Điểm mới của dự thảo yêu cầu chất lượng đối với vàng miếng, vàng nguyên liệu. Vàng miếng nhập khẩu, vàng nguyên liệu nhập khẩu phải có hàm lượng vàng từ 99,5 % trở lên. Vàng miếng được sản xuất, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường; vàng nguyên liệu nhập khẩu phải bảo chất lượng, hàm lượng vàng không được thấp hơn tiêu chuẩn, hàm lượng đã công bố. Theo ban soạn thảo, Nghị định 232/2025, các doanh nghiệp, ngân hàng chỉ được phép nhập khẩu vàng miếng, vàng nguyên liệu có hàm lượng từ 99,5% trở lên. Nghị định không quy định mức chất lượng đối với vàng miếng được sản xuất trong nước.
Theo ban soạn thảo, qua rà soát, biện pháp quản lý đề xuất đối với sản phẩm vàng nói chung là tự công bố tiêu chuẩn áp dụng. Đối với vàng miếng, hiện Ngân hàng Nhà nước không quy định mức giới hạn chất lượng đối với vàng sản xuất trong nước; vì vậy, dự thảo áp dụng cơ chế công bố tiêu chuẩn và mức giới hạn sai số tương tự như đối với vàng trang sức, mỹ nghệ. Khối lượng vàng trong mua, bán với các tổ chức, cá nhân hoặc trong thanh tra, kiểm tra không được nhỏ hơn khối lượng công bố.
Nội dung hoàn toàn mới được đề cập tại dự thảo đó là truy xuất nguồn gốc sản phẩm vàng. Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng miếng và vàng nguyên liệu được khuyến khích áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm vàng. Thông tin truy xuất nguồn gốc có thể được cung cấp thông qua một trong các hình thức như mã QR; mã số, mã vạch; hệ thống thông tin điện tử hoặc nền tảng số của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh. Thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm vàng có thể bao gồm các nội dung sau tên sản phẩm; tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu; khối lượng và hàm lượng vàng; mã ký hiệu sản phẩm; thời gian sản xuất hoặc nhập khẩu; các thông tin kỹ thuật liên quan khác (nếu có). Việc truy xuất nguồn gốc được thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và các quy định pháp luật có liên quan. Việc không áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc không làm thay đổi nghĩa vụ công bố tiêu chuẩn áp dụng và ghi nhãn hàng hóa theo quy định tại Thông tư này.
Vàng trang sức mỹ nghệ, vàng miếng được sản xuất, gia công, nhập khẩu, lưu thông trước ngày Thông tư này có hiệu lực được tiếp tục lưu thông trên thị trường nếu đáp ứng các quy định tại Thông tư số 22/2013 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về quản lý đo lường trong kinh doanh vàng và quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường và điều 1 Thông tư số 04/2026. Vàng nguyên liệu được nhập khẩu, lưu thông trước ngày Thông tư này có hiệu lực được tiếp tục lưu thông theo các quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng nay (14.5), giá vàng miếng tại Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn - SJC tiếp tục được mua vào 162 triệu đồng, bán ra 165 triệu đồng. Công ty vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) mua vàng miếng SJC ở mức 162 triệu đồng, bán ra 165 triệu đồng; Công ty Phú Quý cũng mua vào 162 triệu đồng và bán ra 165 triệu đồng…
Tương tự, giá vàng nhẫn 4 số 9 tại Công ty SJC cũng được mua vào 161,8 triệu đồng, bán ra 164,9 triệu đồng như hôm qua. Trong khi đó, nhiều công ty mua bán vàng nhẫn bằng giá vàng miếng SJC như Công ty Phú Quý mua vào 162 triệu đồng, bán ra 165 triệu đồng; Công ty PNJ cũng mua vào 162 triệu đồng, bán ra 165 triệu đồng…
Giá vàng thế giới giảm 22 USD/ounce sau một ngày, xuống 4.687 USD/ounce. Kim loại quý tiếp tục đi lùi khi các nhà đầu tư lo ngại lạm phát gia tăng. Sau khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 của Mỹ cao hơn trước đó, dữ liệu của Cục Thống kê Lao động Mỹ công bố vào ngày 13.5 cũng cho thấy trong tháng 4, chỉ số giá sản xuất (PPI) tăng 1,4% so với tháng 3. Mức tăng này cao hơn nhiều so với dự báo 0,5% của Dow Jones và mức tăng 0,7% của tháng 3. Đây là mức tăng theo tháng lớn nhất kể từ tháng 3.2022. Nếu so với cùng kỳ, PPI tăng 6%, mức cao nhất kể từ tháng 12.2022. Giá năng lượng là nguyên nhân chính khiến giá sản xuất tăng mạnh bất ngờ, tương tự như cú tăng của lạm phát tiêu dùng mà Cục Thống kê Lao động Mỹ công bố trước đó một ngày. Tuy nhiên, dữ liệu cũng cho thấy áp lực giá đang lan rộng vượt ra ngoài lĩnh vực nhiên liệu.
Tháng trước, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) giữ nguyên lãi suất chuẩn qua đêm trong vùng 3,5% - 3,75%. Theo công cụ FedWatch của CME Group, giới giao dịch hiện gần như không còn đặt cược vào khả năng Fed cắt giảm lãi suất trong năm nay. Trong khi đó, Ấn Độ đã nâng thuế nhập khẩu vàng và bạc từ 6% lên 15% nhằm hạn chế nhập khẩu kim loại quý và giảm áp lực lên dự trữ ngoại hối quốc gia. Ấn Độ hiện là quốc gia tiêu thụ kim loại quý lớn thứ hai thế giới. Nhiều nhà phân tích cũng cho rằng việc tăng thuế nhập khẩu tại Ấn Độ đã làm dấy lên lo ngại về nhu cầu và có thể trở thành lực cản dài hạn đối với thị trường vàng...
Tin Gốc: Thanh Niên

Nhiều tập đoàn đầu tư lớn của Thái Lan đã có mặt rất sớm và liên tục mở rộng đầu tư tại VN trong bối cảnh thương mại hai nước phát triển mạnh.
Tại buổi gặp làm việc với lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh đầu tuần trước, cùng với Tập đoàn Marubeni (Nhật Bản), Tập đoàn Amata của Thái Lan cho biết sẽ mở rộng đầu tư Khu công nghiệp Uông Bí và Khu công nghiệp phía tây Sông Khoai. Amata hiện là chủ đầu tư dự án hạ tầng Khu công nghiệp Sông Khoai - một trong những khu công nghiệp trọng điểm của địa phương - thu hút 25 dự án đầu tư thứ cấp của nhà đầu tư nước ngoài. Việc mở rộng đầu tư của nhà đầu tư đến từ xứ sở chùa vàng này nhằm tạo thêm dư địa để đón các dự án quy mô lớn trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp chế biến chế tạo và công nghiệp hỗ trợ. Đây cũng là bước đi quan trọng nhằm gia tăng sức hấp dẫn của Quảng Ninh đối với các nhà đầu tư quốc tế, thúc đẩy dòng vốn FDI chất lượng cao…
Amata là một trong những nhà đầu tư lớn của Thái Lan tại VN, cùng với những tên tuổi lớn như Central Retail, SCG, C.P. Group, WHA, Bangkok Bank... tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo; bán lẻ; bất động sản khu công nghiệp; logistics... Thái Lan hiện là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu của VN trong khu vực ASEAN. Số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho thấy năm 2025, đầu tư của Thái vào VN tăng hơn 19% so với năm trước, với 43 dự án, tổng vốn đăng ký hơn 1,15 tỉ USD. Lũy kế đến cuối tháng 4 năm nay, các nhà đầu tư Thái Lan đang triển khai 804 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt hơn 15,4 tỉ USD, là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 8 tại VN.
Trao đổi với Thanh Niên, đại diện Tập đoàn Central Retail khẳng định VN là một trụ cột tăng trưởng cốt lõi của tập đoàn và doanh nghiệp luôn tiếp cận thị trường VN với góc nhìn đầu tư dài hạn. "Sự cam kết mạnh mẽ của doanh nghiệp tại thị trường VN được thể hiện rõ qua kế hoạch tiếp tục đầu tư khoảng 45 - 47 tỉ baht (khoảng 1,4 tỉ USD). Mục đích mở rộng quy mô hoạt động cũng như khẳng định gắn kết lâu dài, tạo ra hàng chục ngàn việc làm và xây dựng mạng lưới bán lẻ rộng lớn. Chúng tôi luôn coi VN là một trong những thị trường quan trọng nhất và tiếp tục duy trì niềm tin vào nền tảng kinh tế vĩ mô cũng như sự tăng trưởng tiêu dùng của đất nước", đại diện Central Retail khẳng định. Cũng theo nhà đầu tư này, sức hấp dẫn của thị trường bán lẻ VN đến từ một số yếu tố như tốc độ tăng trưởng ổn định và dư địa tiềm năng phát triển hạ tầng bán lẻ rất lớn. Bán lẻ hiện đại tại VN mới đạt khoảng 13% trong khi Thái Lan đã lên mức 55%.
"Chúng tôi không coi đó là điểm yếu mà là dư địa tăng trưởng khổng lồ. Khảo sát cho thấy tại nhiều tỉnh thành, thu nhập của người dân đang tăng nhưng các lựa chọn mua sắm hiện đại chưa tương xứng và đó là cơ hội cho chúng tôi phát triển mở rộng. Bên cạnh đó, một yếu tố rất quan trọng là VN đang ngày càng củng cố vị thế trở thành trung tâm sản xuất quan trọng của khu vực với khả năng kết nối chuỗi cung ứng đa dạng. Điều này mở cánh cửa để chúng tôi đưa hàng hóa VN không chỉ tiếp cận người tiêu dùng nội địa mà còn vươn ra mạng lưới bán lẻ rộng lớn của Central Retail", đại diện tập đoàn cho biết.
Là nhà đầu tư Thái vào VN từ rất sớm, ông Kulachet Dharachandra - Giám đốc quốc gia Tập đoàn SCG - khẳng định hơn 3 thập niên qua, VN luôn là điểm đến đầu tư chiến lược của tập đoàn. Bên cạnh quy mô đầu tư, SCG cho biết tập trung vào chuyển giao công nghệ, quản trị xanh và hợp lực cùng các đối tác địa phương nhằm nâng cao năng lực công nghiệp, cùng nhau hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Năm 2025, SCG đã đóng góp hơn 31,5 triệu USD (khoảng 788,8 tỉ đồng) vào ngân sách nhà nước, thể hiện cam kết gắn bó lâu dài với VN.
Ông Kulachet Dharachandra nói: "Trong lĩnh vực năng lượng, chúng tôi đang đầu tư 500 triệu USD để nâng cấp Tổ hợp hóa dầu Long Sơn (TP.HCM) thông qua dự án tích hợp nguồn nguyên liệu ethanol. Dự án này giúp tăng cường tính linh hoạt trong vận hành, củng cố năng lực cạnh tranh dài hạn và thúc đẩy quy trình sản xuất carbon thấp". Long Sơn hiện là tổ hợp hóa dầu tích hợp hoàn chỉnh đầu tiên của VN, được SCG đầu tư 5,4 tỉ USD, chuyên sản xuất các loại nhựa nguyên liệu thiết yếu. Cạnh đó, tại các công ty thành viên của SCG, mạng lưới nhà cung cấp nội địa chiếm tỷ trọng đáng kể. Ở nhiều mảng vận hành, SCG VN hợp tác với khoảng 5.000 nhà cung cấp hoặc đối tác cấp 1 địa phương, chiếm 70 - 80% tổng số nhà cung cấp.
Trong bối cảnh VN phát triển kinh tế số, SCG đã ký kết biên bản ghi nhớ với Tập đoàn FPT nhằm đẩy nhanh lộ trình chuyển đổi số và tăng cường hệ thống quản trị thông minh trên toàn bộ hoạt động tại VN. Các đơn vị thành viên của SCG đang đẩy mạnh ứng dụng AI, tự động hóa, robot và internet vạn vật (IoT) để nâng cao hiệu suất vận hành, chất lượng sản phẩm và sự linh hoạt trong sản xuất. Điển hình như ứng dụng AI tại Công ty SCGP (thành viên SCG) để tối ưu năng suất; hệ thống Auto truck tại Công ty xi măng Sông Gianh; ứng dụng robot và IoT tại Nhựa Bình Minh và PRIME Group…
PGS-TS Nguyễn Thường Lạng (Viện Thương mại và kinh tế quốc tế, ĐH Kinh tế quốc dân), đánh giá nhờ tính chất tương đồng về văn hóa, hàng hóa, kết hợp với thị trường đông dân và lực lượng lao động trẻ, VN có lợi thế lớn trong thu hút nguồn vốn đầu tư từ Thái Lan, đặc biệt trong các lĩnh vực VN đang cần mà Thái Lan lại có bề dày kinh nghiệm. Chẳng hạn, năng lượng xanh, lọc hóa dầu, bán lẻ… "Giao thương giữa VN và Thái Lan bắt đầu từ rất sớm, trước khi VN mở rộng quan hệ và gia nhập khối ASEAN. Ngay từ trước đổi mới, hàng hóa Thái Lan đã vào VN, từ đôi dép Thái, cân đường, vải thun Thái, đến sau này là xe dream Thái… Tất cả đều được người tiêu dùng Việt đón nhận và ghi điểm là những sản phẩm tử tế, tốt, bền đẹp. Chính những ấn tượng tích cực ban đầu đó đã làm nền tảng giúp thu hút nhà đầu tư Thái tìm đến VN đầu tư sau đổi mới từ rất sớm và đầu tư vào những lĩnh vực VN chưa có", PGS-TS Nguyễn Thường Lạng phân tích và cho rằng đây là mối quan hệ kinh tế hai chiều. Hiện VN cũng có gần 20 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Thái Lan, tập trung chủ yếu lĩnh vực chế biến, chế tạo, bất động sản, bán buôn, bán lẻ.
Không chỉ là nhà đầu tư nước ngoài quan trọng, Thái Lan hiện là đối tác thương mại lớn nhất của VN trong ASEAN với quy mô liên tục tăng trong nhiều năm qua. Năm 2025, kim ngạch thương mại 2 chiều đạt 22,1 tỉ USD, tăng gần 2,5 lần so với thời điểm hai nước thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược năm 2013. Đà tăng này tiếp tục được duy trì trong 4 tháng đầu năm nay, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của hai nước đã đạt 8,6 tỉ USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước.
TSKH Trần Quang Thắng, Viện trưởng Viện Kinh tế và quản lý TP.HCM, nhận định: Nhìn vào cơ cấu thương mại VN - Thái Lan có thể thấy đây là sự bổ sung lẫn nhau về cơ cấu sản xuất, trình độ công nghiệp và vai trò của mỗi nước trong chuỗi cung ứng khu vực. Xu hướng này thể hiện rõ trong giai đoạn 2025 - 2026 khi cơ cấu thương mại chuyển dịch theo hướng tích cực và năng lực cạnh tranh của hàng VN được cải thiện. Cụ thể, VN xuất khẩu sang Thái Lan các mặt hàng điện thoại, linh kiện, máy móc, sắt thép, nông sản - đây là những lĩnh vực VN có lợi thế về lao động, công nghiệp lắp ráp, và nông nghiệp nhiệt đới. Ngược lại, chúng ta nhập khẩu từ Thái Lan các sản phẩm gồm ô tô nguyên chiếc, hàng điện gia dụng, linh kiện điện tử, máy móc - vốn là những ngành Thái Lan có công nghiệp chế tạo phát triển hơn, đặc biệt là ô tô và điện tử gia dụng. Nhiều mặt hàng VN xuất sang Thái Lan (điện thoại, linh kiện, máy tính) là một phần trong chuỗi sản xuất khu vực.
Ngược lại, VN nhập khẩu linh kiện, máy móc từ Thái Lan để phục vụ tái sản xuất, cho thấy sự liên kết sản xuất nội khối ASEAN. Điều này cũng chứng tỏ hai nước đang tăng cường phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất với việc mở rộng hợp tác công nghiệp, hướng tới chuỗi cung ứng bền vững trong khu vực. Chính vì vậy cơ hội cho hàng hóa VN bán sang thị trường Thái Lan còn rất lớn nhờ thuế xuất khẩu 0%. "Theo Bộ Công thương, năm 2026 xuất khẩu của VN sang Thái Lan tăng mạnh hơn nhập khẩu, cho thấy năng lực cạnh tranh của hàng Việt đang cải thiện và nhập siêu giảm dần. Điều này phản ánh sự tiến bộ trong chất lượng sản phẩm VN và khả năng thâm nhập thị trường Thái Lan", TSKH Trần Quang Thắng chia sẻ.
Đồng quan điểm, TS Nguyễn Việt Hùng, nguyên Trưởng khoa Xây dựng Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Cán bộ TP.HCM, phân tích: VN và Thái Lan đều là thành viên quan trọng trong khối ASEAN và có mối quan hệ song phương lâu đời. Trong vòng 1 thập niên trở lại đây, quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển tích cực trên nhiều lĩnh vực, từ kinh tế thương mại, văn hóa giáo dục đến an ninh quốc phòng. Vì thế, Thái Lan trở thành đối tác thương mại lớn nhất của VN trong khối ASEAN là điều dễ hiểu. Thái Lan có thế mạnh trong lĩnh vực công nghiệp, ứng dụng nhiều thành tựu mới trong khoa học công nghệ. Chẳng hạn, Thái Lan có công nghệ chế biến nông sản phát triển, mạnh về du lịch. Trong khi đó, VN là thị trường tiêu thụ lớn, có thế mạnh về các sản phẩm thủy hải sản… Đồng thời, VN có thế mạnh về logistics với các cảng nước sâu dọc miền Trung và vùng biển phía tây nam thuộc vịnh Thái Lan. Trong quá trình hợp tác, hàng hóa của Thái Lan có thể thông qua các tuyến đường vận chuyển từ đường biển đến đường sắt để sang thị trường quốc tế thuận lợi hơn. Điều đó cũng là lý do VN thu hút sự quan tâm đầu tư nhiều từ các doanh nghiệp Thái Lan. Vì vậy, lợi thế bổ trợ giữa hai nước đang mở ra nhiều dư địa hợp tác mới.
PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nhìn nhận sau 50 thiết lập quan hệ ngoại giao, VN và Thái Lan của 50 năm tới chắc chắn phải hướng tới giai đoạn hợp tác sâu rộng hơn, chặt chẽ hơn, cùng bổ trợ cho nhau chứ không phải cạnh tranh trực tiếp. "Nhiều mặt hàng tiêu dùng Thái vào VN rất ngon và rẻ, từ quả ổi, quýt, con cá… Ở chiều ngược lại, VN đưa sang Thái quả thanh long, vải thiều, cà phê… cũng rất được đón nhận. Ngay cả hàng điện tử xuất khẩu là điện thoại Samsung đang sản xuất tại VN cũng bán sang Thái Lan rất nhiều. Lợi thế của hai bên về vị trí địa lý, đi đường bộ theo hành lang Đông Tây với "sáng ăn cơm Thái, trưa ăn ở Lào, chiều tắm biển Đà Nẵng". Nói như vậy để thấy, hai nước ngoài những nét tương đồng văn hóa, hàng hóa tiêu dùng, thì địa lý rất thuận lợi. Với quan hệ kinh tế, chính trị ổn định, trong giai đoạn tới, hai nước sẽ nâng tầm quan hệ, mở ra trang mới, thắt chặt hơn, thực chất theo chiều sâu hơn, tăng lợi ích và ổn định hơn", PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nêu quan điểm.
TSKH Trần Quang Thắng cũng cho rằng trong bối cảnh quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện VN - Thái Lan tiếp tục phát triển mạnh mẽ, hợp tác đầu tư giữa doanh nghiệp hai nước đang nổi lên như một điểm sáng quan trọng. Chuyến thăm lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ tạo thêm động lực chính trị mạnh mẽ, củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và mở ra không gian hợp tác mới trong các lĩnh vực tiềm năng như công nghiệp hỗ trợ, năng lượng tái tạo, kinh tế số, nông nghiệp công nghệ cao, logistics... Đây là cơ hội để hai nước thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng, phát triển các dự án sản xuất - chế biến quy mô lớn, đồng thời tạo điều kiện để hàng hóa VN thâm nhập sâu hơn vào hệ thống phân phối của Thái Lan.
"Việc tận dụng tốt các cơ hội này không chỉ giúp nâng tầm hợp tác đầu tư song phương mà còn góp phần quan trọng vào mục tiêu giảm nhập siêu, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của VN trong khu vực. Dự kiến đến năm 2030, đầu tư song phương sẽ phát triển theo hướng sâu hơn, công nghệ cao hơn và bền vững hơn, đóng góp tích cực vào tăng trưởng và hội nhập của cả hai nền kinh tế", TSKH Trần Quang Thắng dự báo.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 29/5, tại Hội nghị Doanh nghiệp khu vực miền Trung - Tây Nguyên năm 2026, do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh miền Trung - Tây Nguyên tổ chức, câu chuyện chuyển đổi xanh trở thành mối quan tâm lớn của cộng đồng doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Tiến Quang, Giám đốc VCCI miền Trung - Tây Nguyên, cho hay, trên những mái xưởng dệt may ở miền Trung, các tấm pin mặt trời lặng lẽ hứng nắng. Bên dưới, dây chuyền vẫn vận hành, công nhân vẫn vào ca đều đặn. Nhưng cách doanh nghiệp làm ăn đã không còn như trước.
Điện mặt trời, tiết kiệm nước, giảm hóa chất, đo phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc… những việc từng được xem là "làm thêm cho đẹp hồ sơ", nay trở thành yêu cầu sống còn. Hàng hóa muốn vào các thị trường lớn không chỉ cần đúng mẫu mã, đúng giá, giao đúng hẹn, mà còn phải chứng minh được sản xuất ra sao, phát thải bao nhiêu, có trách nhiệm với môi trường và người lao động thế nào.
Ông Quang nhìn nhận, môi trường kinh doanh đang thay đổi rất nhanh. Biến động địa chính trị, bảo hộ thương mại, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí năng lượng, lạm phát và yêu cầu phát triển bền vững đang tạo ra một "luật chơi" khác trước.
"Doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh bằng giá thành hay quy mô, mà còn bằng năng lực thích ứng, tốc độ đổi mới, khả năng chuyển đổi xanh và trách nhiệm với xã hội, môi trường, cộng đồng", ông Quang nói.
Với nhiều doanh nghiệp miền Trung - Tây Nguyên, "cơn sóng xanh" đến cùng lúc với nhiều sức ép. Phần lớn doanh nghiệp còn nhỏ, vốn mỏng, công nghệ chưa đồng bộ, nhân lực thiếu hụt. Chuyển đổi xanh vì thế không dễ, nhưng nếu đứng ngoài, nguy cơ mất đơn hàng, mất thị trường có thể đến rất nhanh.
Ông Quang ví chuyển đổi xanh như "giấy thông hành" mới của hàng hóa. Doanh nghiệp đi chậm sẽ mất lợi thế cạnh tranh, trong khi doanh nghiệp đi trước có thể mở ra cơ hội lớn hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bà Trần Thị Lan Anh, Tổng thư ký VCCI, cho rằng chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế carbon thấp và thực hành ESG không còn là câu chuyện khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để doanh nghiệp bước vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Những khái niệm như CBAM, truy xuất nguồn gốc xanh, hộ chiếu sản phẩm kỹ thuật số hay báo cáo phát triển bền vững đang dần đi vào đời sống doanh nghiệp xuất khẩu. Một chiếc áo, một cuộn vải hay một lô hàng nông sản không chỉ được hỏi "giá bao nhiêu", mà còn bị hỏi "làm từ đâu, phát thải bao nhiêu, có tái chế được không".
Theo bà Lan Anh, miền Trung - Tây Nguyên có lợi thế về logistics, kinh tế biển, du lịch, nông nghiệp và năng lượng tái tạo. Đây là nền tảng để phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và các ngành công nghiệp bền vững. Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội, doanh nghiệp phải nâng năng lực quản trị rủi ro, chuyển đổi số, đa dạng hóa thị trường và tiếp cận tốt hơn với vốn, công nghệ xanh.
Trong ngành dệt may, sức ép này hiện rõ hơn cả. Ông Trần Đức Tý, Trưởng bộ phận Tuân thủ và Phát triển bền vững Phong Phú Group, cho rằng phát triển bền vững không nên được hiểu là việc làm ngắn hạn để hoàn thiện hồ sơ, mà phải là chiến lược lâu dài của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp này hiện có hệ sinh thái sản xuất khá rộng, từ sợi, vải, may, in thêu đến giặt mài; với 30 nhà máy, 7 công ty con, 4 trung tâm thiết kế, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, cùng khoảng 19.000 lao động. Với quy mô này, chuyển đổi xanh không thể chỉ làm ở một phân xưởng hay thể hiện trên vài dòng báo cáo, mà phải đi vào toàn bộ chuỗi sản xuất.
Theo ông Tý, doanh nghiệp dệt may Việt Nam đang chịu áp lực ngày càng lớn từ các thị trường xuất khẩu như châu Âu, Mỹ. Để giữ đơn hàng, doanh nghiệp phải chứng minh được nguyên liệu lấy từ đâu, sản xuất có gây ô nhiễm nhiều hay không, sản phẩm có thể tái chế ra sao và người lao động có được bảo đảm quyền lợi hay không.
"Chuyển đổi xanh không dừng ở thay đổi công nghệ, mà là quá trình thay đổi cách quản trị", ông Tý nói. Theo ông, mỗi nhân viên cần được đào tạo về sản xuất xanh, tiết kiệm tài nguyên. Doanh nghiệp cũng xây dựng đội ngũ nòng cốt để lan tỏa các sáng kiến xanh trong nội bộ.
Trong khi đó, ông Nguyễn Thành Chung, đại diện Chương trình Khí hậu và Năng lượng (WWF Việt Nam), cho rằng Đà Nẵng sau khi mở rộng địa giới có thêm dư địa lớn để phát triển năng lượng tái tạo. Nhu cầu tiêu thụ điện của thành phố tăng từ 4.936 triệu kWh năm 2021 lên 6.198 triệu kWh năm 2025, bình quân 6,8% mỗi năm. Riêng công nghiệp - xây dựng và tiêu dùng dân cư chiếm khoảng 80% lượng điện tiêu thụ.
Doanh nghiệp có thể bắt đầu từ những giải pháp sát thực tế như điện mặt trời mái nhà, tiết kiệm năng lượng, thay lò hơi truyền thống bằng lò hơi điện, bơm nhiệt, điện hóa một số công đoạn. Một dự án điện mặt trời mái nhà 1 MW tại khu công nghiệp có chi phí khoảng 12 tỷ đồng, sản lượng ước 1,45 triệu kWh mỗi năm, thời gian hoàn vốn hơn 5 năm.
Đồng thời, ông Hồ Quang Bửu, Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, cho biết địa phương này xác định phát triển xanh và bền vững là định hướng xuyên suốt.
Đà Nẵng đang cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, phát triển năng lượng sạch, logistics xanh, kinh tế tuần hoàn và tăng cường kết nối quốc tế.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

