Tôi có cô bạn thân, đời bạn bị vòng kim cô của ba mẹ thắt chặt. Tôi còn nhớ, hai chúng tôi đi học đại học, thuê nhà trọ ở, thì cả năm đầu tiên mẹ bạn phải bỏ công ăn chuyện làm ở quê, lên nhà trọ ở chỉ để nấu cơm và “giữ” bạn. Không cho đi chơi, hẹn hò, như thời cấp ba. Ra trường, đi làm cũng không yêu đương, hẹn hò gì, riết rồi bị trơ cảm xúc.
Mãi đến khi cha mẹ giật mình rồi thúc ép quá, quá lứa lỡ thì, bạn cưới một người chồng bằng tuổi nhưng đã qua một đời vợ, có hai con riêng, ở tuổi 35. Một cuộc hôn nhân bắt đầu không phải bằng tình yêu, mà bằng sự thỏa hiệp. Con anh, con em, rồi con chung… nhưng rốt cuộc, trong ngôi nhà ấy, điều bạn tâm sự rất nhiều với tôi thứ thiếu nhất lại là cảm giác gia đình.
Hai vợ chồng có thể cùng ăn, cùng ngủ, cùng gánh trách nhiệm, nhưng không có sự gắn kết. Không có sự đồng điệu. Và càng không có hạnh phúc đúng nghĩa.
Một cuộc hôn nhân không có nền tảng tình cảm thường dễ rơi vào trạng thái chịu đựng. Người trong cuộc có thể cố gắng sống cho tròn vai, nhưng sâu bên trong là sự trống rỗng, mệt mỏi.
Những mâu thuẫn nhỏ nhặt cũng dễ bị đẩy lên thành xung đột lớn, vì không có đủ tình cảm để bao dung cho nhau. Và đáng nói hơn, những đứa trẻ sinh ra trong những cuộc hôn nhân như vậy chính là người chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất.
Chúng lớn lên trong một môi trường thiếu ấm áp, thiếu sự kết nối thật sự giữa cha mẹ. Một đời sống tinh thần thiếu lành mạnh, dù vật chất có thể không thiếu.
Nói cách khác, cưới đại cho xong không chỉ là hại mình, mà còn hại người từ bạn đời đến con cái, thậm chí lan ra cả những mối quan hệ xung quanh.
Nhưng để đi đến quyết định cưới đại, nhiều khi không phải vì người trẻ không biết lựa chọn, mà vì họ chưa từng có cơ hội được lựa chọn. Một người bị cấm đoán yêu đương suốt tuổi trẻ, bị kiểm soát các mối quan hệ, bị dạy rằng yêu sớm là sai, là hỏng… thì rất dễ bước vào đời với tâm thế lúng túng. Họ không biết cách xây dựng mối quan hệ, không biết cách nhận diện tình cảm, thậm chí không hiểu rõ chính mình cần gì ở một người bạn đời.
Vì vậy, có một điều mà tôi cần nói thẳng là nhiều bậc cha mẹ đang vô tình đẩy con mình vào những cuộc hôn nhân thiếu hạnh phúc.
Cấm con yêu đương khi còn đi học không phải là cách bảo vệ, nếu đi kèm với đó là việc không hướng dẫn, không trò chuyện, không giúp con hiểu thế nào là một mối quan hệ lành mạnh. Ngăn cản mà không giáo dục chỉ tạo ra khoảng trống và khoảng trống ấy sẽ được lấp bằng những quyết định vội vàng sau này.
Thanh Hương
"Có một thứ mà thành phố mất đi là kinh tế đêm. Thành phố nổi tiếng với dịch vụ ăn uống, mua sắm, dịch vụ giải trí... Nhưng dường như mọi thứ dần mất đi, bây giờ chạy ngoài đường buổi tối tôi thấy vắng tanh".
Độc giả nickname mr.Trí đặt câu hỏi về kinh tế đêm của TP HCM như trên, sau bài viết TP HCM hụt hơi trên 'đường ray cũ'. Theo đó, sau sáp nhập, TP HCM mang vóc dáng siêu đô thị nhưng đối mặt nguy cơ hụt hơi khi nhiều động lực tăng trưởng từng tạo nên vị thế đầu tàu kinh tế dần chạm ngưỡng.
Quan điểm của bạn thế nào?
Nhiều năm qua, TP HCM tập trung phát triển 4 ngành công nghiệp trọng yếu gồm chế biến lương thực - thực phẩm; hóa chất - nhựa cao su; cơ khí; điện tử - công nghệ thông tin. Tuy nhiên, khu vực này vẫn vận hành song song hai mô hình: phát triển công nghệ và chế biến sâu nhưng đồng thời tiếp tục dựa vào gia công, lao động giá rẻ và mở rộng theo chiều rộng để duy trì các chỉ số kinh tế - xã hội.
Sau 21 năm làm việc trong môi trường sản xuất, đặc biệt tại các doanh nghiệp Nhật Bản, tôi nhận ra một nghịch lý khá phổ biến ở ta: rất nhiều kỹ sư ra trường phải được doanh nghiệp đào tạo lại từ đầu về quản lý chất lượng, trong khi đây lại là kỹ năng quyết định giá trị nghề nghiệp của họ trong nhà máy hiện đại. Nhiều người nghĩ chỉ cần giỏi chuyên môn kỹ thuật là đủ để một kỹ sư phát triển tốt trong doanh nghiệp sản xuất. Nhưng thực tế đi làm cho tôi thấy mọi thứ phức tạp hơn nhiều.
Trong các nhà máy tôi từng làm việc, hầu như không ai tuyển một người chỉ học "quản lý" để trực tiếp phụ trách hệ thống chất lượng. Thay vào đó, họ thường chọn những kỹ sư đã làm thực tế ở dây chuyền, hiểu máy móc, hiểu quy trình sản xuất, rồi mới đào tạo thêm về ISO, Kaizen, Lean, quản lý chất lượng hay cải tiến sản xuất.
Lý do là quản lý chất lượng trong nhà máy không phải công việc thiên về giấy tờ như nhiều người nghĩ. Người làm chất lượng phải hiểu lỗi phát sinh từ đâu, công đoạn nào gây lãng phí, tiêu chuẩn nào bất hợp lý, vì sao sản phẩm bị lỗi lặp lại và cách cải tiến quy trình để giảm sai sót. Nếu không hiểu thực tế vận hành, rất khó để xây dựng một hệ thống chất lượng hiệu quả.
Thế nhưng, điều tôi thấy đáng tiếc là nhiều chương trình đào tạo kỹ sư trong nước hiện nay vẫn nặng về lý thuyết kỹ thuật, trong khi phần quản lý chất lượng và quản trị sản xuất lại khá mờ nhạt. Nhiều sinh viên ra trường có thể tính toán rất tốt, nắm kiến thức chuyên ngành khá sâu, nhưng khi bước vào nhà máy lại lúng túng trước các quy trình ISO, kiểm soát chất lượng, quản trị tài liệu, phân tích nguyên nhân lỗi hay phối hợp giữa bộ phận kỹ thuật với sản xuất.
>> Kỹ sư 'việc nhẹ lương cao' ngày gồng 8 tiếng vì không đam mê
Doanh nghiệp vì thế phải mất thêm nhiều năm để "đào tạo lại" kỹ sư thành những người có tư duy hệ thống. Đây cũng là một nguyên nhân khiến nhiều kỹ sư thế hệ 7X, 8X, 9X dù có nền tảng chuyên môn tốt nhưng chưa phát huy hết giá trị của mình trong doanh nghiệp. Họ thường phải vừa làm vừa tự tích lũy kiến thức về quản trị sản xuất và quản lý chất lượng trong suốt nhiều năm.
Trong khi đó, xã hội lại đang có xu hướng đánh giá cao những ngành nghề "phi sản xuất" như tài chính, kinh tế hay quản trị. Nhiều bạn trẻ sinh sau năm 2000 dần ít chọn học kỹ thuật hơn vì cho rằng con đường này vất vả, chậm thành công và ít cơ hội bằng các ngành khác.
Theo tôi, đây không phải tín hiệu tích cực cho tương lai công nghiệp Việt Nam. Một quốc gia muốn phát triển bền vững không thể thiếu đội ngũ kỹ sư giỏi, người làm sản xuất mạnh, người hiểu công nghệ và có khả năng cải tiến hệ thống thực tế.
Qua nhiều năm làm việc, tôi nhận ra một kỹ sư hiểu quản lý chất lượng luôn có giá trị cao hơn kỹ sư chỉ giỏi chuyên môn thuần túy. Bởi doanh nghiệp hiện đại không chỉ cần người làm ra sản phẩm, mà cần người giúp hệ thống vận hành ổn định, giảm lỗi, giảm lãng phí và tăng năng suất. Nếu được đào tạo bài bản về quản lý chất lượng ngay từ đại học, kỹ sư sẽ thích nghi nhanh hơn với doanh nghiệp, giảm đáng kể thời gian đào tạo lại và phát huy giá trị sớm hơn.
Ví dụ như trưa mới đây, trời nắng chang chang, hai mẹ con đứng đợi hơn 30 phút ở trạm không một bóng mát.
Lúc đó tôi cứ nghĩ vài phút là có xe chẳng ngờ hơn 30 phút, có lẽ ngày lễ số chuyến xe ít, tối về chúng tôi đều cảm nắng lăn quay.
Vô số những lần khác ra trạm chờ xe, tôi thường xuyên phải chịu ít nhất 5-10 phút, có khi 15-20 phút dưới nắng gắt, thỉnh thoảng mưa bất chợt, đứng dưới trạm vẫn nóng như ngoài trời, thậm chí nóng hơn do bức xạ dội lại.
>> Cùng tác giả:
Hầu như xung quanh các trạm không có cây xanh tạo bóng mát tự nhiên để giảm nhiệt độ. Nhiều vị trí trạm đặt không hợp lý, chỗ đó không có địa chỉ cụ thể và ở những đoạn đường rất khó dừng xe làm cho việc đón chuyến xe để về rất khó khăn.
Thí dụ các trạm ở đường Võ Nguyên Giáp (Xa Lộ Hà Nội), đường Liên Phường. Nhiều trạm bị các hàng quán lấn chiếm, khách không có chỗ đứng chờ. Xung quanh nhếch nhác rác, bảng quảng cáo bừa bộn.
Vì vậy, tôi nghĩ cần tổ chức lại các trạm xe tốt hơn. Thí dụ như là cuộc thi thiết kế các Điểm dừng xe buýt (Bus stop), nhà chờ xe buýt (Bus shelter), Bus station (bến xe buýt) chọn loại vật liệu cách nhiệt, tán xạ ánh sáng, tích hợp mái vòm xanh hay là trồng cây xanh thấp và cây xanh che bóng mát.
Lắp thêm các tấm chắn nắng, còn dãy ghế ngồi chọn vật liệu gỗ làm bằng gỗ hoặc vật liệu không giữ nhiệt. Ngoài ra có thể tận dụng nắng để gắn các quạt năng lượng mặt trời tản bớt nhiệt.
Quan trọng là mỗi trạm xe phải kiểm tra hướng nắng, vị trí để có thiết kế phù hợp chứ không sử dụng một loại thiết kế duy nhất cho tất cả các trạm.
Ở các nước trong khu vực Đông Nam Á, tôi thấy các trạm dừng xe buýt có thiết kế đa dạng để người dân cảm thấy thoải mái, tiện lợi khi chờ xe. Hiện giờ bởi chờ đón xe quá mệt mỏi nên đa số người dân vẫn chọn xe máy.