Trong bối cảnh nhiều lô hàng bị siết chặt kiểm tra khi xuất khẩu sang Trung Quốc, đề xuất xây dựng “phác đồ điều trị” cho đất trồng sầu riêng đang được xem là hướng đi đáng chú ý nhằm xử lý tận gốc bài toán tồn dư kim loại nặng.
Xây dựng phòng thí nghiệm để kiểm tra chất lượng đất trồng
Nhận định về vấn đề sầu riêng tại Đồng Tháp gặp khó đầu ra vì vướng kiểm nghiệm những ngày qua, ông Nguyễn Phước Thiện – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp – thừa nhận, tồn dư cadimi trong sầu riêng thực chất là hệ quả của quá trình canh tác kéo dài nhiều năm khiến đất bị ô nhiễm.
Vấn đề này chỉ thực sự “nóng lên” khi Trung Quốc áp dụng ngưỡng kiểm soát nghiêm ngặt đối với trái cây nhập khẩu vào thị trường này, không vượt quá 0,05 mg/kg. Điều này tạo áp lực lớn lên cả doanh nghiệp lẫn người sản xuất khi phải kiểm soát chất lượng từ đất trồng đến thành phẩm.
Để cải thiện vấn đề này, ông Thiện cho biết, Đồng Tháp đang triển khai rà soát, siết chặt quản lý mã số vùng trồng và kiên quyết xử lý những vùng không tuân thủ quy định.
Đặc biệt, địa phương này cũng xây dựng đề án cải tạo đất lâu dài, tham khảo mô hình Hàn Quốc với hệ thống phân tích mẫu đất định kỳ nhằm đưa ra “phác đồ” cải tạo phù hợp cho từng khu vực canh tác.
Theo lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp, bên cạnh việc cải tạo đất, cần cải tiến cơ chế quản lý mã số vùng trồng theo hướng số hóa, tách bạch từng lô hàng để phân định rõ vùng nhiễm và vùng an toàn.
Tại hội nghị Thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản đảm bảo mục tiêu tăng trưởng năm 2026 tổ chức cuối tuần qua, Thứ trưởng Bộ NN&MT Võ Văn Hưng cũng nhìn nhận, nguyên nhân sâu xa của tình trạng nhiễm cadimi chủ yếu đến từ tồn dư trong đất chứ không phải do người dân cố tình đưa vào trong quá trình sản xuất.
Theo ông Hưng, để xử lý tận gốc vấn đề cần triển khai các nghiên cứu về cải tạo đất, hướng dẫn nông dân thay đổi biện pháp canh tác, thực hiện luân canh cây trồng và kiểm soát chặt vật tư đầu vào.
Trong ngắn hạn, Bộ đã đề nghị các địa phương chỉ đạo các đơn vị kiểm định không được từ chối yêu cầu của doanh nghiệp, đồng thời xây dựng cơ chế quản lý mới nhằm tránh ùn tắc hàng hóa do chờ kiểm nghiệm. Về lâu dài, bài toán lớn hơn vẫn là phục hồi chất lượng đất canh tác để đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu.
Hàn Quốc phục hồi đất nông nghiệp bằng cách nào?
Trao đổi với Dân trí, TS Nguyễn Đăng Nghĩa – nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và tư vấn Nông nghiệp nhiệt đới – cho rằng, cuộc khủng hoảng hiện nay phản ánh hệ quả của quá trình phát triển thiếu kiểm soát kéo dài nhiều năm của ngành sầu riêng.
Ông cho rằng việc quản lý phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam vẫn còn lỏng lẻo, cadimi không chỉ tồn tại tự nhiên trong đất mà còn xuất hiện trong nhiều loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.
Tại khu vực ĐBSCL, nông dân từng sử dụng phổ biến một số loại phân DAP nhập khẩu có hàm lượng cadimi cao. Kết hợp với tình trạng xâm nhập mặn cuối mùa khô và việc bón lân kéo dài, cadimi trong đất dễ bị giải phóng và hấp thụ vào cây trồng.
Theo vị chuyên gia này, cải tạo đất thực tế không phải vấn đề quá khó về mặt kỹ thuật và cũng từng được nhiều đơn vị trong nước tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức.
Theo TS Nguyễn Đăng Nghĩa, một trong những giải pháp có thể áp dụng là sử dụng biochar – vật liệu giàu carbon được tạo ra từ quá trình nhiệt phân sinh khối trong môi trường hạn chế oxy.
Khi đưa vào đất, biochar hoạt động như một “bẫy” giữ kim loại nặng, giúp ổn định độ pH, cải thiện độ tơi xốp và nâng cao năng suất cây trồng mà vẫn đảm bảo được các tiêu chí về dư lượng kim loại nặng tồn dư trên sản phẩm.
Ngoài ra, TS Nghĩa cho biết, đã có một số mô hình áp dụng thành công như sử dụng biochar và phân bón chọn lọc không có cadimi của một vài công ty. Các mô hình này cũng đang được nhân rộng, giúp cải tạo đất cho bà con trồng sầu riêng tại vùng ĐBSCL.
Riêng với các mô hình cải tạo đất tại Hàn Quốc, TS Nguyễn Đăng Nghĩa cho rằng, hoạt động cải tạo đất của xứ sở kim chi không xa lạ với nông nghiệp Việt Nam.
Theo đó, khác với cách tiếp cận mở rộng diện tích sản xuất, Hàn Quốc tập trung vào nâng cao chất lượng đất nhằm gia tăng giá trị nông sản. Đây là lựa chọn mang tính chiến lược trong bối cảnh quốc gia này có quỹ đất nông nghiệp hạn chế và chịu áp lực đô thị hóa kéo dài.
Một trong những ưu tiên lớn nhất của Hàn Quốc là phục hồi độ màu mỡ tự nhiên của đất sau nhiều năm lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Nước này chuyển mạnh sang sử dụng phân hữu cơ, phân compost và các chế phẩm vi sinh nhằm tăng hàm lượng hữu cơ và cải thiện hệ vi sinh vật có lợi trong đất.
Điểm nổi bật trong mô hình của Hàn Quốc là việc ứng dụng công nghệ vào quản lý chất lượng đất. Thay vì canh tác chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, nhiều nông hộ được hỗ trợ phân tích đất định kỳ để xác định hàm lượng dinh dưỡng, độ pH, lượng hữu cơ cũng như nguy cơ tồn dư hóa chất.
Từ kết quả phân tích này, cơ quan chuyên môn sẽ đưa ra khuyến nghị cụ thể về loại phân bón, lượng dinh dưỡng cần bổ sung và phương thức canh tác phù hợp cho từng khu vực. Đây được xem là mô hình “khám bệnh cho đất” trước khi đưa ra “phác đồ điều trị”, cách tiếp cận mà một số địa phương tại Việt Nam đang bắt đầu nghiên cứu áp dụng với cây sầu riêng.
Theo giới chuyên môn, điều làm nên khác biệt trong chính sách cải tạo đất của Hàn Quốc là tư duy dài hạn. Chính phủ nước này xem sức khỏe đất nông nghiệp là yếu tố gắn liền với an ninh lương thực quốc gia, vì vậy các chương trình hỗ trợ cải tạo đất, sản xuất hữu cơ và đào tạo kỹ thuật được triển khai liên tục trong nhiều năm.
Thông tin được ông Hà Vĩ, Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, chia sẻ tại Diễn đàn Thương mại Rau quả Nông sản Việt Nam - Trung Quốc lần đầu tiên ở TP HCM ngày 24/6. Chương trình do Hiệp hội Rau quả Việt Nam phối hợp với Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc tại TP HCM và các cơ quan liên quan tổ chức.
Theo ông Hà Vĩ, mô hình hải quan thông minh và cửa khẩu thông minh sẽ số hóa toàn bộ quá trình quản lý hàng hóa. Mỗi lô nông sản xuất khẩu được gắn mã nhận diện riêng để theo dõi từ vùng trồng, cơ sở đóng gói, vận chuyển cho tới khi đến tay người tiêu dùng. Dữ liệu được kết nối giữa cơ quan chức năng hai nước giúp nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng, đồng thời rút ngắn thời gian xử lý thủ tục tại cửa khẩu.
Ông cho biết mục tiêu dài hạn là từng bước hướng tới mô hình thông quan không gián đoạn 24 giờ mỗi ngày, qua đó chuyển lợi thế địa lý giữa hai nước thành lợi thế logistics thực sự.
Trả lời câu hỏi về tình trạng ùn ứ nông sản tại cửa khẩu trong những năm gần đây, ông Hà Vĩ cho rằng, nguyên nhân không chỉ nằm ở năng lực thông quan mà còn xuất phát từ yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.
Theo ông, Trung Quốc đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong quản lý hải quan nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và thông quan hàng hóa. Với các lô hàng đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chất lượng, quá trình kiểm tra và thông quan sẽ được thực hiện nhanh hơn, góp phần giảm áp lực ùn tắc tại cửa khẩu.
Người tiêu dùng Trung Quốc ngày càng quan tâm đến chất lượng, an toàn thực phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc. Một số lô sầu riêng Việt Nam trước đây từng gặp vướng mắc về chất lượng đã được cơ quan chức năng hai nước phối hợp điều tra, xác định nguyên nhân và triển khai các biện pháp khắc phục. Những tồn tại liên quan đến quy trình canh tác, chất lượng đất và nguồn nước đang dần được xử lý, giúp tỷ lệ lô hàng không đạt yêu cầu giảm đáng kể.
Ông Hà Vĩ cho biết, việc kiểm tra chất lượng và kiểm dịch là yêu cầu bình thường trong thương mại quốc tế. Nếu doanh nghiệp duy trì tốt việc kiểm soát chất lượng từ vùng trồng và liên tục đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu, tần suất lấy mẫu kiểm tra tại cửa khẩu có thể được giảm xuống.
"Xu hướng hiện nay không chỉ là tăng sản lượng mà còn phải nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường", ông nói.
Ông Hà Vĩ đánh giá, hợp tác nông nghiệp giữa hai nước đang bước sang giai đoạn phát triển mới, từ hoạt động mua bán nông sản đơn thuần sang xây dựng chuỗi cung ứng xuyên biên giới đồng bộ hơn. Thương mại nông sản hiện là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng trong quan hệ kinh tế song phương, với Trung Quốc là thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam.
Trong quý I năm nay, xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc tăng 37,4%, cao gấp 6 lần tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung của cả nước. Việt Nam hiện là nguồn cung trái cây lớn thứ hai của Trung Quốc, chiếm 22,2% thị phần nhập khẩu. Riêng sầu riêng đạt sản lượng xuất khẩu 941.000 tấn với kim ngạch hơn 3,4 tỷ USD. Đến nay, hơn 20 loại nông sản Việt Nam đã được cấp phép xuất khẩu vào thị trường này.
Ở góc độ phát triển thị trường, ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, cho biết Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất của Việt Nam. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 8,56 tỷ USD, trong đó riêng thị trường Trung Quốc chiếm khoảng 64%, tương đương 5,5 tỷ USD.
Theo ông Phú, việc liên tiếp ký kết các nghị định thư xuất khẩu trong những năm gần đây đã tạo điều kiện để nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào hệ thống phân phối hiện đại của Trung Quốc. Bên cạnh các sản phẩm chủ lực, việc mở cửa thêm đối với mít tươi, bưởi và chanh đang góp phần đa dạng hóa cơ cấu xuất khẩu.
Ông cho rằng, bên cạnh các hoạt động xúc tiến thương mại truyền thống, doanh nghiệp Việt Nam cần tận dụng tốt hơn thương mại điện tử, chuyển đổi số và các nền tảng bán hàng trực tuyến đang phát triển mạnh tại Trung Quốc. Đây sẽ là kênh quan trọng giúp mở rộng độ phủ thương hiệu và gia tăng thị phần cho nông sản Việt Nam trong thời gian tới.
Tuy nhiên, cơ hội thị trường chỉ có thể chuyển thành tăng trưởng bền vững khi doanh nghiệp nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn. Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho rằng sự gia tăng nhanh của tầng lớp trung lưu Trung Quốc đang tạo ra nhu cầu ngày càng lớn đối với các sản phẩm chất lượng cao, an toàn và có nguồn gốc rõ ràng.
Theo ông Bình, Việt Nam có nhiều lợi thế để khai thác thị trường này nhờ vị trí địa lý gần, chi phí logistics cạnh tranh và nguồn cung đa dạng với nhiều mặt hàng đã khẳng định vị thế như sầu riêng, thanh long, chuối, mít, bưởi, dừa, cà phê, hồ tiêu và gạo.
Muốn khai thác hiệu quả thị trường này, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy chạy theo sản lượng sang chú trọng chất lượng, an toàn thực phẩm và phát triển chuỗi liên kết. Việc đáp ứng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, kiểm dịch và quản lý an toàn thực phẩm không chỉ giúp mở rộng xuất khẩu sang thị trường hơn 1,4 tỷ dân mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Ngày 4/6 (giờ Mỹ), Tổng thống Donald Trump công bố khoản chi trên nhằm hỗ trợ 14 nhà máy điện than và 42 mỏ than.
Phần lớn khoản chi được ông Trump viện dẫn Đạo luật Sản xuất Quốc phòng năm 1950, đạo luật trao quyền khẩn cấp cho Tổng thống với ngành công nghiệp liên quan đến an ninh quốc gia. Trong đó, 425 triệu USD sẽ đầu tư nâng cấp 13 nhà máy điện than và 75 triệu USD để hỗ trợ cảng xuất khẩu than ở California.
Bộ Năng lượng cũng đang hoàn tất khoản chi hàng trăm triệu USD để giúp xây nhà máy điện mới ở Alaska và Tây Virginia.
Chính quyền Mỹ coi chính sách năng lượng là vấn đề an ninh quốc gia, nhằm đảm bảo điện cho các trung tâm dữ liệu. Tại sự kiện ở Phòng Bầu dục, ông Trump, cùng với Bộ trưởng Nội vụ Doug Burgum, Bộ trưởng Năng lượng Chris Wright, nói "than sạch, đẹp" sẽ giúp giảm chi phí sinh hoạt cho tất cả người Mỹ.
Ông Mark Gordo, Thống đốc bang Wyoming, đã đến thăm Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc) mới đây. Ông cho biết họ rất cần than từ Wyoming để đảm bảo năng lượng cho lĩnh vực trí tuệ nhân tạo. Việc mở cảng California cho xuất khẩu than là "rất cần thiết" với bang này, vốn dẫn đầu lượng sản xuất than nước Mỹ.
Tuy nhiên, các nhà hoạt động môi trường phản đối kế hoạch cứu trợ của ông Trump. Patrick Drupp, Giám đốc chính sách khí hậu tại tổ chức môi trường Sierra Club, gọi gói cứu trợ này là hành động "dùng tiền đóng thuế của người dân để tài trợ cho một ngành công nghiệp gây ô nhiễm". Họ sẽ đấu tranh chống lại kế hoạch này tại tòa.
Trong khi đó, Rich Nolan, Giám đốc điều hành của Hiệp hội Khai thác mỏ Quốc gia, cho rằng khoản trợ cấp này sẽ củng cố hoạt động sản xuất, bảo vệ người tiêu dùng khỏi sự biến động giá năng lượng, đồng thời hỗ trợ nhu cầu tiêu dùng điện ngày càng tăng.
Than đá từng chiếm hơn một nửa sản lượng điện của Mỹ năm 1990, nay tỷ trọng giảm còn chưa đến một phần năm. Nguyên liệu này không còn tính cạnh tranh do ngành điện lực chuyển sang sử dụng khí tự nhiên và các nguồn năng lượng tái tạo.
Kim ngạch xuất khẩu than đá của Mỹ cũng giảm trong năm đầu tiên ông Trump giữ chức Tổng thống, chủ yếu do Trung Quốc giảm cầu. Tình trạng này diễn ra sau khi nước này trả đũa thuế quan lên hàng hóa Mỹ năm ngoái. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), nhu cầu than đá toàn cầu dự kiến sẽ chững lại hoặc giảm trong những năm tới.
Mặc nỗ lực nới lỏng các quy định về môi trường từ ông Trump, ngành công nghiệp ô nhiễm này vẫn không thể tăng số lượng thợ mỏ. Theo dữ liệu từ Ngân hàng Dự trữ Liên bang (Fed) St. Louis, số lượng thợ mỏ đang làm việc tại Mỹ đã giảm từ khoảng 51.500 người vào năm 2017 xuống còn khoảng 39.800 người năm 2025.
Trong phiên giao dịch ngày 30-6, cổ phiếu HCM của Công ty CP Chứng khoán TP.HCM (HSC) tiếp tục ghi nhận các giao dịch thỏa thuận quy mô lớn. Theo đó, có 6 giao dịch thỏa thuận với tổng khối lượng hơn 23,3 triệu cổ phiếu.
Các giao dịch được thực hiện ở mức giá 27.800 đồng/cổ phiếu, cao hơn khoảng 2,2% so với giá đóng cửa (27.200 đồng/cổ phiếu), tương ứng giá trị gần 650 tỉ đồng.
Trước đó trong phiên 29-6, hơn 33,1 triệu cổ phiếu HCM cũng được chuyển nhượng theo phương thức thỏa thuận, với tổng giá trị khoảng 921 tỉ đồng. Đến nay, HSC chưa công bố thông tin chi tiết về các giao dịch thỏa thuận này.
Như vậy chỉ sau hai phiên giao dịch, tổng cộng hơn 56,4 triệu cổ phiếu HCM đã được sang tay theo phương thức thỏa thuận, với tổng giá trị ước khoảng 1.570 tỉ đồng.
Đây không phải lần đầu cổ phiếu HCM xuất hiện các giao dịch thỏa thuận quy mô lớn trong tháng qua. Trước đó, các phiên 3-6, 17-6 và 24-6 lần lượt ghi nhận gần 21 triệu, 35,6 triệu và hơn 21,6 triệu cổ phiếu HCM được sang tay theo phương thức thỏa thuận.
Ở diễn biến liên quan, cùng ngày 30-6, HSC cũng công bố đã được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy chứng nhận đăng ký chào bán gần 270 triệu cổ phiếu ra công chúng cho cổ đông hiện hữu. Với giá chào bán 10.000 đồng/cổ phiếu, doanh nghiệp dự kiến huy động gần 2.700 tỉ đồng để bổ sung nguồn vốn cho hoạt động cho vay ký quỹ (margin).
Đợt chào bán này là một phần trong kế hoạch phát hành tổng cộng 492 triệu cổ phiếu đã được đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua, bao gồm chào bán cho cổ đông hiện hữu, phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động (ESOP) và chào bán riêng lẻ.
HSC được thành lập năm 2003 với vốn điều lệ ban đầu 50 tỉ đồng. Sau nhiều lần tăng vốn, vốn điều lệ của công ty hiện đạt 10.808 tỉ đồng.
Theo báo cáo thường niên 2025 của doanh nghiệp, HSC có tổng cộng 52.712 cổ đông, trong đó 175 cổ đông tổ chức và 52.537 cổ đông cá nhân tính đến ngày 6-2-2026.
Trong đó, Dragon Capital Markets Limited hiện là cổ đông lớn nhất khi sở hữu hơn 340,2 triệu cổ phiếu, tương đương 31,5% vốn điều lệ. Đơn vị này đã gắn bó với HSC kể từ năm 2005.
Trong khi đó, Công ty Đầu tư tài chính nhà nước TP.HCM (HFIC) nắm giữ khoảng 121,6 triệu cổ phiếu, tương ứng 11,3% vốn.
Đáng chú ý, tỉ lệ sở hữu của HFIC đã giảm đáng kể trong những năm gần đây do không tham gia các đợt tăng vốn của HSC. Gần nhất, trong đợt chào bán gần 360 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu vào cuối năm 2025, HFIC không thực hiện quyền mua và chuyển nhượng toàn bộ quyền mua phát sinh, khiến tỉ lệ sở hữu giảm từ 16,9% xuống còn 11,3%.
Theo lãnh đạo HSC, việc HFIC không tham gia các đợt tăng vốn nằm trong lộ trình tái cơ cấu vốn nhà nước đã được UBND TP.HCM phê duyệt. Tổ chức này sẽ tiếp tục thực hiện kế hoạch thoái toàn bộ vốn tại HSC trong thời gian tới.