Chia sẻ với Thanh Niên, ông Lâm Đức Thái – Quyền Phó Tổng Giám đốc Kênh Đại lý FWD Việt Nam – cho biết FWD đang đẩy mạnh xây dựng Kênh Đại lý bằng chiến lược đa dạng hóa mô hình kinh doanh, nhằm tạo nền tảng phát triển bền vững và phù hợp với nhu cầu của nhiều nhóm đối tượng khách hàng.
*Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang có nhiều thay đổi, theo ông đâu là những điểm đáng chú ý nhất hiện nay?
Có hai thay đổi đáng chú ý. Trước hết, nhận thức của khách hàng về bảo hiểm nhân thọ ngày càng rõ hơn, khi khách hàng không chỉ quan tâm đến sản phẩm mà bắt đầu đặt nhiều câu hỏi hơn về sự phù hợp với nhu cầu và kế hoạch tài chính của mình.
Song song đó, cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu của khách hàng cũng trở nên đa dạng hơn. Có khách hàng ưu tiên bảo vệ, có khách hàng quan tâm tích lũy hoặc đầu tư, và mỗi nhóm khách hàng lại có kỳ vọng rất khác nhau về cách được tư vấn và phục vụ.
Trong bối cảnh đó, thị trường không thu hẹp mà đang phân hóa rõ hơn, và khi tiêu chuẩn rõ ràng hơn, doanh nghiệp có cách làm bài bản sẽ có nhiều lợi thế. Điều này cũng đồng nghĩa với việc một cách tiếp cận đơn lẻ sẽ không còn phù hợp, mà đòi hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt hơn trong cách xây dựng và phát triển Kênh Đại lý.
*Trong bối cảnh đó, FWD định hướng xây dựng Kênh Đại lý như thế nào?
FWD xác định Kênh Đại lý là trụ cột phát triển quan trọng, còn cách xây dựng được nhìn từ góc độ trải nghiệm khách hàng thay vì chỉ từ góc độ vận hành. Khi nhu cầu khách hàng thay đổi liên tục, một cách làm cố định sẽ khó duy trì sự phù hợp trong dài hạn.
Vì vậy, FWD phát triển Kênh Đại lý theo hướng đa mô hình. Mỗi mô hình được thiết kế để phù hợp với những nhóm đội ngũ có tư duy làm nghề và cách tiếp cận khác nhau, qua đó có thể đáp ứng tốt hơn các nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.
Cách tiếp cận này giúp FWD mở rộng khả năng phục vụ khách hàng, đồng thời tạo điều kiện để đội ngũ phát triển theo đúng thế mạnh cá nhân. Đa dạng hóa mô hình không phải để mở rộng số lượng, mà để tăng mức độ phù hợp. Khi mỗi người được đặt vào đúng môi trường, chất lượng tư vấn sẽ được phát triển tốt hơn.
*Cụ thể, FWD đang triển khai chiến lược đa dạng hóa mô hình như thế nào?
Ở cấp độ hệ thống, chiến lược này đòi hỏi sự đồng bộ trong thiết kế mô hình, vận hành và nền tảng hỗ trợ, từ đó tạo ra một cấu trúc đủ vững để mở rộng trong dài hạn.
Với mô hình Văn phòng Kinh doanh (VPKD), FWD hướng đến những cá nhân muốn phát triển nghề nghiệp trong môi trường có định hướng rõ ràng, có lộ trình phát triển cụ thể và giúp đội ngũ nâng cao chuyên môn theo thời gian. Trong khi đó, mô hình Giám đốc Văn phòng Tổng Đại lý (VP TĐL) dành cho những người muốn tự xây dựng hoạt động kinh doanh của riêng mình, từ việc xây dựng và dẫn dắt đội ngũ, đến cách vận hành và phát triển quy mô theo cách riêng.
FWD không đặt tất cả vào một khuôn mẫu chung. Hiệu quả lớn nhất sẽ đến từ việc đặt đúng người vào đúng mô hình. Khi mô hình phù hợp với năng lực và định hướng cá nhân, hiệu quả vận hành sẽ được khuếch đại và tiềm năng được khai thác tốt hơn.
*Với mô hình Văn phòng Tổng Đại lý (VP TĐL), FWD đang thiết kế và vận hành như thế nào để đảm bảo hiệu quả?
Với mô hình VP TĐL, FWD xây dựng nền tảng vận hành ngay từ đầu để đảm bảo tính nhất quán trong trải nghiệm khách hàng và chất lượng dịch vụ trên toàn hệ thống.
Trên nền tảng chuẩn hóa đó, FWD kết hợp hài hòa giữa cấu trúc vận hành chặt chẽ và cơ chế trao quyền linh hoạt. Chuẩn hóa giúp giữ chất lượng, trao quyền sẽ giúp tạo tăng trưởng. Các tiêu chuẩn cốt lõi được thiết lập để đảm bảo chất lượng chung, trong khi việc tổ chức đội ngũ và triển khai hoạt động được trao quyền cho Giám đốc Văn phòng Tổng Đại lý (GĐ VP TĐL), phù hợp với thực tế từng thị trường và năng lực từng đội ngũ.
Quan trọng hơn, FWD chủ động trang bị sẵn một “công thức vận hành hiệu quả”, giúp các cá nhân tiềm năng có thể triển khai ngay từ đầu một cách nhanh chóng và bài bản, thay vì phải tự xây dựng từ đầu. Cách tiếp cận này giúp rút ngắn thời gian khởi tạo, nâng cao hiệu quả vận hành và tối đa hóa cơ hội thành công.
*Song song với mô hình Văn phòng Tổng Đại lý (VP TĐL), mô hình Văn phòng Kinh doanh (VPKD) được FWD phát triển như thế nào?
Song song với VP TĐL, FWD phát triển mô hình VPKD như một cấu phần trong chiến lược đa mô hình, với vai trò khác biệt nhưng bổ trợ lẫn nhau.
Nếu VP TĐL phù hợp với những người mong muốn xây dựng và phát triển đội ngũ riêng, thì VPKD hướng đến những cá nhân tập trung phát triển nghề nghiệp trong một môi trường có cấu trúc vận hành ổn định. Mô hình này tạo sự cân bằng giữa nền tảng vận hành đã được thiết lập rõ ràng và một văn hóa doanh nghiệp cởi mở, khuyến khích đổi mới và chủ động.
Trong bối cảnh một doanh nghiệp bảo hiểm trẻ như FWD, cơ hội học hỏi, phát triển và thăng tiến tại mô hình VPKD thường rõ ràng và dễ nắm bắt hơn, khi các lộ trình được thiết kế minh bạch và gắn với năng lực thực tế.
Đồng thời, đây cũng là môi trường quy tụ những người làm nghề có kinh nghiệm và tâm huyết, tạo điều kiện để đội ngũ không chỉ phát triển năng lực tư vấn mà còn học hỏi lẫn nhau và nâng chuẩn nghề nghiệp.
Mô hình VPKD là một lựa chọn phát triển khác trong cùng một hệ thống, giúp mỗi cá nhân tìm được hướng đi phù hợp nhất với định hướng của mình.
Một hệ thống tốt không chỉ tạo ra kết quả, mà còn giúp con người phát triển trong hệ thống đó.
*Ngoài việc trao quyền và xây dựng một môi trường làm việc cởi mở, linh hoạt, FWD đã “nuôi dưỡng” đội ngũ của mình như thế nào để luôn đảm bảo chất lượng tư vấn?
FWD phát triển đội ngũ dựa trên hai nền tảng song song: năng lực chuyên môn và năng lực quản lý, nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững.
Các chương trình đào tạo được xây dựng theo từng giai đoạn, bám sát thực tế vận hành để có thể áp dụng ngay vào công việc. Bên cạnh đó, FWD ưu tiên những cách làm đã được kiểm chứng, đồng thời bổ sung tư duy thích ứng thông qua các sáng kiến như “Plan B – Luôn có cách”, giúp đội ngũ chủ động xử lý các tình huống phát sinh.
Cách tiếp cận này giúp đội ngũ vận hành trên một định hướng rõ ràng, với nền tảng phương pháp phù hợp. Nhờ đó, việc triển khai trở nên nhất quán và hiệu quả hơn, đồng thời hạn chế sự phụ thuộc vào các “phép thử sai”.
Chúng tôi tin rằng đào tạo tạo ra năng lực, trao quyền tạo ra sự trưởng thành.
*Nhìn tổng thể, điều gì tạo nên sức hút của FWD đối với đội ngũ đại lý?
Không có một yếu tố riêng lẻ nào quyết định, mà là cách các yếu tố được kết nối với nhau. Đó là cách công nghệ, đào tạo, vận hành và môi trường làm việc được kết nối để hỗ trợ đội ngũ làm việc hiệu quả hơn mỗi ngày.
Bên cạnh đó, chiến lược đa mô hình giúp mỗi người có thể chọn hướng phát triển phù hợp thay vì phải đi theo một con đường cố định. Người trẻ phát triển nhanh nhất khi họ vừa được dẫn dắt, vừa được tin tưởng. Khi nhìn thấy cơ hội phát triển rõ ràng, đội ngũ sẽ đầu tư nghiêm túc và đặt trọn tâm huyết cho nghề nghiệp của mình.
*Theo ông, việc phát triển Kênh Đại lý và đa dạng mô hình có ý nghĩa như thế nào với trải nghiệm khách hàng?
FWD xem trải nghiệm khách hàng là một hành trình dài xuyên suốt và luôn cần liên tục thay đổi để đáp ứng mong đợi ngày càng cao của khách hàng. Và vì vậy, trải nghiệm khách hàng luôn phản ánh chất lượng của hệ thống đứng phía sau.
Việc phát triển Kênh Đại lý theo hướng đa mô hình giúp nâng cao chất lượng tư vấn một cách đồng đều, bền vững hơn. Song song đó, công nghệ, đào tạo, và môi trường làm việc cũng được đầu tư để đội ngũ có thể phục vụ khách hàng hiệu quả hơn trong suốt hành trình của một hợp đồng.
Về dài hạn, khi từng mắc xích trong hệ thống cùng vận hành hiệu quả, niềm tin với bảo hiểm nhân thọ sẽ được nâng cao và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của thị trường.
Vì vậy, muốn khách hàng được phục vụ tốt hơn, trước tiên doanh nghiệp phải xây dựng được môi trường giúp đội ngũ phát triển tốt hơn.
*Xin cảm ơn ông Lâm Đức Thái về những chia sẻ rất thẳng thắn và sâu sắc.
Chiều tối nay 3.6, Cục Thuế (Bộ Tài chính) lên tiếng làm rõ vấn đề liên quan tới đề xuất ngân hàng phải cung cấp thông tin tài khoản người nộp thuế trong dự thảo Nghị định quy định chi tiết luật Quản lý thuế (dự thảo nghị định).
Đơn vị này cho biết, tại dự thảo nghị định xin ý kiến thẩm định Bộ Tư Pháp, khoản 3 điều 61 quy định:
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trực tuyến, tổ chức thẻ quốc tế có trách nhiệm cung cấp các thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế khi phát hiện các trường hợp có giao dịch bất thường cần kiểm tra tình trạng tuân thủ thuế.
Nội dung cung cấp thông tin gồm: tên chủ tài khoản, ngày sinh, nơi mở tài khoản, mã số thuế, địa chỉ, quốc gia cư trú, và thông tin định danh hợp pháp khác của chủ tài khoản; số hiệu tài khoản; ngày mở, ngày đóng tài khoản.
Thông tin, dữ liệu liên quan đến giao dịch của người nộp thuế gồm: số lượng, giá trị giao dịch, nội dung giao dịch, thông tin bên chuyển và bên nhận của giao dịch, thông tin về giao dịch trong và ngoài nước của người nộp thuế; số dư tài khoản, số dư cuối kỳ, thu nhập phát sinh từ tài khoản và các thông tin có liên quan khác phục vụ công tác quản lý thuế.
Thông tin, dữ liệu về chủ sở hữu hưởng lợi, người được ủy quyền, đồng chủ tài khoản, người thụ hưởng và các bên liên quan.
Thông tin về các giao dịch bất thường, đáng ngờ theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền.
Thông tin theo tiêu chuẩn báo cáo thông tin tài khoản tài chính của đối tượng không cư trú thuế tại Việt Nam và các báo cáo khác phù hợp với tiêu chuẩn của diễn đàn toàn cầu.
Các quy định nêu trên được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa quy định tại điểm b khoản 2 điều 40 của luật Quản lý thuế 2025; đồng thời, đã kế thừa quy định tại điều 30 Nghị định 126/2020/NĐ-CP.
"Như vậy, dự thảo nghị định hiện nay không bỏ quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức tín dụng", Cục Thuế khẳng định.
Việc quy định trách nhiệm phối hợp, cung cấp thông tin của tổ chức tín dụng nhằm tăng cường hiệu quả quản lý thuế, bảo đảm công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế; góp phần phòng ngừa gian lận, thất thu ngân sách nhà nước.
Trước đó, khoảng 1 tuần trở lại đây, một số thông tin cho rằng, Bộ Tài chính đã bỏ đề xuất ngân hàng phải cung cấp thông tin tài khoản người nộp thuế trong dự thảo nghị định.
Nội dung đề cập, tại dự thảo nghị định mới nhất gửi Bộ Tư pháp thẩm định, Bộ Tài chính đã bỏ đề xuất này sau tiếp thu ý kiến góp ý của Ngân hàng Nhà nước.
Theo TS Nguyễn Thành Lam, quá trình chuyển đổi xanh tại Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực: Nhiều mô hình sản xuất đã góp phần giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy tái chế và tái sử dụng chất thải, giảm ô nhiễm môi trường, đồng thời góp phần bảo đảm cả an ninh môi trường và an ninh năng lượng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức cần tiếp tục tháo gỡ. Trước hết là tình trạng thiếu thông tin và cơ sở dữ liệu liên thông về sản xuất, cung ứng nguyên liệu, vật liệu, công nghệ phục vụ chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn. Hiện nay, sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp vẫn còn rời rạc, chưa hình thành được mạng lưới liên kết đủ mạnh để chia sẻ dữ liệu, công nghệ và nguồn lực.
Một thách thức khác là vấn đề môi trường phát sinh từ chính quá trình phát triển năng lượng tái tạo. Trong thời gian tới, việc xử lý các tấm pin năng lượng mặt trời, pin lưu trữ và pin xe điện sẽ trở thành bài toán lớn. Ngay cả nhiều quốc gia phát triển cũng đang tiếp tục nghiên cứu công nghệ tái chế hiệu quả đối với các loại vật liệu này. Với quy mô phát triển điện mặt trời hiện nay của Việt Nam, trách nhiệm thu hồi và tái chế sản phẩm sau sử dụng cần được thực hiện theo nguyên tắc trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR). "Chúng ta cần thay đổi tư duy từ 'thải bỏ' sang 'coi chất thải là tài nguyên', thúc đẩy tái chế và tái sử dụng thay vì xử lý theo phương thức truyền thống", TS Nguyễn Thành Lam góp ý.
Về phía Bộ NN-MT, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng hệ thống tiêu chí xác định dự án xanh, dự án kinh tế tuần hoàn và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường - xã hội - quản trị (ESG). Hiện Bộ đang xây dựng dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhằm hướng dẫn xác định các tiêu chí này, tạo cơ sở để các tổ chức tín dụng, ngân hàng và doanh nghiệp thống nhất trong việc đánh giá, thẩm định và tiếp cận nguồn vốn xanh. Đồng thời, các tiêu chí cũng sẽ được tích hợp trong quá trình cấp giấy phép môi trường, góp phần tạo sự đồng bộ giữa quản lý môi trường và chính sách tín dụng xanh.
Bên cạnh các giải pháp về tài chính, chuyển đổi số, đổi mới công nghệ và nâng cao nhận thức cộng đồng, TS Nguyễn Thành Lam đề nghị cần đặc biệt quan tâm đến việc phát triển thị trường cho kinh tế tuần hoàn. "Đối với Việt Nam, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng rất lớn nhưng cũng là nhóm gặp nhiều khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn vốn xanh cũng như đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường. Vì vậy, cần có những chính sách mạnh mẽ hơn để khơi thông dòng vốn xanh cho khu vực này", TS Nguyễn Thành Lam kiến nghị và cho rằng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị. Khác với các tập đoàn lớn có thể xây dựng mô hình sản xuất khép kín, doanh nghiệp nhỏ cần hợp tác với nhau để chia sẻ nguyên liệu, công nghệ và thị trường, từ đó hình thành các chuỗi giá trị tuần hoàn. Mục tiêu là xây dựng các hệ sinh thái kinh tế tuần hoàn theo ngành, theo vùng và theo cụm sản xuất. Nếu thiếu sự liên kết này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ rất khó tham gia sâu vào quá trình chuyển đổi xanh.
Một đề xuất đáng quan tâm là nghiên cứu xây dựng sàn giao dịch nguyên liệu, vật liệu, công nghệ và sản phẩm phục vụ kinh tế tuần hoàn, thay vì chỉ tập trung vào sàn giao dịch tín chỉ carbon. Sàn giao dịch này sẽ giúp kết nối các doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu thứ cấp với các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng, để chất thải của doanh nghiệp này trở thành đầu vào cho doanh nghiệp khác. Qua đó, thị trường nguyên liệu tái chế sẽ được mở rộng, hiệu quả sử dụng tài nguyên được nâng cao và kinh tế tuần hoàn sẽ phát triển mạnh mẽ hơn. Ví dụ, nhiều doanh nghiệp lớn hiện đã xử lý chất thải để tạo ra nguyên liệu phục vụ sản xuất phân bón hữu cơ hoặc các ngành công nghiệp khác. Tuy nhiên, việc kết nối cung - cầu còn hạn chế. Nếu có một nền tảng giao dịch chung, các nguồn nguyên liệu này sẽ được phân phối hiệu quả hơn và mang lại giá trị kinh tế cao hơn.
Thuế tỉnh Bắc Ninh vừa thông báo tới người nộp thuế về việc xác thực sinh trắc học khi đăng ký, thay đổi thông tin sử dụng hóa đơn điện tử.
Ngày 14.5, Cục Thuế (Bộ Tài chính) đã hoàn thành nâng cấp hệ thống hóa đơn điện tử phiên bản v1.0 nhằm đáp ứng yêu cầu xác thực sinh trắc học, góp phần nâng cao an toàn và bảo mật trong sử dụng hóa đơn điện tử.
Từ ngày 15.5, người đại diện theo pháp luật phải thực hiện xác thực sinh trắc học trong các trường hợp: đăng ký mới sử dụng hóa đơn điện tử; thay đổi thông tin đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có liên quan đến người đại diện theo pháp luật như họ và tên, số căn cước công dân, ngày sinh.
Điều kiện thực hiện là: người đại diện theo pháp luật đã có tài khoản VNeID mức độ 2; đã cài đặt ứng dụng eTax Mobile để thực hiện xác thực sinh trắc học.
Đối với các trường hợp thay đổi thông tin sử dụng hóa đơn điện tử không liên quan đến người đại diện theo pháp luật, hệ thống tiếp tục xác thực bằng mã OTP.
Để thực hiện xác thực sinh trắc học, người đại diện theo pháp luật, chủ hộ kinh doanh thực hiện 2 bước như sau: cài đặt và đăng nhập ứng dụng eTax Mobile; truy cập mục "Tra cứu hồ sơ đã gửi" và thực hiện xác thực sinh trắc học theo hướng dẫn.
Trường hợp quá 1 ngày kể từ thời điểm gửi hồ sơ mà chưa thực hiện xác thực sinh trắc học, hồ sơ đăng ký, thay đổi thông tin sẽ bị cơ quan thuế từ chối theo quy định.
"Để tránh phát sinh chậm trễ trong quá trình xuất hóa đơn, cần chủ động thực hiện xác thực sinh trắc học khi gia hạn chữ ký số và đăng ký, thay đổi thông tin sử dụng hóa đơn điện tử trong thời gian sớm nhất", Thuế tỉnh Bắc Ninh lưu ý.
Trao đổi với Thanh Niên, ông Nguyễn Văn Thức, Chủ tịch Công ty TNHH tư vấn thuế BCTC, đánh giá yêu cầu thực hiện xác thực sinh trắc học như trên là hướng quản lý khá tích cực nhằm kiểm soát người đứng đầu, phải là người đại diện thật sự của doanh nghiệp, tổ chức thì mới được xuất hóa đơn điện tử. Điều này sẽ giúp ngăn chặn hiệu quả tình trạng gian lận hóa đơn.