Hôm 15/5, một đoàn ôtô hơn 10 chiếc cùng xe môtô phân khối lớn tiến vào làng Nong Phai, huyện Mueang, tỉnh Chaiyaphum. Bà Yupin Thadthai dẫn đầu đoàn rước dâu, trực tiếp chủ trì lễ cưới và mang sính lễ gồm 300.000 baht (khoảng 200 triệu đồng) cùng hai lượng vàng đến hỏi cô Onuma Janpeng làm vợ thứ hai cho chồng.
Bà Yupin và ông Wisanu Prangchaiyaphum đã chung sống hơn 20 năm, có một con. Họ kinh doanh thiết bị âm thanh và sở hữu một số tụ điểm giải trí.
Bà Yupin nói đã quen biết cô Onuma hơn 10 năm. Cả hai đều lớn lên trong hoàn cảnh thiếu thốn tình cảm. Bà đích thân làm chủ hôn để hợp thức hóa mối quan hệ, trao cho Onuma danh phận trước cộng đồng. “Gia đình thống nhất tổ chức hôn lễ công khai để tránh điều tiếng hay thiệt thòi cho người mới”, bà Yupin nói.
Ông Wisanu cho biết gia đình ba người sẽ sống với nhau lâu dài, tài sản và tình cảm được chia đều. “Cơ ngơi này do chúng tôi cùng nhau gây dựng. Bí quyết chỉ là trao cho họ tình yêu và sự công bằng”, ông nói.
Luật pháp Thái Lan bãi bỏ chế độ đa thê từ năm 1935 và chỉ công nhận hôn nhân một vợ một chồng. Bất kỳ cuộc kết hôn nào sau đó đều không có giá trị pháp lý. Dù vậy, việc có “vợ bé” vẫn thỉnh thoảng tồn tại qua các lễ nghi truyền thống. Trường hợp cô Onuma cũng chỉ được công nhận danh phận trong nội bộ gia đình, không được pháp luật bảo vệ quyền lợi.
Hình ảnh vợ cả dẫn đầu đoàn rước dâu lan truyền trên mạng xã hội Thái Lan. Một số người xem đây là chuyện khó tin, trong khi số khác ủng hộ sự cởi mở và thấu hiểu của gia đình ông Wisanu.
Tin Gốc: Vnexpress

Giữa tháng 4, những tia nắng bắt đầu làm ấm mặt đất và không khí báo hiệu mùa đông ở Ladakh sắp kết thúc. Dù vậy, sau một đêm đóng băng, nước trong đường ống ở nhà hàng của chị Thảo mới bắt đầu tan chảy. Người phụ nữ 38 tuổi cùng bốn nhân viên đứng cạnh đống chén bát, chờ từng giọt nước nhỏ xuống bồn rửa. Đến gần trưa, khi nhiệt độ tăng lên, nước mới chảy thành dòng.
Đây là khó khăn quen thuộc mà chị đối mặt trong ba năm Thái Thảo mở nhà hàng Việt ở Ladakh.
Chị Thảo là bà chủ ba homestay ở phường Sài Gòn, TP HCM. Năm 2018, chị lần đầu đến Ladakh, vùng đất nằm giữa hai dãy Himalaya và Karakoram, có độ cao trung bình hơn 3.500 m so với mực nước biển. Địa hình đặc thù khiến nơi này có khí hậu khắc nghiệt, mùa đông kéo dài từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau với nhiệt độ có thể xuống âm 30 độ C.
Tuy nhiên, những dãy núi đá nhiều màu, hồ nước mặn và các tu viện cổ nằm giữa thung lũng phủ tuyết đã cuốn hút Thảo. Sự yên tĩnh của Ladakh khiến chị quay lại nơi này nhiều lần.
Trong những chuyến đi tour, chị nhận thấy nhiều du khách châu Á khó thích nghi với đồ ăn địa phương. Ẩm thực Ladakh đơn giản, người dân chủ yếu ăn các món đậu hầm nêm nhiều gia vị, dùng kèm bánh làm từ lúa mạch hoặc bột mì. Một lần mời người bản địa ăn thử bánh mì Việt Nam, Thảo bất ngờ khi họ tỏ ra thích thú. Ý định mở một nhà hàng Việt tại đây bắt đầu hình thành.
Năm 2022, chị Thảo quay lại Ladakh để thuê khu đất trống rộng khoảng 800 m2 ở trung tâm Leh, cách khu chợ khoảng 10 phút đi bộ. Khu đất có phía sau nhìn ra núi tuyết, phía trước là tuyến đường tập trung nhiều khách sạn và cửa hàng lưu niệm.
Quá trình xây dựng nhà hàng khó khăn hơn nhiều so với tưởng tượng của chị. Ở Ladakh gần như không có dịch vụ thi công trọn gói nên chị phải tự lo mọi khâu, từ mua gỗ, tìm xưởng cưa, thuê thợ đóng bàn ghế đến liên hệ người chở cát, đá và bê tông. Vật liệu khan hiếm, thợ làm theo từng công đoạn khiến một hạng mục nhỏ cũng mất vài ngày mới xong.
Làm việc quá sức giữa thời tiết khắc nghiệt, chị Thảo bị sốc độ cao nặng, phải nhập viện cấp cứu. Ở độ cao hơn 3.500 m, lượng oxy tại Ladakh thấp hơn đồng bằng khoảng 35%, dễ gây đau đầu và mất sức.
Cuối năm 2022, nhà hàng tên Sài Gòn BBQ and Hotpot in Ladakh hoàn thiện với sức chứa khoảng 60 khách, có cả không gian trong nhà và ngoài sân.
Xây xong nhà hàng, Thảo tiếp tục phải giải bài toán nguyên liệu. Mỗi bó rau hay miếng thịt ở Ladakh đều phải vượt núi, trải qua nhiều chặng bay và mất nhiều ngày mới tới nơi. Nhà hàng phục vụ khoảng 20 món Việt như phở, cơm, gỏi cuốn, lẩu, các món kho và canh. Để có đủ nguyên liệu, chị Thảo tự mang các loại gia vị, bánh tráng, nấm khô và mắm ruốc từ Việt Nam sang Ladakh. Thịt bò, thịt heo cùng sả, ớt Thái, nấm, xà lách và bắp tiếp tục được vận chuyển bằng đường hàng không từ Delhi lên.
Thực tế vận hành khó khăn hơn chị tính toán khi những chuyến bay liên tục bị hủy vì thời tiết xấu. Có lần, bão tuyết khiến chuyến hàng chở rau từ Delhi bị hoãn. Nhà hàng không còn đồ dự trữ, khi hàng đến nơi nhiều thứ đã hư hỏng. Xót tiền và công sức, chị Thảo ngồi giữa sân sau nhà hàng, mở từng thùng thực phẩm đang rã đông cố lựa lại những phần còn dùng được để vớt vát.
"Lúc đó tôi bế tắc và nghĩ đến chuyện bỏ cuộc", chị nói.
Nhưng vài ngày sau, một nhóm du khách Indonesia ghé quán ăn. Họ liên tục khen ngợi hương vị món Việt và hứa sẽ đến Việt Nam du lịch trong thời gian tới. Lời động viên bất ngờ giúp chị Thảo nguôi ngoai, tự an ủi bản thân và quyết định "cho mình thêm một cơ hội".
Đến khoảng tháng 5/2023, khi thời tiết ấm dần, chị thuê phụ nữ ở các làng gần đó trồng rau hữu cơ như cải bó xôi, cà rốt, khoai tây và bông cải giao cho nhà hàng mỗi sáng. Nhờ đó, nguồn cung nguyên liệu dần ổn định.
Dù vậy, nhà hàng của chị Thảo cũng chỉ mở cửa khoảng 6 đến 7 tháng, thường từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 11. Vào giữa mùa đông Ladakh, chị đóng cửa về Việt Nam vì thời tiết khắc nghiệt, khách thưa và hệ thống nước thường xuyên đóng băng.
Dù vận hành theo mùa, chi phí đầu vào cao, lợi nhuận không như kỳ vọng nhưng sự đón nhận của khách với ẩm thực Việt là niềm vui lớn, động viên Thảo.
Trong số khách quen có anh Nurbo, 37 tuổi, sống ở làng Uley cách khoảng 80 km. Anh tình cờ biết đến nhà hàng nhưng sau lần ghé đầu tiên đã "mê mẩn" đồ ăn Việt và quay lại đều đặn suốt 3 năm. Anh nói ẩm thực Việt với các món như phở gà, chả giò, gỏi cuốn và lẩu có vị mặn, ngọt, cay hài hòa, khác với khẩu vị Ladakh vốn thiên về vị cay đơn thuần.
Từ khách, anh trở thành người bạn và chứng kiến quá trình chị Thảo xây dựng nhà hàng. Anh kể chị luôn cố gắng giữ hương vị nguyên bản của món Việt, trong đó có nước mắm đặc trưng và nước dùng thanh. Ban đầu, nhiều người thấy lạ, nhưng dần quen với cách nêm nếm này. Anh cũng cho biết với một số khách Ấn Độ, khẩu vị quen vị ngọt hơn nên việc điều chỉnh nhẹ trong món ăn giúp họ dễ tiếp nhận hơn.
Ở Ladakh, phần lớn khách là người trekking đường dài, bữa ăn thường chỉ xoay quanh sandwich hoặc đậu hầm để nhanh lấy lại sức. Khi nhà hàng Việt xuất hiện, thói quen đó thay đổi. Bữa ăn không vội vã mà trở thành khoảng thời gian ngồi lại, ví dụ như món lẩu.
"Cách ăn của người Việt khiến bữa ăn trở nên gắn kết hơn", anh nói.
Tin Gốc: Vnexpress

Năm 2020, thông qua sự sắp đặt của gia đình, Priya (38 tuổi) kết hôn với một người đàn ông đồng tính xuất thân từ dòng họ coi trọng danh tiếng ở Meerut. Sau đám cưới, họ chuyển đến California (Mỹ).
Trong 6 năm hôn nhân, Priya được chồng ủng hộ mở doanh nghiệp riêng. Tuy nhiên, bi kịch xảy ra khi chồng cô thông báo rời đi để sống cùng người yêu đồng giới. Đối diện hôn nhân đổ vỡ, Priya đồng thời chịu sức ép từ gia đình chồng tại Ấn Độ về việc sinh con. Khi cô đề xuất nhận con nuôi, anh từ chối và nhắc lại thỏa thuận ban đầu là không có con.
Trở lại Delhi, Priya nộp đơn kiện. Cô cho biết đang phải theo đuổi cuộc chiến pháp lý đơn độc do hệ thống tố tụng chưa cập nhật các dạng tranh chấp hôn nhân này. Cô cũng gặp áp lực vì việc công khai giới tính của chồng sẽ ảnh hưởng đến gia tộc ở quê nhà.
Tại Ấn Độ, lập gia đình trước tuổi 30 là chuẩn mực xã hội. Nhằm tránh định kiến, nhiều người thuộc cộng đồng LGBTQ chọn "hôn nhân oải hương" (thuật ngữ từ đầu thế kỷ 20 chỉ các cuộc hôn nhân vỏ bọc, có ít nhất một người đồng tính). Đây là thỏa thuận ngầm nhằm duy trì hình ảnh truyền thống.
Báo cáo của Human Rights Watch chỉ ra các cuộc hôn nhân vỏ bọc thường gây khủng hoảng tâm lý do người trong cuộc phải duy trì cuộc sống giả tạo. Khảo sát của Tổ chức phi chính phủ quốc tế LGBTQ+ cho thấy 70% người LGBTQ+ tại Ấn Độ vẫn giấu xu hướng tính dục với gia đình. Tạp chí y khoa The Lancet cũng ghi nhận tỷ lệ trầm cảm và ý định tự tử ở nhóm sống trong hôn nhân bình phong cao gấp ba lần nhóm được sống đúng với bản dạng giới.
Bà Mimansa Singh Tanwar, chuyên gia tâm lý tại Fortis Healthcare, cho biết mô hình này chỉ duy trì được khi hai bên tự nguyện và có mục tiêu chung như nuôi con hoặc giữ hình ảnh xã hội. Theo bà, nhiều người chọn cách này để hòa nhập trước áp lực gia đình.
Dù vậy, bà Tanwar nói những người này thường kiệt sức, lo âu, giảm tự tin và khó duy trì các mối quan hệ thực tế bên ngoài. Khi kéo dài, việc kìm nén bản dạng giới tạo ra căng thẳng tâm lý liên tục.
Rohan, 41 tuổi, và vợ đều là người LGBTQ+, bước vào hôn nhân dựa trên sự đồng thuận. Anh cho biết cả hai đã tính toán kỹ về tài chính và cảm xúc. Nhưng sau 10 năm, vợ anh đề nghị chấm dứt vì mệt mỏi khi phải chăm sóc gia đình chồng và sống cuộc đời không thuộc về mình.
Trong cộng đồng người Gujarati bảo thủ, ly thân không tồn tại nên ly hôn là điều càng khó chấp nhận. Sau khi tham vấn luật sư, Rohan đồng ý rời đi với một khoản bồi thường. Anh nói việc mình là người đồng tính đã ảnh hưởng đến người em gái chưa lập gia đình.
"Hôn nhân đã chấm dứt nhưng những lời đàm tiếu vẫn còn", anh nói.
Tin Gốc: Vnexpress
Gia Đình
Loài vật quý hiếm bậc nhất hành tinh, cả thế giới chỉ còn hơn 250 cá thể

Vẹt Kakapo (Strigops habroptilus) là loài vẹt lớn, không biết bay, hoạt động về đêm, có bộ lông màu xanh lục và vàng lốm đốm, chỉ sinh sản 2 đến 4 năm một lần.
Loài vẹt đêm quý hiếm nhất thế giới này đã trở nên cực kỳ nguy cấp vào giữa những năm 1900 do sự bành trướng của con người trên khắp New Zealand.
Công tác quản lý chuyên sâu đã giúp tăng số lượng Kakapo từ chỉ 51 cá thể trong 30 năm qua, nhưng hiện nay chỉ còn 236 con Kakapo sống trong tự nhiên, bao gồm 83 con mái sinh sản. Tất cả chúng đều đeo thiết bị phát tín hiệu vô tuyến trên lưng để theo dõi vị trí và hoạt động. Hầu hết Kakapo mái nuôi một con non mỗi mùa sinh sản.
Theo thông báo, mùa sinh sản năm 2026 có thể cho ra đời số lượng chim non nhiều nhất kể từ khi bắt đầu ghi nhận cách đây 30 năm.
"Việc mùa sinh sản chính thức bắt đầu luôn rất thú vị, nhưng năm nay cảm giác được mong chờ hơn bao giờ hết sau một khoảng thời gian dài kể từ mùa sinh sản cuối cùng vào năm 2022," bà Deidre Vercoe, quản lý chương trình phục hồi Kakapo của Cơ quan Bảo tồn New Zealand (DOC), cho biết.
Chương trình phục hồi Kakapo được DOC phối hợp với bộ tộc bản địa Maori Ngai Tahu khởi động từ năm 1995, khi quần thể Kakapo chỉ còn 51 cá thể và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Đến năm 2022, số lượng đã phục hồi lên 252 con, song trong bốn năm qua đã có 16 cá thể chết.
Mùa sinh sản hiện tại là lần thứ 13 trong vòng 30 năm, bởi Kakapo chỉ sinh sản theo chu kỳ từ 2 đến 4 năm.
"Kakapo vẫn đang trong tình trạng cực kỳ nguy cấp, nên chúng tôi sẽ tiếp tục nỗ lực để gia tăng số lượng. Tuy nhiên thành công không chỉ được đo bằng số chim non nở ra, mà là xây dựng được những quần thể khỏe mạnh, tự duy trì và thực sự phát triển, chứ không chỉ tồn tại" - bà Vercoe nói.
Về lâu dài, các nhà bảo tồn đặt mục tiêu giảm dần sự can thiệp chuyên sâu của con người để Kakapo có thể quay về trạng thái sinh tồn tự nhiên hơn.
Ông Tane Davis, đại diện bộ tộc Ngai Tahu tham gia chương trình, bày tỏ hy vọng một ngày nào đó Kakapo sẽ có thể sinh sôi rộng khắp đảo Nam của New Zealand.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

