Sau 21 năm làm việc trong môi trường sản xuất, đặc biệt tại các doanh nghiệp Nhật Bản, tôi nhận ra một nghịch lý khá phổ biến ở ta: rất nhiều kỹ sư ra trường phải được doanh nghiệp đào tạo lại từ đầu về quản lý chất lượng, trong khi đây lại là kỹ năng quyết định giá trị nghề nghiệp của họ trong nhà máy hiện đại. Nhiều người nghĩ chỉ cần giỏi chuyên môn kỹ thuật là đủ để một kỹ sư phát triển tốt trong doanh nghiệp sản xuất. Nhưng thực tế đi làm cho tôi thấy mọi thứ phức tạp hơn nhiều.
Trong các nhà máy tôi từng làm việc, hầu như không ai tuyển một người chỉ học “quản lý” để trực tiếp phụ trách hệ thống chất lượng. Thay vào đó, họ thường chọn những kỹ sư đã làm thực tế ở dây chuyền, hiểu máy móc, hiểu quy trình sản xuất, rồi mới đào tạo thêm về ISO, Kaizen, Lean, quản lý chất lượng hay cải tiến sản xuất.
Lý do là quản lý chất lượng trong nhà máy không phải công việc thiên về giấy tờ như nhiều người nghĩ. Người làm chất lượng phải hiểu lỗi phát sinh từ đâu, công đoạn nào gây lãng phí, tiêu chuẩn nào bất hợp lý, vì sao sản phẩm bị lỗi lặp lại và cách cải tiến quy trình để giảm sai sót. Nếu không hiểu thực tế vận hành, rất khó để xây dựng một hệ thống chất lượng hiệu quả.
Thế nhưng, điều tôi thấy đáng tiếc là nhiều chương trình đào tạo kỹ sư trong nước hiện nay vẫn nặng về lý thuyết kỹ thuật, trong khi phần quản lý chất lượng và quản trị sản xuất lại khá mờ nhạt. Nhiều sinh viên ra trường có thể tính toán rất tốt, nắm kiến thức chuyên ngành khá sâu, nhưng khi bước vào nhà máy lại lúng túng trước các quy trình ISO, kiểm soát chất lượng, quản trị tài liệu, phân tích nguyên nhân lỗi hay phối hợp giữa bộ phận kỹ thuật với sản xuất.
>> Kỹ sư ‘việc nhẹ lương cao’ ngày gồng 8 tiếng vì không đam mê
Doanh nghiệp vì thế phải mất thêm nhiều năm để “đào tạo lại” kỹ sư thành những người có tư duy hệ thống. Đây cũng là một nguyên nhân khiến nhiều kỹ sư thế hệ 7X, 8X, 9X dù có nền tảng chuyên môn tốt nhưng chưa phát huy hết giá trị của mình trong doanh nghiệp. Họ thường phải vừa làm vừa tự tích lũy kiến thức về quản trị sản xuất và quản lý chất lượng trong suốt nhiều năm.
Trong khi đó, xã hội lại đang có xu hướng đánh giá cao những ngành nghề “phi sản xuất” như tài chính, kinh tế hay quản trị. Nhiều bạn trẻ sinh sau năm 2000 dần ít chọn học kỹ thuật hơn vì cho rằng con đường này vất vả, chậm thành công và ít cơ hội bằng các ngành khác.
Theo tôi, đây không phải tín hiệu tích cực cho tương lai công nghiệp Việt Nam. Một quốc gia muốn phát triển bền vững không thể thiếu đội ngũ kỹ sư giỏi, người làm sản xuất mạnh, người hiểu công nghệ và có khả năng cải tiến hệ thống thực tế.
Qua nhiều năm làm việc, tôi nhận ra một kỹ sư hiểu quản lý chất lượng luôn có giá trị cao hơn kỹ sư chỉ giỏi chuyên môn thuần túy. Bởi doanh nghiệp hiện đại không chỉ cần người làm ra sản phẩm, mà cần người giúp hệ thống vận hành ổn định, giảm lỗi, giảm lãng phí và tăng năng suất. Nếu được đào tạo bài bản về quản lý chất lượng ngay từ đại học, kỹ sư sẽ thích nghi nhanh hơn với doanh nghiệp, giảm đáng kể thời gian đào tạo lại và phát huy giá trị sớm hơn.
Trên một diễn đàn, tôi thấy một người nước ngoài chia sẻ về giá sách ở Việt Nam. Người này chia sẻ rằng: "Sống ở Sài Gòn 8 ngày, sống thoải mái với chỉ 70 đôla" nhưng mua sách in đắt kinh khủng.
"Mình mua tầm 7-8 cuốn mà gần tốn 3,5-4 triệu đồng. Chẳng có cuốn nào mình mua dưới 350 nghìn đồng cả". Và người này đặt câu hỏi:
Cùng mấy cuốn sách đó, ở nước mình mua rẻ hơn một nửa, thậm chí còn rẻ hơn nữa ấy". Sao sách ở đây lại đắt thế?
Đầu tiên, tôi nghĩ rằng sách mà bạn người nước ngoài này mua là sách ngoại văn, nên việc đắt đỏ là điều dễ hiểu.
Tuy nhiên, tôi lại đồng tình rằng giá sách ở ta vẫn còn cao so với thu nhập. Đơn cử như một cuốn sách tôi mua gần đây chỉ có 138 trang, dịch lại những câu triết lý của nước ngoài, hàm lượng chữ trong một trang rất ít, nhưng bán với giá gần 70 nghìn đồng. Tôi đọc chưa tới một buổi chiều là đã hết và hiện giờ nó nằm im trong giá sách.
Chỉ khi nào rủng rỉnh tiền tôi mới dám đi nhà sách, vì mỗi lần vào mua 2-3 cuốn là tốn hơn 500-600 nghìn đồng. Nếu đi hiệu sách cũ thì giá cũng không rẻ hơn bao nhiêu.
Cá nhân tôi nghĩ rằng giá sách ở Việt Nam còn đắt so với thu nhập, ít nhất là một người đi làm bình thường chứ chưa nói đến học sinh, sinh viên. Bạn có nghĩ giống tôi không?
Tôi từng có một giai đoạn thất nghiệp sau khi tốt nghiệp đại học. Khi đó, mỗi sáng thức dậy tôi luôn tự hỏi: hôm nay mình sẽ làm gì để sống? Nộp hồ sơ thì không có phản hồi, còn tiền tiết kiệm thì cứ vơi dần. Trong lúc bế tắc, tôi có hai lựa chọn: một là tiếp tục chờ đợi mơ hồ về công việc văn phòng đúng chuyên môn, hai là chấp nhận rẽ ngang, làm một việc tay chân hoặc kỹ thuật để có thu nhập ngay. Và tôi chọn phương án thứ hai.
Gần như bắt đầu từ con số không, tôi theo chân một người quen, học cách tháo lắp máy lạnh, tủ lạnh, vệ sinh điều hòa. Công việc ban đầu thuần tay chân. Tôi chủ yếu leo trèo, dọn dẹp, nhiều khi phải đứng nắng cả ngày. Rồi tôi học việc từ những người thợ lành nghề: những thao tác tháo lắp đơn giản đến những kỹ thuật phức tạp hơn.
Có hôm, tôi bị khách phàn nàn, nhưng cũng chỉ biết im lặng mà rút kinh nghiệm. Điều khiến tôi bám trụ với công việc này là cảm giác mình đang học được thứ gì đó có thể tích lũy kinh nghiệm. Mỗi lần sửa xong một ca khó, tôi hiểu thêm một chút về chuyên môn. Mỗi tháng trôi qua, tôi tự tin hơn, làm nhanh hơn, ít sai sót hơn.
Sau khoảng ba năm, tôi bắt đầu nhận việc độc lập, thu nhập tăng lên khoảng 10-15 triệu đồng một tháng, đặc biệt vào mùa nóng có thể cao hơn. Khi đã có tay nghề vững và có khách quen, mức thu nhập của tôi ổn định ở khoảng 18-25 triệu đồng một tháng, có tháng cao điểm vượt 30 triệu.
>> Tôi làm IT ngồi máy tính 12 tiếng một ngày vẫn hơn chạy xe ôm công nghệ
Trong khi đó, một người bạn của tôi cũng từng đi làm, nhưng sau đó chọn chạy xe ôm công nghệ vì mất việc và không tìm được việc mới. Thời gian đầu, cậu ấy kiếm được khoảng 10-12 triệu mỗi tháng nếu chăm chỉ. Nhưng sau vài năm, con số đó gần như không thay đổi, thậm chí còn giảm vì cạnh tranh cao, thị trường bão hòa. Muốn kiếm nhiều hơn thì chỉ có cách chạy xe nhiều giờ hơn, có hôm cậu làm liên tục 12-14 tiếng mỗi ngày.
Khi mệt đi hoặc có việc cá nhân, thu nhập của cậu giảm ngay lập tức. Muốn kiếm nhiều hơn, cậu chỉ có cách chạy nhiều giờ hơn. Nhưng khổ nỗi, người mới vào nghề, nếu chăm chỉ, vẫn có thể kiếm ngang cậu.
Sau 5 năm, kỹ năng của cậu gần như không thay đổi, nên rất khó tạo ra khác biệt. Thế mới thấy, không phải nghề nào cũng cho bạn "đòn bẩy" phát triển theo thời gian. Làm thợ, bạn có thể đi từ học việc lên thợ chính, rồi thậm chí mở cửa hàng riêng. Mỗi bước tiến là một mức thu nhập khác. Còn với những công việc không đòi hỏi tích lũy kỹ năng như chạy xe ôm, bạn chủ yếu đổi thời gian lấy tiền, và cuộc đua đó ngày càng khốc liệt.
Tôi không phủ nhận giá trị của bất kỳ công việc nào. Xe ôm, shipper hay lao động phổ thông đều đáng trân trọng. Nhưng nếu nhìn dài hạn, tôi nghĩ ai cũng nên tự hỏi: công việc mình đang làm có giúp mình "tăng giá trị" theo thời gian không? Thất nghiệp không đáng sợ. Đáng sợ là chọn một lối đi mà 5-10 năm sau, mình vẫn đứng yên tại chỗ.
Nhìn lại chặng đường đã qua, tôi không thấy mình thất bại. Chỉ là tôi đã đi một con đường khác, bắt đầu lại từ con số 0, nhưng mỗi năm trôi qua, tôi biết mình đang tiến lên. Hành trình ấy có thể dài hơn, nhưng nó đảm bảo tôi không đứng yên một chỗ.
Người thợ may này là chỗ quen biết của gia đình tôi. Hơn hai mươi năm trước, thay vì vào đại học hay đi làm công nhân, cô quyết định học nghề may. Số tiền học nghề khi đó tương đương vài chỉ vàng, là khoản đầu tư không hề nhỏ đối với một gia đình nông thôn. Sau khi học xong, cô mở tiệm tại nhà.
Đến nay, khi nhiều người cùng thời đã nghỉ việc hoặc liên tục chuyển nghề, cô vẫn sống tốt bằng chiếc máy may của mình. Tay nghề càng cao, khách càng đông.
Chỉ cần đo số đo, vẽ rập, cắt và may, cô có thể tạo ra những bộ đồ vừa vặn với từng người. Điều quan trọng hơn là hiện nay rất khó tìm được một người may giỏi như vậy.
Trước Tết, tôi đi chợ quê, ghé vào một sạp mua vài mét vải may áo bà ba làm quà cho mẹ. Những tấm vải đẹp, hoa văn đa dạng, màu sắc bắt mắt. Người mua chỉ cần nói với chủ sạp là họ cắt cho một khúc vải đủ may áo bà ba. Tiền vải chỉ khoảng 120 nghìn đồng.
Về nhà, mẹ tôi bảo nếu muốn có áo mặc Tết thì phải đặt may từ tháng 10 âm lịch. Còn cận Tết thì gần như không kịp nữa. Điều khiến tôi bất ngờ hơn là tiền công may một chiếc áo bà ba là 350 nghìn đồng, gần gấp ba lần tiền vải. Ngay cả những tháng bình thường, khách cũng phải chờ hơn một tháng mới nhận được đồ.
Đúng là trên các sàn thương mại điện tử, ao bà ba may sẵn bán rất nhiều, nhưng nhiều người vẫn thích may đo trực tiếp. Họ muốn bộ quần áo vừa với cơ thể, đúng kiểu dáng mình thích, mặc thoải mái và bền hơn. Chính nhu cầu tưởng như rất bình thường đó lại tạo ra một thị trường việc làm ổn định cho những người có tay nghề.
Gần nơi tôi sống trên thành phố có một chị chuyên sửa quần áo, lên lai, thay dây kéo, đóng nút, vắt sổ. Tiệm nhỏ nằm trong con hẻm nhưng lúc nào cũng có khách.
Trong khi nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học đang chật vật tìm việc đúng chuyên môn, không ít nhân viên văn phòng thấp thỏm trước nguy cơ bị AI thay thế, thì những nghề chân tay đòi hỏi kỹ năng thực tế lại đang thiếu nhân lực nghiêm trọng.
Câu chuyện "thừa thầy thiếu thợ" đã được nhắc đến suốt nhiều năm qua. Nhưng dường như xã hội vẫn chưa thật sự thay đổi cách nhìn. Nhiều gia đình vẫn xem đại học là con đường gần như duy nhất dẫn đến thành công.
Học nghề thường bị coi là lựa chọn thứ yếu, thậm chí là giải pháp dành cho những học sinh không đủ khả năng học tiếp. Chính tâm lý đó khiến lượng người trẻ bước vào các ngành nghề kỹ thuật, thủ công, dịch vụ tay nghề ngày càng ít.
Trong khi đó, thị trường lao động lại vận hành theo một quy luật rất đơn giản: nơi nào khan hiếm lao động thì giá trị lao động sẽ tăng lên.
Một người có thể mất bốn năm đại học để cạnh tranh cho một vị trí văn phòng với hàng trăm ứng viên khác. Nhưng cũng có người chỉ cần vài năm học nghề, rèn luyện tay nghề thật tốt là đã có thể tạo ra nguồn thu nhập ổn định, thậm chí cao hơn mặt bằng chung. Thời gian linh hoạt, có thể vừa làm việc tại nhà, vừa có thời gian đưa rước con đi học.
Dĩ nhiên, không phải ai cũng phù hợp với nghề may, nghề sửa đồ hay các công việc thủ công khác. Xã hội cần cả kỹ sư, bác sĩ, giáo viên lẫn thợ lành nghề. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta đã quá lâu đề cao bằng cấp mà xem nhẹ giá trị của kỹ năng thực hành.
Có phải chúng ta đang dư thừa nhân công ngồi bàn giấy? Và cần những người trực tiếp tạo ra sản phẩm, sửa chữa đồ vật, xây dựng công trình, vận hành máy móc và cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho đời sống?