
"Vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là tạo điều kiện để doanh nghiệp vay vàng trong dân mà là tìm cách chuyển hóa nguồn vàng trong dân thành nguồn lực cho nền kinh tế một cách an toàn, thông qua hệ thống tài chính chính thức, dưới sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước", ông Nhân nói.
Ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường ĐH Nguyễn Trãi), nhìn nhận, đề xuất cho phép doanh nghiệp vay vàng từ người dân để phục vụ sản xuất vàng trang sức nếu hiện thực hóa sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu và cung cấp nguyên liệu ổn định cho ngành chế tác.
Tuy nhiên, vấn đề lãi suất vay thỏa thuận có thể dẫn đến các rủi ro về pháp lý, tài chính nếu không được giám sát chặt chẽ.
"Khi doanh nghiệp gặp phải vấn đề tài chính hoặc rủi ro kinh doanh, việc không thể hoàn trả vàng vay có thể dẫn đến người dân không thu hồi được tài sản.
Ngoài ra, khi doanh nghiệp gặp vấn đề về nhân sự hoặc hoạt động kinh doanh không ổn định, thu hồi vàng vay từ doanh nghiệp cũng trở nên khó khăn, tạo ra sự mất cân bằng trong các giao dịch", ông Huy phân tích.
Đánh giá kiến nghị huy động vàng trong dân để làm nguyên liệu sản xuất trang sức hợp lý về mặt lý thuyết, song chuyên gia vàng Trần Duy Phương nhấn mạnh, điều này rất khó hiện thực hóa.
Vàng trong dân tồn tại dưới nhiều dạng như vàng miếng, vàng nhẫn, vàng trang sức. Việc kiểm định chất lượng vàng không hề đơn giản. Hiện nay, trừ vàng miếng có thương hiệu, phần lớn vàng nhẫn, vàng trang sức trên thị trường không đồng nhất về tiêu chuẩn.
"Doanh nghiệp sẽ huy động loại vàng nào, có chấp nhận tất cả. Người dân cho vay vàng miếng, vàng nhẫn... khi nhận lại sẽ nhận vàng dưới hình thức ra sao... Tất cả đều không đơn giản", ông Phương nêu vấn đề.
Băn khoăn quan trọng khác được ông Phương đề cập là rủi ro lớn về cân đối trạng thái của doanh nghiệp kinh doanh vàng. Giả sử, doanh nghiệp huy động vàng ở vùng giá 170 - 175 triệu đồng/lượng, song đến khi đáo hạn, giá đã tăng lên 200 triệu đồng/lượng. Khi đó, việc cân đối nguồn để trả nợ trở nên rất khó khăn.
Thông tin quy hoạch hai bên sông Hồng và nhiều dự án hạ tầng mới tại Hà Nội đang khiến không ít hộ gia đình rơi vào vấn đề đặc biệt. Nhà đất nằm trong diện thu hồi để phục vụ dự án công, khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho các khoản vay ngân hàng.
Trường hợp của anh Lê Hồng Hải (phố Hồng Hà, Hà Nội) phản ánh trên báo Vietnamnet cho biết, khu đất nhà anh nằm trong diện thu hồi, giải tỏa mặt bằng để thành phố xây dựng dự án. Tuy nhiên, hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang được gia đình anh thế chấp cho khoản vay tại ngân hàng.
"Nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng chưa thực hiện xong, nay khu đất nằm trong diện giải tỏa. Không biết việc này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến nghĩa vụ nợ với ngân hàng?", anh Hải băn khoăn.
Hay như trường hợp của bà Nguyễn Thị Thu Hà, chủ một cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng tại phường Ba Đình cho biết, gia đình đang vay gần 3 tỷ đồng để mở rộng hoạt động kinh doanh. Được vay thế chấp bằng căn nhà nằm ở khu vực dự kiến giải tỏa.
"Tôi lo nhất là tiền đền không đủ để tất toán khoản vay. Nếu ngân hàng yêu cầu bổ sung tài sản bảo đảm thì gia đình gần như không còn gì để thế chấp", bà Hà nói.
Theo như báo Vietnamnet thông tin thì Quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch thế chấp được quy định tại Điều 317-327 của Bộ Luật Dân sự 2015. Ngoài ra, hệ thống quy định bồi thường của Luật Đất đai 2024 cũng đã quy định khi có quyết định thu hồi, mảnh đất đó lập tức không còn là tài sản bảo đảm.
Tuy nhiên, khoản nợ của khách hàng tại ngân hàng thì vẫn còn đó, đồng nghĩa với việc khách hàng không thể trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
Ý kiến của chuyên gia pháp lý
Theo chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng, trường hợp tài sản bảo đảm là nhà đất thuộc diện giải tỏa, ngân hàng sẽ yêu cầu bên vay phải bổ sung, thay thế biện pháp bảo đảm khác tương xứng với nghĩa vụ nợ thay cho tài sản thế chấp đã bị ảnh hưởng giá trị hoặc không còn đủ điều kiện bảo đảm do thuộc diện thu hồi.
Nếu tài sản bảo đảm này bị Nhà nước thu hồi thì tiền bồi thường sẽ được dùng làm tài sản bảo đảm thay thế.
Nếu bên vay không bổ sung, thay thế được biện pháp bảo đảm thì ngân hàng sẽ kích hoạt việc thu nợ trước hạn.
Khi xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì bên vay vẫn phải trả tiếp phần còn thiếu cho đến khi trả hết nợ gốc và lãi còn lại.
Trong trường hợp này, bên vay hầu như không có nhiều lựa chọn ngoài việc chuẩn bị phương án tài chính để đàm phán với ngân hàng. Thực tế các quy định này đều được các ngân hàng ghi rõ trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm là bất động sản. Đây là những vấn đề cơ bản mà gần như hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp nào cũng đề cập đến.
Nói cách khác, toàn bộ số tiền đền bù giải tỏa của khách hàng sẽ không về tài khoản của khách hàng ngay mà sẽ nằm tại kho bạc. Số tiền này sẽ được ưu tiên trả nợ cho ngân hàng theo thỏa thuận giữa 3 bên: Nhà nước (bên thu hồi đất), ngân hàng (bên cho vay và giữ tài sản bảo đảm) và chủ đất (bên vay vốn).
Trong trường hợp tiền đền bù thu hồi đất lớn hơn dư nợ tại ngân hàng thì mọi chuyện sẽ trở nên đơn giản. Kho bạc sẽ chuyển thẳng khoản tiền tương ứng với dư nợ còn lại cho ngân hàng để thực hiện nghiệp vụ giải chấp, phần còn lại sẽ được chuyển cho chủ đất theo phương thức giao tiền mặt hoặc chuyển khoản.
Trong trường hợp tiền đền bù giải phóng mặt bằng do nhà nước trả thấp hơn dư nợ tại ngân hàng, ngân hàng sẽ phong tỏa và thu hồi toàn bộ số tiền đền bù đó.
Phần còn thiếu, ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản thế chấp. Điều này đồng nghĩa với việc nghĩa vụ nợ của khách hàng tại ngân hàng vẫn còn đó và họ sẽ phải có trách nhiệm thanh toán cả gốc lẫn lãi cho đến khi tất toán khoản vay.
Theo giới chuyên môn, đây là một vấn đề có thể tạo ra nhiều áp lực nợ xấu cho cả người vay và ngân hàng nếu không được xử lý linh hoạt.
Theo Th.s, luật sư Mai Chí Đức - Phó giám đốc Công ty luật Hoàng Duy và Cộng sự chia sẻ trên VTCnews, về thực tiễn xử lý tiền bồi thường, theo luật sư, thông thường cơ quan giải phóng mặt bằng sẽ rà soát tình trạng pháp lý của thửa đất, trong đó có thông tin đăng ký thế chấp tại ngân hàng. Trong nhiều trường hợp, cơ quan chức năng sẽ phối hợp với ngân hàng và người dân để xác định phương án thanh toán khoản bồi thường. Nếu có đăng ký giao dịch bảo đảm hợp pháp, ngân hàng có cơ sở pháp lý để yêu cầu ưu tiên xử lý khoản tiền bồi thường nhằm bảo đảm nghĩa vụ nợ. Thực tế có nơi tiền bồi thường được chuyển qua tài khoản phong tỏa hoặc thực hiện theo thỏa thuận ba bên giữa cơ quan bồi thường, ngân hàng và người dân nhằm tránh tranh chấp phát sinh về sau.
Người dân khi ký hợp đồng tín dụng cần đặc biệt lưu ý các điều khoản liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm, nghĩa vụ bổ sung tài sản thế chấp, điều kiện thu hồi nợ trước hạn và quyền của ngân hàng khi tài sản bị giảm giá trị hoặc bị thu hồi. Nhiều tranh chấp hiện nay xuất phát từ việc khách hàng chỉ quan tâm đến khoản vay và lãi suất mà chưa đọc kỹ các điều khoản về xử lý rủi ro pháp lý đối với tài sản bảo đảm.
Cũng theo luật sư Đức, thực tế, các tranh chấp giữa ngân hàng và người vay trong trường hợp đất bị giải tỏa vẫn phát sinh tương đối nhiều. Dạng tranh chấp phổ biến gồm: Tranh chấp về quyền nhận tiền bồi thường; tranh chấp về việc ngân hàng có được ưu tiên thanh toán từ tiền đền bù hay không; tranh chấp về nghĩa vụ trả phần nợ còn thiếu sau khi đã xử lý tiền bồi thường; hoặc tranh chấp liên quan đến việc ngân hàng thu hồi nợ trước hạn. Một số trường hợp còn phát sinh khi người vay tự nhận tiền bồi thường nhưng không thanh toán cho ngân hàng dẫn đến kiện tụng kéo dài.
Do đó, ngay khi nhận được thông báo thu hồi đất, người dân nên chủ động thông báo cho ngân hàng để cùng làm việc về phương án xử lý khoản vay. Việc chủ động trao đổi sớm thường giúp các bên có cơ hội cơ cấu lại nợ, điều chỉnh thời hạn thanh toán hoặc thống nhất phương án dùng tiền bồi thường để tất toán một phần nghĩa vụ. Đồng thời, người dân cũng cần rà soát kỹ hồ sơ pháp lý, quyết định thu hồi đất, phương án bồi thường và các thỏa thuận tín dụng để bảo vệ quyền lợi của mình.
Trong trường hợp ngân hàng và người vay không đạt được thỏa thuận về xử lý khoản nợ sau thu hồi đất, tranh chấp sẽ được giải quyết theo cơ chế dân sự thông qua thương lượng, hòa giải hoặc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền. Khi đó, Tòa án sẽ xem xét toàn bộ hồ sơ tín dụng, hợp đồng thế chấp, giá trị bồi thường, nghĩa vụ còn lại của bên vay cũng như tính hợp pháp trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm để đưa ra phán quyết phù hợp với quy định pháp luật.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 141/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68/2026/NĐ-CP và Nghị định 320/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1.1.2026. Theo đó, ngưỡng doanh thu miễn thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh) được nâng từ 500 triệu đồng/năm lên 1 tỉ đồng/năm.
Trao đổi với Thanh Niên, ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, phân tích, Nghị định 141/2026/NĐ-CP kế thừa các nội dung cơ bản của Nghị định 68/2026/NĐ-CP. Điều này đồng nghĩa, phương pháp tính thuế của hộ kinh doanh sẽ không thay đổi.
Cụ thể, nếu doanh thu từ 1 tỉ đồng/năm trở xuống: hộ kinh doanh được miễn cả thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân.
Nếu doanh thu trên 1 tỉ đồng/năm: hộ kinh doanh sẽ tính thuế thu nhập cá nhân trên phần doanh thu vượt 1 tỉ đồng, còn thuế giá trị gia tăng tính từ đồng doanh thu đầu tiên.
Ông Tuấn lưu ý, Nghị định 141/2026/NĐ-CP cho phép hộ kinh doanh có doanh thu từ 1 tỉ đồng/năm trở xuống, nếu có nhu cầu sử dụng hóa đơn điện tử, thì được đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử.
Điều này giúp hộ chủ động hơn, có thể xuất hóa đơn cho đối tượng khách hàng là doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh khác, tránh tình trạng bị hạn chế tiếp cận đối tượng khách hàng như các hướng dẫn trước đây.
Theo ông Tuấn, sau khi nâng ngưỡng miễn thuế như trên, về nguyên tắc, hộ kinh doanh có doanh thu từ 1 tỉ đồng/năm trở xuống sẽ không phải nộp tờ khai thuế, chỉ nộp thông báo doanh thu cho cơ quan thuế. Hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỉ đồng/năm thì cần nộp tờ khai thuế và nộp thuế theo thời hạn quy định.
Cách áp dụng này tương tự như với hộ kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống và trên 500 triệu đồng/năm trước đây.
Như vậy, với các hộ kinh doanh có doanh thu năm từ trên 500 triệu đồng đến 1 tỉ đồng, sẽ có 3 trường hợp xảy ra như sau:
Thứ nhất, hộ kinh doanh chưa nộp tờ khai thuế quý 1 và chưa nộp thuế: sẽ không cần nộp tờ khai và nộp thuế quý 1, chỉ cần thông báo doanh thu cho cơ quan thuế trước ngày 31.7 (với các hộ kinh doanh mới được thành lập 6 tháng đầu năm) hoặc chậm nhất là ngày 31.1.2027.
Thứ hai, hộ kinh doanh đã nộp tờ khai thuế quý 1 và chưa nộp thuế: lưu ý xử lý theo 2 trường hợp.
Trường hợp 1, hộ kinh doanh cần ước tính lại doanh thu năm 2026, nếu cảm thấy doanh thu sẽ vượt trên 1 tỉ đồng thì tờ khai đã nộp cần được giữ nguyên, tiến hành nộp tiền thuế theo tờ khai.
Trường hợp 2, nếu hộ kinh doanh xác định doanh thu năm 2026 sẽ dưới 1 tỉ đồng, cần tiến hành thủ tục hủy tờ khai thuế đã nộp trước đó với cơ quan thuế và chờ nộp thông báo doanh thu cho cơ quan thuế theo quy định.
Thứ ba, hộ kinh doanh đã nộp tờ khai thuế quý 1 và đã nộp thuế: cách xử lý tương tự như trên.
hộ kinh doanh cần ước tính lại doanh thu năm 2026, nếu cảm thấy doanh thu sẽ vượt trên 1 tỉ đồng thì tờ khai thuế và số thuế đã nộp được giữ nguyên. Hộ kinh doanh tiến hành nộp thuế và tờ khai thuế cho các kỳ tiếp theo theo quy định hiện hành.
Nếu hộ kinh doanh xác định doanh thu năm 2026 sẽ dưới 1 tỉ đồng, cần tiến hành thủ tục hủy tờ khai thuế đã nộp trước đó, chờ nộp thông báo doanh thu cho cơ quan thuế theo quy định.
Với số thuế đã nộp, hộ kinh doanh sẽ làm thủ tục hoàn hoặc bù trừ kỳ tiếp theo, theo hướng dẫn tại điều 12 Nghị định 68/2026/NĐ-CP.