Vừa qua, phóng viên Dân trí nhận được thông tin từ gia đình bé gái tên B.N. (5 tuổi, ngụ tỉnh Đồng Tháp), cho biết bệnh nhi từng điều trị ung thư nguyên bào võng mạc 2 mắt ở Bệnh viện Ung bướu TPHCM, sau đó chuyển sang Bệnh viện Mắt TPHCM.
Bác sĩ Bệnh viện Mắt TPHCM đã hướng dẫn bệnh nhân sang một bệnh viện quốc tế để “hóa trị nội động mạch”, với lý do các cơ sở y tế công lập khu vực phía Nam chưa triển khai kỹ thuật này. Tại bệnh viện quốc tế, kỹ thuật nêu trên có chi phí đắt đỏ, khiến gia đình bệnh nhi rất lo lắng vì hoàn cảnh kinh tế không cho phép.
Theo tìm hiểu, bệnh nhi B.N. trong thời gian điều trị ở Bệnh viện Ung bướu TPHCM được hưởng BHYT 100%, không có chỉ định hóa trị. Phía Bệnh viện Mắt TPHCM xác nhận, bác sĩ khoa Mắt Nhi của đơn vị đã giới thiệu bé sang một bệnh viện quốc tế, để có thể hóa trị nội động mạch điều trị ung thư nguyên bào võng mạc tối ưu.
Bác sĩ Huỳnh Hữu Danh, người trực tiếp thực hiện hóa trị nội động mạch cho bệnh nhi chia sẻ, sau 9 đợt điều trị với chi phí hàng trăm triệu đồng (được một tổ chức từ thiện tài trợ), bé gái giữ được một bên mắt, bên còn lại phải múc bỏ nhãn cầu vì tình trạng quá nặng.
Trao đổi với phóng viên bên lề hội nghị khoa học kỹ thuật Bệnh viện Ung bướu TPHCM diễn ra ngày 15/5, TS.BS Diệp Bảo Tuấn, Giám đốc đơn vị cho biết, hóa trị nội động mạch là kỹ thuật truyền thuốc bằng đường động mạch, để thuốc tới trực tiếp khối u, thay vì truyền qua đường tĩnh mạch truyền thống.
Đây không phải kỹ thuật mới, nhưng là kỹ thuật khó. Trước đây, một bệnh viện tuyến cuối ở phía Nam đã từng ứng dụng kỹ thuật này cho các loại ung thư phần mềm, ung thư xương để khối bướu nhỏ lại, giúp hỗ trợ trong quá trình phẫu thuật.
Năm 2025 vừa qua, Bệnh viện Ung bướu TPHCM đã cử một ê-kíp sang Nhật Bản để tiếp cận và tập huấn ứng dụng hóa trị nội động mạch. Hiện tại, bệnh viện đang chuẩn bị các thủ tục để có thể sớm triển khai phương pháp này.
Với ung thư nguyên bào võng mạc, bác sĩ Tuấn chia sẻ, đây là loại ung thư ở mắt và việc điều trị cần sự phối hợp đa mô thức. Trong đó, chủ lực là phẫu thuật và xạ trị. Hóa trị chỉ dùng khi bệnh đã lan rộng, và hóa trị nội động mạch chỉ là một trong các phương thức hóa trị.
“Bệnh nhân ung thư nguyên bào võng mạc cần điều trị đa mô thức tùy theo giai đoạn, và các bệnh viện tuyến cuối đều có thể điều trị bệnh này. Nếu bệnh nhân đã mổ rồi thì nên tiếp tục xạ trị theo chỉ định của bác sĩ”, TS.BS Diệp Bảo Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TPHCM nói.
Hội nghị khoa học kỹ thuật Bệnh viện Ung Bướu năm 2026 có chủ đề “Tiếp cận chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân ung thư trong thời đại mới”.
Chương trình tập trung vào xu hướng phát triển mô hình chăm sóc toàn diện cho người bệnh ung thư ở bối cảnh y học hiện đại, với sự kết hợp đa chuyên khoa, cá thể hóa điều trị, phối hợp đông – tây y, dinh dưỡng, phục hồi chức năng và ứng dụng các tiến bộ công nghệ khi thực hành lâm sàng.
Hội nghị có tổng cộng 10 phiên khoa học, bao gồm 2 phiên toàn thể và 8 phiên chuyên đề, với 47 bài báo cáo khoa học thuộc nhiều lĩnh vực chuyên sâu như: Tổng quát – Giải phẫu bệnh; Miễn dịch; Y học cổ truyền, Dinh dưỡng – Phục hồi chức năng; Xạ trị; Ngoại khoa; Tiêu hóa; Tuyến vú.
Các báo cáo tập trung cập nhật những tiến bộ điều trị đa mô thức, kỹ thuật chẩn đoán hiện đại, điều trị cá thể hóa, chăm sóc giảm nhẹ, phục hồi chức năng và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân ung thư.
PGS.TS.BS Phạm Nguyễn Vinh, Giám đốc Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, giải thích mô mỡ hoạt động như một cơ quan nội tiết, giải phóng các chất gây viêm (TNF-α, IL-6), làm tổn thương thành mạch, thúc đẩy xơ vữa. Tình trạng này làm tăng nguy cơ bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, bệnh mạch máu não và đột quỵ.
Mỡ nội tạng dư thừa còn gây kháng insulin, dẫn đến hội chứng chuyển hóa và đái tháo đường type 2 - những yếu tố làm tăng nguy cơ tim mạch. Nghiên cứu Đa chủng tộc về Xơ vữa động mạch (MESA) năm 2010-2017 trên hơn 93.200 người 45-79 tuổi đăng trên tạp chí Frontiers cho thấy 80-90% người mắc đái tháo đường type 2 bị thừa cân hoặc béo phì, và người béo phì có nguy cơ mắc bệnh tim cao gần gấp 3 lần so với người bình thường.
Rối loạn mỡ máu ở người thừa cân, béo phì thường biểu hiện bằng triglyceride tăng cao, cholesterol tốt (HDL) giảm và xuất hiện nhiều hạt LDL nhỏ, đậm đặc - loại dễ gây hại cho mạch máu. Những thay đổi này khiến mỡ tích tụ trong thành động mạch, hình thành mảng xơ vữa, từ đó làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
"Ở người trẻ bị nhồi máu cơ tim không ST chênh lên (NSTEMI), thừa cân, béo phì có thể là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất, hơn cả hút thuốc lá", phó giáo sư Vinh nói. Chỉ số BMI càng cao, nguy cơ mắc bệnh càng lớn và có xu hướng xảy ra sớm hơn.
Béo phì dễ dẫn tới tăng huyết áp do tăng thể tích máu và cung lượng tim, kích hoạt hệ renin-angiotensin-aldosterone (RAAS) khiến huyết áp duy trì ở mức cao. Lâu dài, áp lực này làm cứng và hẹp động mạch, hình thành xơ vữa, đồng thời khiến tim phải làm việc nhiều hơn, cơ tim dày lên, tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, suy tim.
Mỡ thừa cũng khiến tim phải bơm mạnh hơn, lâu dần gây biến đổi cấu trúc tim và dẫn đến suy tim. Khi tăng huyết áp đi kèm rối loạn mỡ máu, bệnh tim mạch tiến triển nhanh hơn. Ngoài ra, béo phì còn liên quan đến rung nhĩ do thay đổi cấu trúc và tín hiệu điện của tim.
Phó giáo sư Vinh dẫn thống kê năm 2024 của Hiệp hội Tim mạch châu Âu (ESC) cho thấy tỷ lệ béo phì đã tăng hơn gấp đôi trong 4 thập kỷ qua. Tại hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, số bệnh nhân đến khám và điều trị bệnh tim (tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, suy tim...) bị thừa cân, béo phì chiếm khoảng 10-15%.
Đơn cử ông Mạnh, 57 tuổi, nặng 118 kg, nhập viện điều trị hai lần trong vòng 3 tháng. ThS.BS.CKII Huỳnh Thanh Kiều, Trưởng khoa Nội tim mạch 1, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết bệnh nhân mắc nhiều bệnh lý tim mạch gồm suy tim, rung nhĩ, bệnh mạch vành, rối loạn lipid máu, ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ. "Yếu tố tuổi tác, béo phì mức cao nhất (BMI 40.35) là nguyên nhân chính gây ra tình trạng này", bác sĩ Kiều giải thích.
Sau một tuần điều trị nội khoa tích cực, các triệu chứng cải thiện. Bác sĩ cũng kê thuốc hỗ trợ giảm cân cho ông, xây dựng chế độ ăn uống - vận động phù hợp và hướng dẫn ông tái khám đúng lịch.
Phó giáo sư Vinh cho hay giảm cân là biện pháp quan trọng để phòng ngừa các hội chứng tim mạch chuyển hóa. Giảm 5-10% trọng lượng cơ thể, người bệnh có thể giảm triglyceride 40 mg/dl, tăng cholesterol HDL 5 mg/dl, huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương giảm 5 mmHg, giảm 21% nguy cơ tử vong do nhồi máu cơ tim cấp hay đột quỵ, ngăn ngừa tiến triển đái tháo đường type 2...
Để giảm nguy cơ tim mạch, ngoài kiểm soát cân nặng, cần giữ vòng eo <90 cm ở nam và <80 cm ở nữ. Các biện pháp hiệu quả gồm thay đổi lối sống, dùng thuốc và phẫu thuật khi cần. Nguyên tắc ăn uống ưu tiên thịt trắng (thịt gà, vịt, cá, ếch...), chất xơ, hạn chế tinh bột, tránh thực phẩm chế biến sẵn, uống đủ 1,5-2 lít nước và duy trì vận động đều đặn.Tùy từng trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định thuốc giảm cân, chẳng hạn khi BMI ≥30 hoặc BMI ≥ 27 kèm một yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp sau ít nhất 3 tháng thay đổi lối sống không hiệu quả. Người châu Á (như Việt Nam) có thể dùng thuốc nếu BMI ≥ 25 kèm một yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp. Trường hợp BMI ≥40 hoặc ≥35 kèm bệnh có thể cân nhắc phẫu thuật dạ dày (Bari-surgery).Người thừa cân nên khám để được tư vấn phương pháp giảm cân phù hợp theo thể trạng và bệnh nền kèm theo. Duy trì BMI 18,5-22,9 giúp phòng ngừa bệnh tim mạch hiệu quả. Người thừa cân, béo phì khi xuất hiện dấu hiệu cảnh báo như khó thở, đau tức ngực, chóng mặt, choáng váng, nhịp tim bất thường, mệt mỏi... nên đi khám ngay.Tin Gốc: Vnexpress
Tỏi có tác động tích cực đối với cholesterol nếu sử dụng đều đặn. Tuy nhiên, loại thực phẩm này chỉ nên là một phần trong chế độ ăn lành mạnh, không phải giải pháp duy nhất để kiểm soát cholesterol cao, theo trang sức khỏe OnlyMyHealth (Ấn Độ).
Tỏi chứa nhiều hợp chất tự nhiên, trong đó có allicin. Hợp chất này được tạo ra khi tỏi tươi được đập dập hoặc băm nhỏ.
Các chất có trong tỏi có đặc tính chống oxy hóa và chống viêm, giúp bảo vệ mạch máu. Nhờ đó, tỏi góp phần hỗ trợ sức khỏe tim mạch và tác động đến quá trình cơ thể sản xuất cũng như chuyển hóa cholesterol.
Bà Archana Batra, chuyên gia dinh dưỡng ở Ấn Độ, cho biết tỏi có thể giúp giảm nhẹ cholesterol toàn phần và cholesterol LDL nếu sử dụng thường xuyên.
Tuy nhiên, mức giảm nhìn chung không cao. Chuyên gia cho biết hiệu quả sẽ tốt hơn khi kết hợp tỏi với chế độ ăn cân đối, tập thể dục đều đặn và duy trì cân nặng hợp lý.
Một tổng quan nghiên cứu năm 2024 đăng trên tạp chí Frontiers in Nutrition cho thấy ăn khoảng 10 gram tỏi mỗi ngày trong 2 tháng có thể mang lại lợi ích đối với cholesterol.
Tuy nhiên, ăn nhiều hơn không đồng nghĩa với hiệu quả cao hơn. Mỗi ngày chỉ cần thêm 1 đến 2 tép tỏi tươi vào bữa ăn là cách đơn giản để tận dụng hương vị và những lợi ích sức khỏe của loại gia vị này.
Bà Batra cho biết tỏi sống chứa nhiều hoạt chất hơn do nhiệt độ có thể làm giảm lượng allicin. Dù vậy, tỏi nấu chín vẫn cung cấp nhiều dưỡng chất và hợp chất thực vật có lợi.
Điều quan trọng là duy trì thói quen ăn tỏi với lượng hợp lý, thay vì chỉ tập trung vào việc ăn sống hay nấu chín.
Bà Batra nhấn mạnh tỏi không thể thay thế thuốc hạ cholesterol hoặc các thay đổi toàn diện về lối sống. Người có cholesterol cao, đặc biệt khi nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng cao, vẫn có thể cần dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Việc tự ý ngừng thuốc và chỉ dựa vào tỏi có thể làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Đối với thực phẩm bổ sung từ tỏi, hiệu quả và chất lượng có thể khác nhau. Một số sản phẩm còn có khả năng tương tác với thuốc chống đông máu và làm tăng nguy cơ chảy máu. Vì vậy, sử dụng tỏi tươi trong bữa ăn hằng ngày vẫn là lựa chọn an toàn hơn.
Người đang dùng thuốc chống đông máu hoặc chuẩn bị phẫu thuật cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng nhiều tỏi hoặc thực phẩm bổ sung từ tỏi. Ăn quá nhiều tỏi cũng có thể gây ợ nóng, khó chịu ở dạ dày, hôi miệng và rối loạn tiêu hóa.
Ngồi lâu, ít vận động và làm việc liên tục trước máy tính khiến đau lưng dưới trở thành tình trạng phổ biến ở nhiều nhân viên văn phòng. Cơn đau có thể âm ỉ kéo dài hoặc bùng phát dữ dội, ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc và sinh hoạt hằng ngày.
Theo bác sĩ Hsieh Ping-Hsien, chuyên khoa phẫu thuật thần kinh tại Bệnh viện Đại học Quốc gia Chiao Tung, một số bài tập giãn cơ đơn giản có thể giúp giảm áp lực lên vùng thắt lưng, cải thiện độ linh hoạt và tăng cường sức mạnh cho cơ lưng dưới.
Thống kê cho thấy khoảng 80% người trưởng thành từng trải qua đau lưng dưới. Nguyên nhân thường liên quan đến việc duy trì một tư thế quá lâu, ngồi sai tư thế, ít vận động hoặc mang vác vật nặng không đúng cách. Những thói quen này làm tăng áp lực lên cột sống thắt lưng và khiến cơ vùng lưng bị căng cứng.
Động tác duỗi người kiểu mèo - bò
Một trong những động tác được khuyến nghị là giãn cơ kiểu mèo bò. Người tập bắt đầu ở tư thế quỳ chống hai tay xuống sàn, hai tay rộng bằng vai, hai gối rộng bằng hông. Từ từ cong lưng lên, siết nhẹ bụng như tư thế mèo vươn vai, sau đó hạ lưng xuống, nâng đầu và mở ngực. Động tác này giúp cột sống vận động linh hoạt hơn và giảm cảm giác căng ở vùng lưng dưới. Có thể lặp lại 10 đến 15 lần.
Tư thế rắn hổ mang
Tư thế rắn hổ mang cũng có thể hỗ trợ giảm căng cứng lưng. Người tập nằm sấp, đặt hai tay gần thân người, từ từ nâng phần thân trên lên trong khi vẫn giữ xương chậu chạm sàn. Khi thực hiện, cần tránh rướn cổ hoặc nhún vai. Giữ tư thế khoảng 15 đến 30 giây để cảm nhận vùng lưng dưới được kéo giãn nhẹ.
Tư thế em bé
Với người thường xuyên mỏi lưng do ngồi lâu, tư thế em bé là lựa chọn phù hợp để thư giãn. Bắt đầu bằng tư thế quỳ, sau đó từ từ gập người về phía trước, duỗi hai tay trên sàn, trán chạm nhẹ xuống đất. Giữ tư thế trong 30 giây đến 1 phút. Động tác này giúp kéo giãn vùng lưng, hỗ trợ lưu thông máu và tạo cảm giác thư giãn.
Tư thế co gối chạm ngực
Bài tập co gối chạm ngực cũng dễ thực hiện tại nhà. Người tập nằm ngửa, gập hai đầu gối rồi kéo nhẹ về phía ngực, hai tay ôm quanh gối. Giữ trong 10 đến 20 giây, sau đó thả lỏng. Lặp lại 3 đến 5 lần. Bài tập này giúp kéo giãn cơ lưng dưới và vùng hông, từ đó giảm cảm giác cứng mỏi.
Các bài tập trên phù hợp với tình trạng đau lưng do căng cơ, ngồi lâu hoặc ít vận động. Tuy nhiên, nếu cơn đau dữ dội, lan xuống chân, kèm tê yếu, sốt, chấn thương hoặc kéo dài không cải thiện, người bệnh nên đi khám để được đánh giá nguyên nhân và điều trị phù hợp.