10 chuyên đề ôn tập môn lịch sử thuộc chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao năm 2026 do giáo viên Nguyễn Viết Đăng Du, Trường THPT Lê Quý Đôn (P.Xuân Hòa), hướng dẫn được phát ở chuyên mục giáo dục trên các nền tảng: thanhnien.vn, fanpage Facebook và kênh YouTube của Báo Thanh Niên.
Trong chuyên đề 7: Công cuộc Đổi mới ở Việt Nam từ 1975 đến nay, giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt, khái quát những nội dung về bối cảnh lịch sử, tiến trình đổi mới và các thành tựu công cuộc Đổi mới đã đạt được từ đó rút ra bài học kinh nghiệm…
Trước đó, vào ngày 9.5, trong chuyên đề 6 – Đấu tranh bảo vệ Tổ quốc sau 1975 – giáo viên tóm tắt, khái quát những nội dung về bối cảnh lịch sử, diễn biến các cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc sau 1975 bao gồm chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía bắc, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Từ 20.4 đến 23.5, vào các khung giờ cố định (16 giờ 30, 18 giờ 30 và 20 giờ 30) thứ hai đến thứ bảy hàng tuần, Báo Thanh Niên lần lượt phát sóng trực tiếp 88 chuyên đề Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao tại các địa chỉ thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Báo Thanh Niên.
88 chuyên đề ôn tập kiến thức do các giáo viên giàu kinh nghiệm tại TP.HCM xây dựng, gồm: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa, Bùi Thị Xuân, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Nguyễn Hiền, quốc tế Á Châu… Qua mỗi chuyên đề ôn thi trực tuyến, giáo viên sẽ giúp học sinh tiết kiệm thời gian, tận dụng lợi thế của công nghệ để hứng thú với việc học, tích lũy kiến thức cho kỳ thi quan trọng sắp đến.
Sau các khung giờ nói trên, các chuyên đề vẫn xuất hiện trên các nền tảng thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Thanh Niên. Học sinh sử dụng bất kỳ thiết bị (điện thoại thông minh, máy tính cá nhân hay máy tính cố định) và chỉ cần kết nối internet đều có thể tiếp cận nội dung hệ thống kiến thức của 9 môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Lịch phát sóng tuần từ 11 đến 16.5 các chuyên đề ôn thi tốt nghiệp năm 2026:
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Đại học Quốc gia Hà Nội phải trở thành trung tâm tinh hoa, đổi mới sáng tạo

GS.TS Nguyễn Đình Đức - Trường đại học Công nghệ Hà Nội - nhận định phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội hôm 16-5 là chỉ đạo có ý nghĩa chiến lược, không chỉ đối với riêng Đại học Quốc gia Hà Nội, mà còn đối với toàn bộ hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Thông điệp cốt lõi nhất trong bài phát biểu là: Đại học Quốc gia Hà Nội phải ý thức sâu sắc hơn nữa sứ mệnh quốc gia của mình. Hai chữ "quốc gia" không chỉ là danh xưng, mà là trách nhiệm, danh dự và sứ mệnh phụng sự đất nước.
Theo ông Đức, trong bối cảnh hiện nay, cạnh tranh giữa các quốc gia trước hết là cạnh tranh về tri thức, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.
Một quốc gia muốn phát triển nhanh, bền vững và tự chủ thì phải có những đại học mạnh, những trung tâm nghiên cứu mạnh, những nhóm nghiên cứu mạnh và những thế hệ trí thức có khát vọng lớn. Vì vậy, Đại học Quốc gia Hà Nội không thể chỉ dừng lại ở vai trò đào tạo và nghiên cứu theo nghĩa truyền thống, mà phải vươn lên thành một đại học tinh hoa hiện đại, đa ngành, đa lĩnh vực, vận hành theo mô hình đại học đổi mới sáng tạo và có năng lực dẫn dắt quốc gia.
Muốn hiện thực hóa yêu cầu đó, trước hết cần đột phá về quản trị đại học. Đại học Quốc gia Hà Nội cần được vận hành theo mô hình "one VNU - một mái nhà chung Đại học Quốc gia Hà Nội", khai thác tối đa các nguồn lực dùng chung, gắn với mục tiêu, chất lượng, kết quả đầu ra và tác động xã hội.
Mỗi trường đại học thành viên, mỗi viện nghiên cứu, mỗi phòng thí nghiệm, mỗi nhóm nghiên cứu mạnh của Đại học Quốc gia Hà Nội cần có nhiệm vụ rõ ràng, chỉ tiêu rõ ràng và trách nhiệm rõ ràng. Không thể chỉ đánh giá đại học bằng số lượng tuyển sinh, số lượng đề tài hay số bài báo công bố.
Những tiêu chí đó là cần thiết, nhưng chưa đủ.
Cần đánh giá bằng chất lượng học thuật, bằng sáng chế, sản phẩm công nghệ được chuyển giao, doanh nghiệp khoa học - công nghệ được hình thành, chính sách được tư vấn, nhân tài được đào tạo và mức độ đóng góp thực chất cho đất nước.
Thứ hai, cần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực và tự chủ đại học. Đại học Quốc gia Hà Nội cần được trao quyền chủ động cao hơn nữa trong học thuật, trong tuyển dụng, đãi ngộ nhân tài, sử dụng nguồn lực, hợp tác quốc tế, đầu tư phòng thí nghiệm, triển khai các hoạt động khoa học - công nghệ, thành lập doanh nghiệp khoa học - công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Nếu đặt mục tiêu đến năm 2030 Đại học Quốc gia Hà Nội thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu châu Á, đến năm 2035 thuộc nhóm 300 đại học hàng đầu thế giới và có một số ngành mũi nhọn đứng trong nhóm 100 toàn cầu, thì cơ chế phát triển dành cho Đại học Quốc gia Hà Nội cũng phải tương xứng với mục tiêu đó.
Không thể yêu cầu một đại học cạnh tranh quốc tế nhưng lại vận hành bằng những cơ chế chưa đủ linh hoạt, chưa đủ sức hấp dẫn nhân tài và chưa đủ mạnh về nguồn lực.
Thứ ba, phải đầu tư có trọng điểm cho các lĩnh vực mũi nhọn. Đó là những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, năng lượng mới, công nghệ xanh, khoa học bền vững, khoa học giáo dục, khoa học chính sách, văn hóa và Việt Nam học.
Trong mỗi lĩnh vực, cần hình thành các trung tâm xuất sắc và nhóm nghiên cứu mạnh theo chuẩn quốc tế. Những nhóm này phải có trưởng nhóm đủ uy tín, đội ngũ kế cận mạnh, nghiên cứu sinh giỏi, phòng thí nghiệm hiện đại, hợp tác quốc tế thực chất và ngân sách ổn định dài hạn. Không thể có nghiên cứu đỉnh cao nếu đầu tư ngắn hạn, manh mún, dàn trải và thiếu tính liên tục.
Thứ tư, Đại học Quốc gia Hà Nội cần gắn nghiên cứu khoa học với các bài toán lớn của đất nước. Đây là yêu cầu rất đúng và rất cấp thiết. Đại học không thể chỉ nghiên cứu những gì mình có, mà phải nghiên cứu những gì đất nước đang cần và sẽ cần.
Đặc biệt, Đại học Quốc gia Hà Nội phải trở thành "túi khôn" của quốc gia. Khi Nhà nước cần luận cứ khoa học cho những quyết sách chiến lược, Đại học Quốc gia Hà Nội phải là một địa chỉ tin cậy. Khi doanh nghiệp cần công nghệ, nhân lực chất lượng cao và mô hình đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội phải là một đối tác chiến lược. Khi địa phương cần mô hình phát triển, chuyển đổi số, quản trị đô thị, phát triển nguồn nhân lực, Đại học Quốc gia Hà Nội phải có khả năng đồng hành.
Thứ năm, Khu đô thị Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc cần được phát triển như một thành phố đại học - công nghệ - đổi mới sáng tạo, chứ không chỉ là một khu giảng đường mới.
Một đại học đổi mới sáng tạo trước hết phải có khoa học cơ bản rất mạnh, có như vậy mới làm chủ được các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, đồng thời phải tạo được dòng chảy liên tục từ đào tạo đến nghiên cứu, từ nghiên cứu đến công nghệ, từ công nghệ đến sản phẩm, từ sản phẩm đến doanh nghiệp, và từ doanh nghiệp quay trở lại nuôi dưỡng đại học.
Thứ sáu, cần đột phá về chính sách nhân tài. Cạnh tranh đại học ngày nay thực chất là cạnh tranh nhân tài. Muốn Đại học Quốc gia Hà Nội vươn lên tầm khu vực và quốc tế, phải có cơ chế đủ mạnh để thu hút giáo sư giỏi, nhà khoa học trẻ xuất sắc, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và học giả quốc tế.
Chính sách nhân tài không thể chỉ dừng ở lời mời gọi, mà phải đi kèm điều kiện làm việc, phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu, kinh phí, nhà ở, học bổng nghiên cứu sinh, quyền tự chủ học thuật và môi trường khoa học chuyên nghiệp.
Thứ bảy, Đại học Quốc gia Hà Nội phải đổi mới đào tạo theo hướng khai phóng, liên ngành, hiện đại và gắn với trách nhiệm quốc gia. Đại học phải đào tạo con người có tư duy phản biện, năng lực tự học, năng lực liên ngành, năng lực số, ngoại ngữ, tinh thần sáng tạo và ý thức phụng sự.
Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội phải có năng lực toàn cầu, nhưng đồng thời phải có căn cốt văn hóa Việt Nam, lòng tự trọng dân tộc và trách nhiệm với đất nước.
Cuối cùng, Đại học Quốc gia Hà Nội cần phát huy mạnh mẽ vai trò ngoại giao học thuật. Đại học Quốc gia Hà Nội phải trở thành địa chỉ tiêu biểu của trí tuệ Việt Nam, triển khai thật tốt đối ngoại nhân dân và ngoại giao nhà nước, nơi các học giả lớn, các đại học hàng đầu, các tập đoàn công nghệ và sinh viên quốc tế tìm đến để hợp tác, trao đổi và hợp tác.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Bị chê nhưng có mức lương 8-30 triệu đồng/tháng
Thời gian qua, liên tục bị các TikToker chê là ngành "vô dụng, không học cũng biết" và thất nghiệp nhưng Ngôn ngữ Anh luôn có điểm chuẩn đầu vào ở nhóm cao tại các trường đại học. Ở một số trường chuyên hàng đầu tại Hà Nội, Ngôn ngữ Anh có tỷ lệ “chọi” cao trong các kỳ thi vào lớp 10 THPT.
Bên lề “Ngày hội kết nối doanh nghiệp”, Trường Đại học Hà Nội tổ chức chiều 14/5, TS Nguyễn Tiến Dũng, Phó Hiệu trưởng Đại học Hà Nội, cho biết với đặc trưng là trường chuyên về các ngành ngoại ngữ, trong 5 năm gần đây, Ngôn ngữ Anh luôn là một trong 3 ngành học có điểm chuẩn cao nhất trường.
Trung bình mỗi môn thi tốt nghiệp THPT phải đạt 8,25-9 điểm mới đỗ. “Điều này chứng tỏ xã hội vẫn cần và rất quan tâm đến ngành Ngôn ngữ Anh”, ông Dũng cho biết.
Cũng theo ông Dũng, ngành Ngôn ngữ Anh có tiềm năng phát triển rất tốt – nhất là khi Việt Nam đang triển khai đề án tiếng Anh là ngoại ngữ thứ 2 trong môi trường học tập và tiến tới cả trong môi trường công việc, sinh hoạt hàng ngày.
“Như vậy, tiếng Anh sẽ tiếp tục là ngôn ngữ có vị thế, xuất hiện trong mọi ngóc ngách của đời sống. Bởi lẽ đó, người học và học giỏi tiếng Anh vẫn luôn có đất dụng võ.
Thậm chí người học tiếng Anh có thể sử dụng ngôn ngữ này để làm tiền đề cho việc học các ngành ngôn ngữ khác”, ông Dũng nói.
Chuyên gia này cho hay, hiện khoảng 3/4 nguồn học liệu liên quan đến tiếng Anh. Do đó, họ có lợi thế trong việc tiếp cận trí tuệ và tiếp thu kiến thức, học tập.
“Ngành này luôn có tiềm năng phát triển và vẫn có mức cạnh tranh cao trong mùa tuyển sinh năm nay”, theo ông Dũng phân tích.
Chia sẻ về thu nhập đối với nhân sự ngành Ngôn ngữ Anh, ông Dũng cho hay: “Về mặt bằng chung, đa phần nhân lực ngôn ngữ Anh trong những năm đầu tiên có thể nhận mức lương 10-12 triệu đồng/tháng, sau đó gia tăng dần tùy thuộc từng vị trí việc làm mà người đó đảm nhận ở doanh nghiệp”.
Trong 3 năm gần đây, qua khảo sát mức độ việc làm của sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh tại Đại học Hà Nội sau khi tốt nghiệp 12 tháng, tỷ lệ có việc làm đạt 95-97%.
Cũng theo ông Dũng, các vị trí được nhà tuyển dụng quan tâm là nhóm ngành ngôn ngữ nước ngoài và các nhóm ngành được đào tạo bằng tiếng Anh, với các ngành thương mại, giáo dục, giảng dạy ngoại ngữ, du lịch, phiên dịch…
Cần thêm nhiều kỹ năng mềm
Ông Đặng Văn Thuận, đại diện đến từ ngân hàng Bắc Á Bank (tại Hà Nội), cho biết sinh viên ngôn ngữ mới ra trường hiện có kiến thức tốt nhưng còn thiếu kỹ năng mềm.
Do vậy, với một số vị trí, doanh nghiệp này cần thời gian để đào tạo thêm, thời gian đào tạo bao lâu tùy từng vị trí.
Cũng dưới góc nhìn này, ông LiuYang, Giám đốc một công ty liên quan đến dịch vụ ăn uống tại Việt Nam, cho biết nhiều sinh viên nhóm ngành ngôn ngữ nói chung lúc mới ra trường còn thiếu kỹ năng mềm. Do đó, doanh nghiệp phải tỉ mỉ đào tạo từng chút để giúp họ đứng vững trong môi trường doanh nghiệp.
Bà Đinh Thị Lan Hương, phòng hành chính nhân sự, Công ty du lịch Indochina Travel Expert, cho biết nhân sự ngành ngôn ngữ Anh tại công ty này có mức lương dao động khoảng 8-30 triệu đồng/tháng, tùy vị trí.
Cụ thể, với nhân sự sau khoảng 6 tháng làm việc, hoàn thành công việc tốt, có thể đạt mức lương 8-15 triệu đồng/tháng.
Những sinh viên nhóm ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ Anh còn thiếu kỹ năng mềm, kỹ năng xử lý vấn đề, xử lý một số phần mềm và doanh nghiệp phải đào tạo thêm trong vòng 4-5 tháng mới thành thạo.
Ông Dũng cũng thừa nhận, vì sự phát triển của AI nên một số ngành ngôn ngữ bị ảnh hưởng.
Tin Gốc: Dân Trí

Hội nghị diễn ra trực tiếp tại Trường ĐH Tôn Đức Thắng (TP.HCM) cùng hơn 400 điểm cầu trực tuyến từ các trường ĐH trong cả nước.
Tham dự hội nghị, đại diện lãnh đạo và cán bộ phụ trách tuyển sinh của nhiều cơ sở đào tạo ĐH đã có nhiều ý kiến thắc mắc, góp ý cho công tác tuyển sinh trong năm nay.
GS-TS-BS Nguyễn Vũ Quốc Huy, Hiệu trưởng Trường ĐH Y dược (ĐH Huế), đề xuất nên có chiến lược, khung tuyển sinh ĐH và CĐ sư phạm cho một giai đoạn công bố cho xã hội để tránh những điều chỉnh từ năm này qua năm khác. "Năm ngoái chúng ta cũng trao đổi rất nhiều về những điều chỉnh tuyển sinh, năm nay các dự thảo so với các văn bản vừa ban hành cũng có sự khác biệt. Điều này dẫn đến sự bối rối của phụ huynh và học sinh (HS), không chỉ với HS lớp 12 mà với HS lớp 9, lớp 10", GS Huy nhấn mạnh.
GS-TS-BS Nguyễn Vũ Quốc Huy phân tích thêm: "Chúng tôi nêu lên những điều này vì đó là một sự thật mà các em HS đều quan tâm. Ví dụ việc cộng điểm với thí sinh (TS) có chứng chỉ ngoại ngữ, mỗi năm có mức riêng và thay đổi qua từng năm là điều dễ hiểu. Nhưng sự thay đổi lớn quá từ 3 điểm xuống còn 2 điểm hay 1,5 điểm thì phụ huynh sẽ hiểu và diễn giải như thế nào, nhất là phụ huynh chuẩn bị cho con em trong tương lai sẽ tham gia kỳ thi này ra sao? Nếu chúng ta đặt mình vào vị trí của từng phụ huynh, từng HS thì sẽ hiểu được những khó khăn, bối rối của họ".
Từ đó, GS Huy cho rằng: "Các chính sách tuyển sinh nên có tính ổn định và tính dự báo. Những khuyến cáo, định hướng đưa ra cho HS lớp 9 chuẩn bị vào lớp 10 năm nay để các em có sự chuẩn bị trong vòng 3 năm. Điều này nhằm đảm bảo công bằng xã hội và đảm bảo tính giải trình xã hội. Về lâu về dài, ít nhất trong chu kỳ từ 3 - 5 năm cần có định hướng ổn định. Thực tế chứng minh cách làm trong những năm vừa qua là ổn định và xã hội chấp nhận được, thì nên giữ vững tính ổn định đó".
Về vấn đề này, GS-TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT), cho rằng hoạt động tuyển sinh nhìn tổng thể là sự kế thừa và cố gắng ổn định từ nay đến năm 2030. Một số quy định mới được ban hành là văn bản dưới luật khi có các luật mới. Một số điều chỉnh là cần thiết, ví dụ chính sách ưu tiên TS có chứng chỉ ngoại ngữ. Năm trước, TS có chứng chỉ ngoại ngữ vừa được cộng điểm vừa được quy đổi, mỗi trường quy đổi theo cách khác nhau, gây ra những bất cập. Năm nay, Bộ quy định công thức quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ cần có sự thống nhất theo 5 mức và giữ ổn định trong thời gian ít nhất 2 năm. Bộ muốn quy định này giữ ổn định trong 5 năm nhưng sau thời gian thực hiện nếu xảy ra bất cập, có thể tiếp tục điều chỉnh để phù hợp hơn sau đó.
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Lê Quân cũng khẳng định quy chế tuyển sinh năm 2026 cơ bản theo hướng ổn định. Bộ GD-ĐT đã tính toán để giữ định hướng đến năm 2030, đồng thời từng bước tăng quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo. Những điều chỉnh năm nay chủ yếu mang tính kỹ thuật như giới hạn số lượng nguyện vọng còn 15, chuẩn hóa cách quy đổi điểm giữa các phương thức xét tuyển... Còn việc quy đổi điểm, Thứ trưởng Lê Quân cho rằng Bộ chỉ ở vai trò hướng dẫn, còn các trường phải dựa trên dữ liệu thực chứng.
Bên cạnh đó, một số cơ sở đào tạo cũng ý kiến cần có hướng dẫn về cách thức quy đổi điểm giữa các phương thức xét tuyển, quy đổi điểm chứng chỉ ngoại ngữ…
Liên quan đến chứng chỉ ngoại ngữ, tiến sĩ Lê Văn Tường Lân, Trưởng ban Đào tạo và công tác sinh viên ĐH Huế, đặt vấn đề: Bộ đã có quy định về chính sách ưu tiên với TS có chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh, tuy nhiên thực tế cho thấy có TS dùng 2 loại chứng chỉ tiếng Anh khác nhau (IELTS và V-STEP) khi tham gia xét tuyển, 1 chứng chỉ cộng điểm và 1 chứng chỉ quy đổi, thì có được không?
Giải đáp băn khoăn này, GS Nguyễn Tiến Thảo khẳng định, TS chỉ có thể áp dụng điều kiện vừa cộng điểm vừa quy đổi điểm nếu có 2 chứng chỉ của 2 ngoại ngữ khác nhau. Với TS có 2 chứng chỉ cùng một ngoại ngữ, như bảng quy đổi các trường ĐH đã công bố và trong quy chế cũng đã thể hiện, TS chỉ được quyền lựa chọn chứng chỉ có mức ưu tiên cao nhất. Điều này theo ông Thảo là cần thiết để tránh tình trạng TS thi nhiều loại chứng chỉ khác nhau trong cùng một ngoại ngữ không cần thiết.
Liên quan vấn đề trên, từ nhóm xét tuyển miền Bắc, đại diện ĐH Bách khoa Hà Nội đặt câu hỏi: "Năm ngoái có tình trạng TS tự cung cấp minh chứng chứng chỉ ngoại ngữ lên hệ thống xét tuyển từ tài khoản TS, không nộp về trường theo quy định của cơ sở đào tạo. Điều này dẫn đến việc nhiều TS cung cấp minh chứng không đúng quy định, gây khó khăn cho công tác xét tuyển. Vậy năm nay Bộ có chủ trương cho phép TS thực hiện thao tác này không, nếu có thì trong giai đoạn nào?".
Đại diện ĐH Bách khoa Hà Nội cũng bày tỏ băn khoăn liên quan đến tiêu chí phụ trong xét tuyển. Theo đó, lâu nay trong quy chế tuyển sinh chỉ có một tiêu chí phụ mặc định là thứ tự nguyện vọng, các tiêu chí phụ khác phù hợp với chương trình đào tạo là do các cơ sở đào tạo quy định. Tuy nhiên, nguyên tắc xét tuyển năm nay có quy định mới liên quan đến tiêu chí phụ bắt buộc. Cụ thể, nguyên tắc xét chọn bình đẳng theo từng phương thức, tổ hợp xét tuyển, không phụ thuộc thứ tự ưu tiên của nguyện vọng đăng ký trừ 2 trường hợp. Thứ nhất là cùng điểm xét ở cuối danh sách, thứ tự xét ưu tiên đối với các TS có điểm cộng thấp hơn. Thứ hai là cùng điểm xét ở cuối danh sách, điểm cộng bằng nhau, ưu tiên nguyện vọng cao hơn.
Với quy định này, đại diện ĐH Bách khoa Hà Nội băn khoăn: "Điểm cộng này có tính điểm ưu tiên không?". Ngoài ra, đại diện ĐH này đề xuất nên chăng không áp dụng tiêu chí phụ bắt buộc mà để các trường lựa chọn tiêu chí phù hợp để tuyển lựa TS cùng mức điểm theo mong muốn.
Tin Gốc: Thanh Niên

