Theo thạc sĩ – bác sĩ chuyên khoa 2 Đào Quang Hoàng, Khoa Nội tim mạch – lão học, Bệnh viện đa khoa Thủ Đức (TP.HCM), ăn mặn (nhiều muối natri) tạo ra áp lực cơ học lên thành mạch và làm tăng huyết áp, giống như việc bơm quá nhiều nước vào một ống cao su, với ống cao su tượng trưng cho hệ thống mạch máu.
Tuy nhiên, ít ai biết rằng áp lực tinh thần (trầm cảm, căng thẳng, stress kéo dài) cũng có thể gây hại cho mạch máu, thậm chí nguy hiểm không kém ăn mặn.
Chị V.T.Q.N (23 tuổi, làm nghề tự do) bắt đầu có những dấu hiệu như chóng mặt, nóng phừng mặt, thở gấp, đau đầu từ khoảng 1 năm trước. Kết quả thăm khám gần đây cho thấy chị bị tăng huyết áp dù còn trẻ, không hút thuốc hay rượu bia. Nguyên nhân được biết do thức khuya và ngủ không đủ giấc trong thời gian dài, cộng với thường xuyên ăn thức ăn chế biến sẵn mua ngoài hàng quán.
Tương tự, trường hợp anh D.Q.T. (32 tuổi, trưởng phòng của một công ty công nghệ) đi khám với triệu chứng đau đầu, mỏi gáy, hay hồi hộp; đo huyết áp tại phòng khám lên tới 165/100 mmHg (mức tăng huyết áp độ 2). Anh T. không hút thuốc, không béo phì, mỡ máu bình thường, các chỉ số thận và tim hoàn toàn tốt. Tuy nhiên, anh T. cho biết 6 tháng qua phải gánh một dự án lớn, thức đêm liên tục hoặc ngủ không quá 4 giờ mỗi ngày. Anh sống một mình, không có thời gian chia sẻ với gia đình hay người thân, luôn trong trạng thái lo âu sợ trễ tiến độ (deadline).
Theo bác sĩ Quang Hoàng, “cô đơn cũng là một loại muối” vì cả hai đều âm thầm bóp nghẹt và làm tổn thương hệ thống mạch máu, dẫn đến tăng huyết áp và các biến chứng như đột quỵ, nhồi máu cơ tim.
Ngoài ra khi căng thẳng, cơ thể tiết ra adrenaline và cortisol làm tim đập nhanh hơn, huyết áp tăng và duy trì sự tỉnh táo. Tuy nhiên, nếu tình trạng căng thẳng diễn ra liên tục, sự hoạt hóa kéo dài của các hormone này sẽ làm mạch máu co thắt, cơ thể giữ muối và nước nhiều hơn, từ đó dẫn đến tăng huyết áp, gây viêm, làm tổn thương mạch máu và các cơ quan quan trọng.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Trương Thiện Niềm, Trưởng khoa Khám bệnh, Bệnh viện Gia An 115 (TP.HCM) cho biết: “Nhiều người cho rằng chỉ cần giảm muối khi nêm nếm là đủ, nhưng thực tế lượng natri đưa vào cơ thể phần lớn lại đến từ ‘muối ẩn’ trong thực phẩm chế biến sẵn. Các loại như đồ hộp, thịt chế biến, mì ăn liền, nước chấm, thậm chí bánh mì hoặc thực phẩm đóng gói… đều có thể chứa lượng muối đáng kể. Vì vậy, dù ăn nhạt khi nấu ăn, tổng lượng muối tiêu thụ mỗi ngày vẫn có thể vượt ngưỡng khuyến cáo. Đường và các thực phẩm giàu tinh bột tinh chế cũng góp phần làm tăng huyết áp, tiêu thụ nhiều có thể gây tăng cân, đề kháng insulin và rối loạn chuyển hóa – những yếu tố liên quan chặt chẽ đến tăng huyết áp”.
Kiểm soát huyết áp là một quá trình lâu dài. Sự kiên trì trong theo dõi và điều chỉnh thói quen sinh hoạt chính là yếu tố quyết định hiệu quả điều trị. Từ đó, bác sĩ Niềm đề xuất 3 nguyên tắc cốt lõi cần duy trì để kiểm soát huyết áp, gồm: Theo dõi – điều chỉnh lối sống – tuân thủ điều trị.
Bác sĩ Quang Hoàng cũng khuyên mọi người nên cố gắng ngủ đủ 7 – 9 giờ mỗi đêm; dành khoảng 30 phút mỗi ngày để thư giãn bằng thiền, yoga, tập thở chậm hoặc nghe nhạc nhẹ để giúp cơ thể giảm áp lực tinh thần, hỗ trợ kiểm soát huyết áp.
Trả lời báo chí nhân Ngày tăng huyết áp thế giới 17/5, GS. Phạm Mạnh Hùng, Viện trưởng Viện Tim Mạch - Bệnh viện 198, nói tăng huyết áp là "kẻ giết người thầm lặng" bởi bệnh thường tiến triển âm thầm trong nhiều năm nhưng có thể gây ra các biến chứng nặng nề như đột quỵ não, nhồi máu cơ tim, suy tim, rung nhĩ, suy thận mạn, tổn thương mạch máu và tử vong sớm.
Tại Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành khoảng 25-30%, tương đương hàng chục triệu người mắc bệnh. Đáng lo ngại, bệnh đang có xu hướng trẻ hóa nhanh chóng do lối sống ít vận động, stress kéo dài, ăn mặn, béo phì và sử dụng nhiều rượu bia.
Kết quả Điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm (STEPS) năm 2021 của Bộ Y tế cho thấy lượng muối trung bình người Việt tiêu thụ mỗi ngày khoảng 8,1 g, giảm so với mức 9,4 g năm 2015 nhưng vẫn cao gần gấp đôi khuyến nghị dưới 5 g/ngày của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Khoảng 8,7% dân số thường xuyên sử dụng thực phẩm chế biến sẵn chứa hàm lượng muối cao.
Các chuyên gia dinh dưỡng cảnh báo ăn mặn là một trong những nguyên nhân dẫn tới tăng huyết áp và hàng loạt bệnh lý tim mạch nguy hiểm. ThS.BS. Ngô Thị Hà Phương, Viện Dinh dưỡng cho hay natri (thành phần của muối) là khoáng chất cần thiết giúp cơ thể duy trì cân bằng dịch, dẫn truyền thần kinh và hoạt động cơ bắp. Tuy nhiên, dư thừa natri so với nhu cầu khuyến nghị, gây tăng tính thấm, tăng trương lực thành mạch, gây ứ nước trong tế bào, tăng sức cản ngoại vi gây ra tăng huyết áp.
Bác sĩ Phương nhìn nhận điều đáng lo ngại là tăng huyết áp do ăn mặn thường diễn ra âm thầm qua nhiều năm. Tiêu thụ nhiều natri (muối, gia vị, các thực phẩm chứa muối...) trong thời gian dài làm tăng huyết áp ở hầu hết mọi người và tương tác với các con đường chuyển hóa liên quan đến béo phì, kháng insulin và tổn thương thận.
Nhiều người cho rằng thận có thể tự đào thải lượng muối dư thừa nên ăn mặn không đáng lo nếu cơ thể còn khỏe mạnh. Thực tế, khi lượng muối nạp vào quá lớn trong thời gian dài, thận phải làm việc liên tục để đào thải natri và nước. Quá tải kéo dài khiến chức năng thận suy giảm, đồng thời làm tăng nguy cơ tăng huyết áp.
Không chỉ vậy, chế độ ăn nhiều muối còn khiến các thuốc điều trị tăng huyết áp, đặc biệt là thuốc lợi tiểu, giảm hiệu quả. Huyết áp tăng kéo dài làm tổn thương thành mạch máu, thúc đẩy xơ vữa động mạch, tăng nguy cơ đột quỵ, suy tim và bệnh mạch vành.
Theo một nghiên cứu năm 2011, trong khẩu phần ăn của người Việt, khoảng 80% lượng natri đến từ gia vị được thêm vào khi nấu nướng và chấm trực tiếp như nước mắm, bột canh, hạt nêm, mắm tôm, xì dầu. Khoảng 20% đến từ thực phẩm chế biến sẵn như xúc xích, giò chả, đồ hộp, snack, mì ăn liền và các thực phẩm tự nhiên có chứa muối. Nhiều món ăn quen thuộc tại hàng quán cũng chứa lượng muối cao do khẩu vị chuộng đậm đà. Điều này khiến không ít người vô tình vượt ngưỡng muối khuyến nghị mỗi ngày mà không nhận ra.
Nghiên cứu chỉ ra nếu lượng muối tiêu thụ mỗi ngày được kiểm soát ở mức 5-6 g, huyết áp có thể giảm 2-8 mmHg. Nếu duy trì chế độ ăn nhạt lâu dài, nguy cơ bệnh tim mạch và đột quỵ cũng giảm đáng kể.
Các chuyên gia khuyến cáo để phòng tăng huyết áp và bệnh tim mạch, người dân cần thay đổi thói quen ăn uống từ sớm. Biện pháp quan trọng nhất là giảm dần lượng muối trong chế biến, hạn chế thực phẩm chế biến sẵn và giảm thói quen chấm thêm nước mắm, nước sốt trong bữa ăn. Khi mua thực phẩm đóng gói, cần chú ý đọc hàm lượng natri trên nhãn dinh dưỡng.
Từ ngày 11–17/5 diễn ra Tuần lễ Thế giới nâng cao nhận thức về muối. Chiến dịch năm nay kêu gọi giảm lượng muối trong thực phẩm chế biến và thực phẩm đóng gói.
Thành phần dinh dưỡng của da cá có thể khác nhau tùy loại cá. Một số loại cá béo như cá hồi, cá thu, cá mòi thường có lớp da giàu chất béo có lợi, theo chuyên trang Eating Well (Mỹ).
Một trong những thành phần nổi bật nhất của da cá là collagen. Đây là loại protein giúp hình thành da, sụn, gân và mô liên kết trong cơ thể. Da cá đặc biệt giàu collagen loại 1. Đây là loại collagen phổ biến nhất trong cơ thể người. Vì vậy, hiện nay nhiều sản phẩm collagen biển được chiết xuất từ da cá. Ngoài collagen, da cá còn cung cấp protein giúp duy trì khối cơ và phục hồi mô.
Ở các loại cá béo như cá hồi, cá mòi hoặc cá thu, phần da thường chứa khá nhiều chất béo không bão hòa, đặc biệt là omega-3. Phần da này thường giữ lại một lượng chất béo đáng kể. Vì vậy, nếu bỏ da hoàn toàn thì lượng omega-3 hấp thu cũng có thể giảm đi phần nào. Ngoài ra, da còn có vitamin D, vitamin E, selenium và i ốt.
Một trong những lo ngại lớn nhất khi ăn da cá là nguy cơ tích tụ chất ô nhiễm môi trường. Theo Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA), gần như tất cả các loại cá và hải sản đều chứa một lượng nhỏ thủy ngân hữu cơ. Tuy nhiên, đa số không ở mức gây hại cho người trưởng thành nếu ăn với lượng hợp lý.
Các chất ô nhiễm tan trong chất béo có xu hướng tích tụ ở lớp mỡ và da cá nhiều hơn phần thịt nạc. Vì vậy, những loài cá lớn, sống lâu như cá kiếm, cá mập hoặc cá thu vua thường có nguy cơ chứa thủy ngân cao hơn.
Ngược lại, các loại cá nhỏ và cá có hàm lượng thủy ngân thấp như cá hồi, cá tuyết, cá rô phi hoặc cá mòi thường được xem là an toàn hơn khi ăn cả da.
Nếu muốn ăn da cá, điều quan trọng nhất là chọn nguồn cá đáng tin cậy và chế biến đúng cách. Hãy ưu tiên cá nhỏ hoặc cá có hàm lượng thủy ngân thấp, đồng thời hạn chế ăn thường xuyên các loại cá săn mồi lớn, chuyên gia dinh dưỡng Maya Feller, đồng thời là giảng viên của Đại học New York (Mỹ), cho biết.
Ngoài ra, da cá cần được làm sạch kỹ trước khi nấu. Cách chế biến cũng rất quan trọng. Da cá bị cháy khét ở nhiệt độ quá cao có thể tạo ra các hợp chất không tốt cho sức khỏe. Vì vậy, hấp, nướng hoặc áp chảo ít dầu thường được xem là lựa chọn phù hợp hơn so với chiên ngập dầu, theo Eating Well.
Huyết áp cao là một trong những yếu tố nguy cơ lớn nhất của đột quỵ, trong đó có đột quỵ do thiếu máu não và đột quỵ xuất huyết não. Trên thực tế, nguy cơ đột quỵ có xu hướng tăng dần khi huyết áp vượt khỏi mức lý tưởng và sẽ tăng mạnh hơn ở một số ngưỡng nhất định, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Thông thường, huyết áp được đo bằng hai chỉ số là huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Chỉ số huyết áp dưới 120/80 mmHg được xem là bình thường. Trong đó, 120 là chỉ số huyết áp tâm thu, 80 là huyết áp tâm trương.
Khi huyết áp tâm thu ở mức 120 - 129 mmHg nhưng huyết áp tâm trương vẫn dưới 80 mmHg, đây được xem là giai đoạn huyết áp tăng nhẹ. Từ mức 130/80 mmHg trở lên, nguy cơ tim mạch bắt đầu cần được chú ý. Nếu huyết áp đạt từ 140/90 mmHg, tình trạng này thường được xem là tăng huyết áp rõ ràng và cần được theo dõi nghiêm túc.
Nhiều người cho rằng chỉ khi huyết áp vượt 140/90 mmHg mới nguy hiểm. Thế nhưng, các dữ liệu khoa học cho thấy rủi ro có thể bắt đầu tăng sớm hơn, khi huyết áp vượt mức bình thường 120/80 mmHg.
Nguy cơ đột quỵ tăng rõ rệt hơn từ mức 140/90 mmHg. Đây là ngưỡng mà nhiều bác sĩ đặc biệt lưu ý vì nguy cơ bắt đầu tăng mạnh hơn đáng kể.
Một nghiên cứu công bố trên chuyên san Frontiers in Neurology cho thấy những người có huyết áp tâm thu từ 140 - 159 mmHg có nguy cơ đột quỵ cao hơn đáng kể so với nhóm có huyết áp dưới 130 mmHg. Khi huyết áp tăng lên mức 160 mmHg trở lên, nguy cơ tiếp tục tăng mạnh hơn nữa.
Nguyên nhân là huyết áp cao kéo dài có thể làm thành mạch dày lên, cứng hơn và dễ tổn thương. Đây là điều kiện thuận lợi để hình thành mảng xơ vữa hoặc làm mạch máu yếu đi theo thời gian.
Huyết áp tăng từ 180/120 mmHg trở lên có thể là tình trạng cấp cứu. Nguy cơ biến chứng cấp tính tăng rất mạnh. Ở mức này, người bệnh có thể đối mặt với đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim cấp hoặc tổn thương thận.
Nếu huyết áp rất cao và đi kèm các dấu hiệu như méo miệng, yếu tay chân, nói khó, đau đầu dữ dội bất thường, lú lẫn hoặc nhìn mờ thì cần đi cấp cứu ngay vì đây có thể là dấu hiệu đột quỵ đang xảy ra.
Với đa số người trưởng thành, duy trì huyết áp dưới 130/80 mmHg thường giúp giảm nguy cơ biến cố tim mạch và đột quỵ về lâu dài. Với những người đã từng bị đột quỵ hoặc có bệnh lý nền nghiêm trọng, bác sĩ có thể đưa ra mục tiêu huyết áp riêng phù hợp với tình trạng sức khỏe, theo Medical News Today.