Ngày 15/5, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình cho biết, các bác sĩ Khoa Thăm dò chức năng của đơn vị vừa gắp thành công bàn chải dài 20cm trong dạ dày người bệnh.
Trước đó, Khoa Thăm dò chức năng, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình tiếp nhận trường hợp bệnh nhân nữ (31 tuổi), nhập viện trong tình trạng nuốt phải bàn chải khi vệ sinh lưỡi.
Qua thăm khám và nội soi ống tiêu hóa, các bác sĩ phát hiện dị vật mắc kẹt trong lòng dạ dày. Sau khi hội chẩn, ê-kíp đã nhanh chóng thực hiện thủ thuật nội soi can thiệp để gắp bỏ.
Dị vật là một chiếc bàn chải dài khoảng 20cm, đường kính lớn nhất khoảng 3cm, còn nguyên vẹn được lấy ra ngoài an toàn. Ngay sau thủ thuật, người bệnh tỉnh táo, không đau đớn, thể trạng ổn định và được xuất viện trong ngày.
Tin Gốc: Dân Trí

Người bệnh nam, 19 tuổi, trước đó hoàn toàn khỏe mạnh, không có tiền sử chấn thương hay bệnh lý nền. Tuy nhiên, sau một thời gian dài duy trì thói quen ngồi khoanh chân khi học, làm việc, người bệnh bắt đầu xuất hiện cảm giác tê bì vùng bàn chân trái.
Ban đầu triệu chứng khá nhẹ nhưng nhanh chóng tiến triển thành yếu cơ: người bệnh không thể gấp cổ chân trái, đầu gối khó nhấc cao khi di chuyển. Dáng đi thay đổi rõ rệt, bàn chân quệt xuống đất gây khó khăn trong sinh hoạt, học tập và tiềm ẩn nguy cơ chấn thương.
Kết quả điện có tổn thương thần kinh mác sâu bên trái. Sau đó, người bệnh được nhập viện điều trị tại khoa y học cổ truyền với chẩn đoán liệt dây thần kinh mác - nguyên nhân gây ra hội chứng "bàn chân rủ".
Theo bác sĩ Hoàng Kim Chung, khoa y học cổ truyền, Bệnh viện Bạch Mai, dây thần kinh mác có vai trò chi phối động tác gấp mu bàn chân và nghiêng trong bàn chân. Khi bị tổn thương, người bệnh không thể nâng bàn chân lên, phải nhấc cao gối khi đi. Đây là biểu hiện điển hình của "bàn chân rủ".
Trong y học hiện đại, nguyên nhân phổ biến nhất của tình trạng này là chèn ép dây thần kinh kéo dài, thường gặp ở những người có thói quen vắt chéo chân, ngồi khoanh chân hoặc nằm bất động lâu.
Ngoài ra, bệnh lý cũng có thể xuất phát từ chấn thương vùng cẳng chân, đầu trên xương mác, sai khớp gối, tổn thương dây chằng, biến chứng thần kinh ngoại biên do đái tháo đường hoặc do khối u chèn ép dây thần kinh.
Dưới góc nhìn y học cổ truyền, bác sĩ Chung cho tình trạng này thuộc phạm vi chứng tý hoặc nuy chứng, do khí huyết ứ trệ, kinh lạc bế tắc, khiến gân cơ không được nuôi dưỡng đầy đủ. Phục hồi tích cực nhờ kết hợp châm cứu, bấm huyệt và phục hồi chức năng
Tại khoa y học cổ truyền, người bệnh được điều trị theo hướng kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại, bao gồm sử dụng thuốc chống viêm, bổ sung vitamin nhóm B (B1, B6, B12).
Châm cứu, điện châm, xoa bóp, bấm huyệt vùng cẳng chân, cùng thuốc y học cổ truyền phù hợp thể trạng và tập phục hồi chức năng.
Không chỉ điều trị về thể chất, đội ngũ y bác sĩ và điều dưỡng còn đặc biệt chú trọng hỗ trợ tâm lý. Khi nhập viện, người bệnh có biểu hiện lo lắng, tự ti do dáng đi bất thường. Sau quá trình được động viên, tư vấn, tinh thần người bệnh đã ổn định, hợp tác tốt với điều trị.
Sau khoảng gần 2 tuần, tình trạng cải thiện rõ rệt. Người bệnh hết tê bì chân trái, không còn phải nhấc cao gối khi đi. Biên độ gấp cổ chân của người bệnh đạt khoảng 15 độ, gần tương đương chân lành và có thể chạy đoạn ngắn.
"Em cảm thấy đi lại mọi thứ thuận tiện hơn hẳn, chủ động trong sinh hoạt, không còn phải phụ thuộc vào người thân hỗ trợ, tự tin hơn khi tình trạng bệnh tình của mình được cải thiện", nam sinh chia sẻ.
Các bác sĩ y học cổ truyền khuyến cáo thói quen ngồi vắt chân, khoanh chân lâu không chỉ ảnh hưởng đến tuần hoàn máu mà còn có thể gây chèn ép dây thần kinh, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như trường hợp trên.
Để phòng tránh, người dân cần: hạn chế ngồi vắt chéo chân, khoanh chân trong thời gian dài. Thay đổi tư thế thường xuyên khi ngồi học, làm việc. Tăng cường vận động, tập luyện nhẹ nhàng. Khi xuất hiện dấu hiệu tê bì, yếu cơ kéo dài, người bệnh cần đi khám sớm.
Ca bệnh là lời nhắc nhở với những thói quen nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày cũng có thể gây ra hệ quả lớn đối với sức khỏe. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời, đặc biệt kết hợp hiệu quả giữa y học hiện đại và y học cổ truyền, có thể giúp người bệnh phục hồi nhanh chóng và hạn chế di chứng.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Nhiều người đã biết tới dị ứng hải sản, song, dị ứng vỏ hải sản lại là một “câu chuyện” khác. Bác sĩ chuyên khoa 1 Nguyễn Thanh Tâm, Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện đa khoa An Sinh (TP.HCM), cho biết dị ứng động vật có vỏ xuất phát từ protein tropomyosin, trong khi dị ứng hải sản thường do các protein khác như parvalbumin. Dị ứng vỏ hải sản thường nguy hiểm hơn, khởi phát mạnh hơn và có xu hướng kéo dài suốt đời, thường phát triển ở tuổi trưởng thành.
“Dị ứng vỏ hải sản là phản ứng hệ miễn dịch với các loại protein (chủ yếu là tropomyosin) có trong động vật giáp xác và nhuyễn thể. Thực chất, người bệnh dị ứng với phần thịt ẩn dưới vỏ hoặc các chất có trên vỏ. Đây là một trong những dạng dị ứng thực phẩm cực kỳ nguy hiểm vì diễn biến rất nhanh, có thể xảy ra ngay sau khi ăn hoặc chỉ vài phút sau khi ngửi, tiếp xúc. Khi này, người mắc có nguy cơ bị sốc phản vệ, gây tụt huyết áp, suy hô hấp, hôn mê. Nếu không được cấp cứu kịp thời thậm chí có nguy cơ tử vong”, bác sĩ Thanh Tâm nói.
Triệu chứng của dị ứng vỏ hải sản có thể bùng phát ở nhiều nơi trên cơ thể như:
Trên da: Nổi mề đay, phát ban ngứa ngáy dữ dội; sưng phù môi, mặt, lưỡi hoặc cổ họng.
Hệ tiêu hóa: Đau bụng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy.
Đường hô hấp: Hắt hơi, sổ mũi, khó thở, thở khò khè, co thắt thanh quản.
Theo bác sĩ Thanh Tâm, dị ứng hải sản và ngộ độc hải sản là 2 tình trạng dễ bị nhầm lẫn. Dị ứng hải sản xảy ra do cơ địa, khi hệ miễn dịch phản ứng bất thường với các protein trong hải sản. Trong khi đó, ngộ độc hải sản là do yếu tố ngoại cảnh, chẳng hạn thực phẩm bị nhiễm vi khuẩn, virus hoặc chứa độc tố.
Về thời gian khởi phát, dị ứng thường xuất hiện rất nhanh, chỉ trong vài phút đến khoảng 2 giờ sau khi ăn. Ngược lại, ngộ độc hải sản có thể xuất hiện muộn hơn, từ vài giờ đến vài ngày.
Dấu hiệu nhận biết của dị ứng hải sản chủ yếu là phát ban, ngứa, nổi mề đay, sưng môi, sưng mặt hoặc sưng phù. Trong khi đó, ngộ độc hải sản thường gây buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy và có thể kèm sốt.
Một điểm khác biệt quan trọng là tính chất xảy ra của bệnh. Dị ứng hải sản chỉ xuất hiện ở những người có cơ địa dị ứng, nên dù cùng ăn một món ăn, không phải ai cũng bị. Ngược lại, nếu hải sản bị nhiễm độc hoặc nhiễm khuẩn, nhiều người cùng ăn một loại thực phẩm có thể cùng xuất hiện triệu chứng ngộ độc.
Từ đó, bác sĩ Thanh Tâm chỉ ra các cách xử trí khi người dân phát hiện dị ứng sau khi ăn hải sản. Có 2 trường hợp như sau:
Dị ứng mức độ nhẹ: Nổi mề đay, ngứa, phát ban
Làm sạch dị nguyên: Ngưng ngay việc ăn hải sản, uống nhiều nước ấm để hỗ trợ đào thải độc tố hoặc móc họng gây nôn nếu mới vừa ăn để đẩy phần thức ăn chưa tiêu hóa ra ngoài
Giảm ngứa tại chỗ: Dùng khăn lạnh thấm nước mát/nước lạnh chườm lên vùng da nổi ban để làm dịu, giam sưng và bớt cảm giác châm chích. Không gãi ngứa để tránh trầy xước, nhiễm trùng da
Sử dụng thuốc: Dùng thuốc kháng histamin dạng uống mang theo theo đúng liều lượng chỉ dẫn để chặn phản ứng dị ứng.
Khi dị ứng tiến triển nặng (sốc phản vệ): Khó thở, tức ngực, phù nề mặt môi lưỡi, đau bụng dữ dội, ngất xỉu…
Khi này, mọi người cần nhờ người hỗ trợ liên hệ cơ sở y tế địa phương hoặc lực lượng cứu hộ gần nhất vì tình trạng đã trở nặng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Nhiều người cho rằng phải đến khi có bệnh mới cần chăm sóc sức khỏe, hoặc muốn khỏe mạnh phải bắt đầu từ những thay đổi "to tát". Tuy nhiên, thực tế cho thấy nền tảng của một cơ thể dẻo dai lại được xây dựng từ những việc rất nhỏ, lặp đi lặp lại mỗi ngày.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa, sức khỏe là trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật. Điều này cho thấy sức khỏe có mối liên hệ mật thiết với lối sống và thói quen sinh hoạt. Do đó, việc chăm sóc sức khỏe cần được xem như một hành trình xuyên suốt, không ngắt quãng và phải được bắt đầu từ những hành động đơn giản nhất mỗi ngày.
Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật TP HCM khuyến cáo các thói quen sinh hoạt hằng ngày đóng vai trò quyết định trong bảo vệ cơ thể. Nhiều nghiên cứu cho thấy chế độ dinh dưỡng hợp lý, vận động thường xuyên, ngủ đủ giấc, không hút thuốc và hạn chế rượu bia có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm. Lợi ích sức khỏe không đến từ những nỗ lực ngắn hạn mà được tích lũy qua các hành động nhỏ duy trì đều đặn mỗi ngày, từ đó hình thành "lá chắn" vững chắc chống lại các tác nhân gây bệnh.
Bên cạnh sinh hoạt lành mạnh, việc chủ động phòng bệnh sẽ giúp chúng ta nhận diện sớm các nguy cơ, từ đó ngăn chặn sự tiến triển của bệnh tật ngay từ giai đoạn "mầm mống". Việc phát hiện sớm không chỉ nâng cao tỷ lệ điều trị thành công mà còn giảm gánh nặng tài chính cho người bệnh và xã hội.
Để xây dựng hành trình chăm sóc sức khỏe trọn đời, có thể bắt đầu ngay hôm nay bằng việc thực hiện 7 thói quen thiết thực sau:
Ăn đủ bữa, tăng cường rau xanh, trái cây.
Uống đủ nước, khoảng 1,5-2 lít mỗi ngày.
Duy trì vận động thể chất ít nhất 30 phút mỗi ngày.
Ngủ đủ giấc, đảm bảo thời gian nghỉ ngơi.
Không hút thuốc lá, tránh khói thuốc, hạn chế rượu bia.
Giữ tinh thần thoải mái, giảm căng thẳng.
Theo dõi các chỉ số cơ thể và khám sức khỏe định kỳ.
Tin Gốc: Vnexpress

