“Tôi bị một công ty khai khống thu nhập liên tục 3 năm. Tôi liên hệ công ty đó không được, liên hệ cơ quan thuế thì họ kêu làm văn bản cam kết không có thu nhập từ công ty đó.
Tôi nộp xong, họ lại kêu đi xuống tận cơ quan thuế để trình bày, quá nhiêu khê nên tôi bỏ luôn khoản thuế được hoàn, coi như mất một triệu đồng hơn”.
Độc giả nickname phuong147bt kể lại việc bị một công ty kê khống thu nhập và quá trình xử lý rắc rối như trên, sau bài viết Rắc rối vì nợ thuế ‘trên trời rơi xuống’.
Chuyên gia cho rằng do cơ chế “tự kê khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm”, người dân thường chỉ phát hiện ra việc mình bị khai khống khi sử dụng ứng dụng eTax Mobile hoặc ủy quyền quyết toán nhưng bất thành.
Lúc này, những khoản thu nhập lạ mới lộ ra, ảnh hưởng trực tiếp đến số thuế phải đóng hoặc quyền lợi được hoàn thuế.
Để bảo vệ quyền lợi, người bị khai khống phải tự mình thực hiện nhiều bước như làm văn bản khiếu nại, liên hệ trực tiếp với doanh nghiệp chi trả hoặc đến cơ quan thuế chủ quản tại địa phương để phản ánh.
Trích dẫn “Bước 4: Nhập Lý do và đính kèm tài liệu chứng minh (nếu có)” trong quy trình phản ánh thông tin khi phát hiện bị khai khống thu nhập trên eTax Mobile, độc giả dinhphuongtoan2811 nói:
“Đã không có liên quan gì đến công ty khai không đó thì làm sao mà chứng minh được.
Đúng lý ra việc này cơ quan thuế phải làm việc với doanh nghiệp khai khống khoản chi phí lương chứng minh với cơ quan thuế mới là đúng. Đằng này lại bắt người dân đi chứng minh thì không có cơ sở”.
Cùng thắc mắc, độc giả nickname Người Phản Biện: “Tự nhiên tôi phải chứng minh mình không có thu nhập ở công ty đó. Đã không có thì chứng minh kiểu gì?”.
Trong khi đó, độc giả Đình cho rằng: “Người dân bị khai khống thu nhập thì đây có khác gì hành vi lừa đảo. Do vậy các cơ quan chức năng cần đưa ra quy định để xử lý nghiêm hành vi này: Lừa đảo từ hai triệu đồng là có thể bị xử lý hình sự.
Cần quy định, khi người dân bị khai khống thu nhập nhập và chịu thuế thì người dân chọn một trong hai cách:
Cách 1: Người dân đến trụ sở công an gần nhất để trình báo, công an đơn vị này phải liên hệ Chi cục thuế liên quan để xử lý.
Cách 2: Đền trực tiếp Chi cục thuế gần nơi làm việc hay gần nơi ở để trình báo, Chi cục thuế phải có trách nhiệm liên hệ cơ quan điều tra để tiến hành xử lý và khởi tố vụ án lừa đảo này.
Quy định cần ghi rõ: Tuyệt đối không có sự nhầm lẫn khi khai khống thu nhập cho người khác. Người dân không có trách nhiệm chứng minh mình bị khai khống mà chỉ trình báo sự việc tới cơ quan liên quan để các cơ quan này xử lý”.
Theo ông Nguyễn Hoàng Sơn – Phó chủ tịch Hội tư vấn và đại lý thuế TP HCM kiêm CEO Việt Tín, hầu hết người phát hiện nợ thuế “trên trời rơi xuống” vào mùa cao điểm quyết toán thuế thu nhập cá nhân hàng năm.
Tuy nhiên, năm nay hiện tượng này đột biến khi áp dụng quy định sử dụng mã số định danh cá nhân làm mã số thuế duy nhất, thay vì tách biệt như trước. Đây là thông tin rất dễ bị lộ và lợi dụng cho mục đích kê khai thuế.
Một số độc giả nêu giải pháp. Độc giả nickname truongson.hut.vn: “Tôi nghĩ giải pháp đơn giản là có chức năng phản ánh trên Etax Mobile, cơ quan thuế cần liên hệ với ngân hàng nhà nước để kiểm tra xem cá nhân có nhận được chuyển khoản của doanh nghiệp này không, nếu không có nguồn thu nhập này thì ngay lập tức cần giải thỏa khoản nợ thuế này với cá nhân”.
Độc giả nickname 056quanghai: “Thời đại công nghệ số, nếu cơ quan thuế tích hợp được và báo tin nhắn cho cá nhân, hay doanh nghiệp có nợ thuế hay đã thanh toán hay còn nợ như ngân hàng đang làm là gửi tin nhắn về biến động số dư khi mỗi lần có giao dịch.
Như vậy thì mọi rắc rối sẽ được hạn chế tối đa và dễ xử lý ngay, nếu có ai đó lợi dụng để kê khai bất hợp pháp gây rắc rối cho người đang đóng thuế theo kiểu từ trên trời rơi xuống”.
Tôi có một người bạn học cùng đại học. Bạn tôi học ngành Công nghệ thông tin, một ngành mà trước đây nhiều người tin rằng không bao giờ thất nghiệp.
Khi ấy, chúng tôi đều nghĩ rằng chỉ cần tốt nghiệp, cánh cửa việc làm sẽ tự mở ra. Nhưng cuộc đời không vận hành theo những niềm tin giản đơn như vậy. Sau khi ra trường, bạn tôi bắt đầu hành trình tìm việc.
Những ngày đầu, cậu ấy rất tự tin. Cậu nộp CV vào hàng chục công ty, từ startup nhỏ đến doanh nghiệp lớn. Mỗi lần gửi đi là một lần hy vọng nhưng rồi thành thất vọng. Các công ty nhận CV không phản hồi, hoặc chỉ gửi những email từ chối ngắn.
Một tháng trôi qua, rồi hai tháng, rồi ba tháng. Bạn tôi bắt đầu lo lắng vì áp lực tâm lý lẫn tài chính. Những câu hỏi từ người thân, bạn bè như "đã đi làm chưa", "lương thế nào rồi?" vô tình trở thành những nhát dao cứa vào lòng tự trọng.
Tám tháng trôi qua kể từ ngày tốt nghiệp, cậu vẫn chưa tìm được một công việc đúng chuyên ngành. Cuối cùng, để trang trải cuộc sống, cậu quyết định làm shipper. Khi nghe cậu kể, tôi không thấy xấu hổ thay bạn. Ngược lại, tôi thấy đó là một sự dũng cảm.
Trong xã hội hiện nay, có một định kiến vô hình: học đại học, đặc biệt là những ngành hot như Công nghệ thông tin, thì phải có việc làm tốt ngay sau khi ra trường. Nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Thị trường lao động ngày càng cạnh tranh, yêu cầu ngày càng cao.
Doanh nghiệp không chỉ cần kiến thức, mà còn đòi hỏi kinh nghiệm, kỹ năng thực tế, khả năng thích nghi. Nhiều sinh viên, dù học giỏi trên giảng đường, nhưng lại thiếu trải nghiệm thực tế. Khi bước ra ngoài, họ bỡ ngỡ trước những yêu cầu cụ thể của công việc.
Khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành trở thành rào cản lớn. Và không phải ai cũng có thể vượt qua ngay lập tức. Câu chuyện của bạn tôi không phải là cá biệt. Rất nhiều kỹ sư IT trẻ đang đối mặt với tình trạng tương tự: thất nghiệp kéo dài, làm trái ngành, hoặc chấp nhận những công việc tạm thời để tồn tại. Điều này đặt ra một câu hỏi lớn: liệu chúng ta có đang nhìn nhận đúng về giá trị của bằng cấp và con đường nghề nghiệp? Việc bạn tôi làm shipper không phải là sự "tụt lùi", mà là một cách thích nghi.
Trong hoàn cảnh khó khăn, cậu không chọn ngồi chờ cơ hội, mà chủ động tìm cách duy trì cuộc sống. Công việc ấy có thể không liên quan đến ngành học, nhưng nó rèn cho cậu những kỹ năng khác: Giao tiếp, chịu áp lực, quản lý thời gian. Và quan trọng hơn, nó giúp cậu giữ được sự tự chủ.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng, nếu tình trạng này kéo dài, sẽ gây ra nhiều hệ lụy. Người trẻ dễ rơi vào khủng hoảng niềm tin, mất động lực, thậm chí từ bỏ ngành nghề mình đã theo đuổi. Xã hội cũng lãng phí một nguồn nhân lực được đào tạo bài bản nhưng không được sử dụng đúng cách.
Vấn đề không chỉ nằm ở cá nhân người lao động, mà còn ở hệ thống đào tạo và thị trường việc làm. Các trường đại học cần gắn kết chặt chẽ hơn với doanh nghiệp, giúp sinh viên có cơ hội thực tập, trải nghiệm thực tế từ sớm. Chương trình học cần cập nhật liên tục để phù hợp với nhu cầu thị trường, thay vì chỉ dừng lại ở lý thuyết.
Về phía sinh viên, việc chủ động học hỏi ngoài chương trình chính khóa là điều không thể thiếu. Trong thời đại công nghệ phát triển nhanh chóng, kiến thức hôm nay có thể trở nên lỗi thời vào ngày mai. Ai không tự nâng cấp mình, người đó sẽ bị bỏ lại phía sau.
Còn doanh nghiệp, có lẽ cũng cần có cái nhìn cởi mở hơn với những ứng viên chưa có nhiều kinh nghiệm. Thay vì chỉ tìm kiếm người làm được việc ngay, hãy đầu tư vào đào tạo, bởi chính những người trẻ hôm nay sẽ là lực lượng nòng cốt trong tương lai.
Quay trở lại với bạn tôi, sau 8 tháng làm shipper, cậu vẫn chưa từ bỏ ước mơ trở thành một lập trình viên. Điều quan trọng là cách mỗi người đối diện với nó. Có người gục ngã, nhưng cũng có người đứng lên mạnh mẽ hơn. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà con đường sự nghiệp không còn tuyến tính. Không phải ai cũng đi từ học - đi làm rồi thăng tiến theo một lộ trình rõ ràng.
Có những vòng lặp, những ngã rẽ, những khoảng dừng. Và đôi khi, chính những đoạn đường vòng ấy lại giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản thân. Tôi tin rằng, một ngày nào đó, bạn tôi sẽ tìm được công việc đúng với năng lực của mình.
"Ba mẹ tôi có hai người con: chị gái tôi đã lập gia đình và có một con gái, còn tôi thì chọn không sinh con. Ba mẹ hẳn tính đường dài nên đã dồn hết sự quan tâm, yêu thương, lẫn tiền bạc cho gia đình chị gái tôi vì tin rằng họ sẽ được trông cậy khi về già.
Tuy vậy, sau khi mượn sổ đỏ của cha mẹ vay thế chấp để con gái du học ở Mỹ, gia đình chị bắt đầu kế hoạch di cư. Họ công khai ý định đó và từ từ thoái thác mọi nghĩa vụ chăm sóc. Ba mẹ tôi giờ ngồi trên đống lửa, hết lo sợ mất nhà nếu con không trả lãi đúng hạn, lại lo lắng đến ngày cả gia đình con đi Mỹ hết.
Phần tôi - đứa con không được trông đợi, không được yêu thương, không được đầu tư mà còn bị cha ép cưới, mẹ mắng chửi, đuổi khỏi nhà - sớm nhận thức được mối quan hệ lợi ích trong gia đình nên đã quyết rời đi, sống tự lập, tự quyết".
Đó là chia sẻ của độc giả Windynguyen xung quanh câu chuyện "Vỡ mộng khi coi con là 'bảo hiểm tuổi già'". Trước đây, các gia đình Việt thường có nhiều thế hệ sống chung một mái nhà. Cha mẹ nắm giữ đất đai, tài sản và là trung tâm của gia đình. Trong bối cảnh ấy, mô hình "trẻ cậy cha, già cậy con" vận hành tương đối bền vững như một giải pháp an sinh tự nhiên. Nhưng mọi thứ đang thay đổi. Việt Nam đang là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Mô hình "tam đại đồng đường" (ba thế hệ ở chung nhà) vốn là nền tảng của tư tưởng "già cậy con" đang dần thay đổi.
Khảo sát Vietnam Aging Survey (VNAS) năm 2022 cho thấy gần 60% chi tiêu của người cao tuổi đến từ lao động và sự hỗ trợ của con cái, trong khi lương hưu và trợ giúp xã hội chiếm 15%. Hơn 10 triệu người cao tuổi Việt Nam đứng ngoài lưới an sinh, sống dựa vào khoản tích lũy ít ỏi hoặc trợ giúp từ gia đình; hơn 60% trong số này vẫn phải lao động, chủ yếu làm nông nghiệp hoặc các công việc phi chính thức bấp bênh.
>> Tôi sẵn sàng đánh đổi thừa kế để cha mẹ già vào viện dưỡng lão
Chỉ ra sai lầm của nhiều người khi thiếu sự chuẩn bị cho tuổi già, phụ thuộc hoàn toàn vào con cái, bạn đọc Tuy Nguyen nhấn mạnh: "Giao hết tài sản cho con cái là một sai lầm của rất nhiều phụ huynh mắc phải, để rồi sau đó chới với lúc về già. Tôi cũng có ba mẹ già và thấy rõ một điều rằng dù có sinh chục người con đi chăng nữa nhưng nếu chúng không hiếu thảo thì cũng vẫn không có người phụng dưỡng. Vậy nên tôi chọn cách chủ động dự phòng một khoản tiền về già cho bản thân để không bị phụ thuộc con cái về sau. Ngay cả khi con không phụng dưỡng thì tôi vẫn còn có một khoản để nhờ cơ sở y tế và thuê người chăm sóc. Nghe thì thật đau lòng nhưng đó là quy luật cuộc sống và ai cũng sẽ phải đón nhận mà thôi".
Cũng lựa chọn chuẩn bị từ sớm cho tuổi già của mình, độc giả Mocmien bày tỏ: "Tốt nhất là tuổi già dựa vào bản thân mình. Sinh con ra cho ăn học đầy đủ là được. Nếu ai có điều kiện hơn thì có thể tạo bước đệm vào đời cho con cái, còn không có thì để chúng tự bơi, vì bố mẹ đã cho 'cần câu cơm' rồi. Tôi cứ cho sẵn mỗi đứa một cái nhà, làm gì thì tùy. Còn tôi ở một nhà riêng, một nhà để phòng thân, đóng sẵn bảo hiểm xã hội ở mức cao nhất, sau cũng có lương hưu rủng rỉnh, chẳng cần phụ thuộc đứa nào. Bản thân tôi cũng không thích ai phụ thuộc mình và mình cũng không thích phụ thuộc ai, nên cứ tự lo cho đời mình thôi".
Đồng quan điểm, bạn đọc Vinaguy kết lại: "Tôi cũng chọn giải pháp tích lũy tài chính từ sớm: một phần giữ lại cho mình về già, phần còn lại cho con. Cứ thử hỏi, chúng ta chăm sóc cha mẹ già của mình đã tốt chưa? Đã hết lòng vì bố mẹ chưa? Lúc bố mẹ chúng ta mất đi, chúng ta có hối hận vì có gì đó chưa làm được cho ông bà chưa?
Khi trả lời được hết các câu hỏi này với đáp án nghiêng về chăm sóc bố mẹ thì hãy đẻ nhiều con để sau này chúng chăm sóc mình. Còn nếu câu trả lời nghiêng về hướng bản thân còn gia đình riêng, con cái của mình, kiếm sống vật vờ, chưa đủ sống, nên chưa thể chăm sóc được bố mẹ như mong muốn thì khi đó sẽ biết cách xử lý tình huống này".
Sau 21 năm làm việc trong môi trường sản xuất, đặc biệt tại các doanh nghiệp Nhật Bản, tôi nhận ra một nghịch lý khá phổ biến ở ta: rất nhiều kỹ sư ra trường phải được doanh nghiệp đào tạo lại từ đầu về quản lý chất lượng, trong khi đây lại là kỹ năng quyết định giá trị nghề nghiệp của họ trong nhà máy hiện đại. Nhiều người nghĩ chỉ cần giỏi chuyên môn kỹ thuật là đủ để một kỹ sư phát triển tốt trong doanh nghiệp sản xuất. Nhưng thực tế đi làm cho tôi thấy mọi thứ phức tạp hơn nhiều.
Trong các nhà máy tôi từng làm việc, hầu như không ai tuyển một người chỉ học "quản lý" để trực tiếp phụ trách hệ thống chất lượng. Thay vào đó, họ thường chọn những kỹ sư đã làm thực tế ở dây chuyền, hiểu máy móc, hiểu quy trình sản xuất, rồi mới đào tạo thêm về ISO, Kaizen, Lean, quản lý chất lượng hay cải tiến sản xuất.
Lý do là quản lý chất lượng trong nhà máy không phải công việc thiên về giấy tờ như nhiều người nghĩ. Người làm chất lượng phải hiểu lỗi phát sinh từ đâu, công đoạn nào gây lãng phí, tiêu chuẩn nào bất hợp lý, vì sao sản phẩm bị lỗi lặp lại và cách cải tiến quy trình để giảm sai sót. Nếu không hiểu thực tế vận hành, rất khó để xây dựng một hệ thống chất lượng hiệu quả.
Thế nhưng, điều tôi thấy đáng tiếc là nhiều chương trình đào tạo kỹ sư trong nước hiện nay vẫn nặng về lý thuyết kỹ thuật, trong khi phần quản lý chất lượng và quản trị sản xuất lại khá mờ nhạt. Nhiều sinh viên ra trường có thể tính toán rất tốt, nắm kiến thức chuyên ngành khá sâu, nhưng khi bước vào nhà máy lại lúng túng trước các quy trình ISO, kiểm soát chất lượng, quản trị tài liệu, phân tích nguyên nhân lỗi hay phối hợp giữa bộ phận kỹ thuật với sản xuất.
>> Kỹ sư 'việc nhẹ lương cao' ngày gồng 8 tiếng vì không đam mê
Doanh nghiệp vì thế phải mất thêm nhiều năm để "đào tạo lại" kỹ sư thành những người có tư duy hệ thống. Đây cũng là một nguyên nhân khiến nhiều kỹ sư thế hệ 7X, 8X, 9X dù có nền tảng chuyên môn tốt nhưng chưa phát huy hết giá trị của mình trong doanh nghiệp. Họ thường phải vừa làm vừa tự tích lũy kiến thức về quản trị sản xuất và quản lý chất lượng trong suốt nhiều năm.
Trong khi đó, xã hội lại đang có xu hướng đánh giá cao những ngành nghề "phi sản xuất" như tài chính, kinh tế hay quản trị. Nhiều bạn trẻ sinh sau năm 2000 dần ít chọn học kỹ thuật hơn vì cho rằng con đường này vất vả, chậm thành công và ít cơ hội bằng các ngành khác.
Theo tôi, đây không phải tín hiệu tích cực cho tương lai công nghiệp Việt Nam. Một quốc gia muốn phát triển bền vững không thể thiếu đội ngũ kỹ sư giỏi, người làm sản xuất mạnh, người hiểu công nghệ và có khả năng cải tiến hệ thống thực tế.
Qua nhiều năm làm việc, tôi nhận ra một kỹ sư hiểu quản lý chất lượng luôn có giá trị cao hơn kỹ sư chỉ giỏi chuyên môn thuần túy. Bởi doanh nghiệp hiện đại không chỉ cần người làm ra sản phẩm, mà cần người giúp hệ thống vận hành ổn định, giảm lỗi, giảm lãng phí và tăng năng suất. Nếu được đào tạo bài bản về quản lý chất lượng ngay từ đại học, kỹ sư sẽ thích nghi nhanh hơn với doanh nghiệp, giảm đáng kể thời gian đào tạo lại và phát huy giá trị sớm hơn.