Khai thác bệnh sử, bệnh nhân cho biết các triệu chứng xuất hiện khoảng 1 tháng trước khi nhập viện và không cải thiện dù đã điều trị trước đó. Người bệnh cũng từng sử dụng thuốc giảm đau trong thời gian dài, dẫn đến nhiều rối loạn nội tiết như hội chứng Cushing do thuốc, rối loạn điện giải và tăng đường huyết.
Ngày 20.5, bác sĩ chuyên khoa 2 Cao Minh Thông, Khoa Tim mạch, Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn, cho biết qua thăm khám và xét nghiệm, kết quả chụp MSCT ngực xác định nguyên nhân là thoát vị hoành trái, tình trạng các tạng trong ổ bụng di chuyển lên lồng ngực thông qua một khiếm khuyết ở cơ hoành. Trường hợp này có thể liên quan đến yếu tố bẩm sinh kết hợp với áp lực ổ bụng tăng cao sau đợt ho mạnh trước đó. Khi xảy ra thoát vị, các cơ quan trong ổ bụng bị đẩy lên lồng ngực gây chèn ép, xẹp hoàn toàn phổi trái, từ đó dẫn đến triệu chứng khó thở, đặc biệt rõ khi người bệnh nằm.
Người bệnh được phẫu thuật chủ động bằng phương pháp giải phóng túi thoát vị, đưa các tạng trở lại ổ bụng đúng vị trí và tái tạo lại cơ hoành. Song song đó, các biện pháp điều trị nội khoa, vật lí trị liệu, hô hấp, dinh dưỡng giúp người bệnh phục hồi nhanh chóng.
“Trường hợp này cho thấy thoát vị hoành chiếm gần toàn bộ lồng ngực trái là bệnh lý hiếm gặp, có thể biểu hiện bằng những triệu chứng hô hấp không điển hình và dễ bị bỏ sót nếu không thăm khám kỹ lưỡng. Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, bệnh có thể dẫn đến suy hô hấp hoặc các biến chứng nguy hiểm. Việc nhận diện các yếu tố nguy cơ như tiền sử ho kéo dài, bất thường bẩm sinh hay sử dụng thuốc kéo dài đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán”, bác sĩ Thông chia sẻ.
Bác sĩ Thông khuyến cáo việc thăm khám định kỳ và sử dụng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh hiện đại có thể giúp phát hiện sớm bệnh lý, từ đó có kế hoạch điều trị kịp thời và hiệu quả. Đây cũng là lời cảnh báo không nên xem nhẹ những triệu chứng thường gặp trong đời sống nhưng kéo dài và không thuyên giảm, gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống.
Tôi 52 tuổi, gần đây thường đau âm ỉ vùng thượng vị, ăn nhanh no và sụt khoảng 5kg trong 2 tháng. Khi đi nội soi, bác sĩ phát hiện có khối u ở dạ dày. Kết quả sinh thiết nghi ngờ ung thư.
Xin hỏi bác sĩ, với trường hợp như tôi, cần làm thêm những xét nghiệm gì để xác định giai đoạn bệnh và lựa chọn hướng điều trị phù hợp?
(Thành Đông - Hà Nội)
ThS.BS Nguyễn Thế Phương, Trung tâm Tiêu hóa - Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai trả lời:
Khi nội soi phát hiện tổn thương nghi ngờ ung thư dạ dày và sinh thiết đã có kết quả giải phẫu bệnh, bước tiếp theo rất quan trọng là đánh giá giai đoạn bệnh. Việc này giúp bác sĩ xác định khối u còn ở giai đoạn sớm hay đã xâm lấn sâu, có di căn hạch hoặc lan sang cơ quan khác hay chưa.
Với ung thư dạ dày giai đoạn rất sớm, khi tổn thương còn khu trú ở lớp niêm mạc, người bệnh có thể được cân nhắc điều trị bằng can thiệp qua nội soi. Một trong những kỹ thuật được áp dụng là cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi, giúp loại bỏ tổn thương mà chưa cần phẫu thuật lớn.
Tuy nhiên, nếu khối u đã lan xuống lớp dưới niêm mạc hoặc xâm lấn sâu hơn vào thành dạ dày, điều trị qua nội soi có thể không còn đảm bảo loại bỏ hoàn toàn tổn thương. Khi đó, phẫu thuật thường là phương án được ưu tiên.
Trong trường hợp bệnh đã tiến triển sâu hơn, xuất hiện hạch di căn hoặc dấu hiệu lan rộng, người bệnh có thể cần phối hợp nhiều phương pháp điều trị như phẫu thuật, hóa trị hoặc xạ trị, tùy theo giai đoạn và thể trạng cụ thể.
Để đánh giá đầy đủ, người bệnh thường cần làm thêm các thăm dò cận lâm sàng như chụp cắt lớp vi tính ổ bụng nhằm đánh giá mức độ lan rộng của khối u, tình trạng hạch và các cơ quan lân cận. Ngoài ra, siêu âm nội soi cũng là phương pháp quan trọng giúp xác định mức độ xâm lấn của khối u vào các lớp của thành dạ dày.
Ngày 9/7, BS.CK2 Lê Thanh Lâm, Khoa Phẫu thuật Đầu Cổ, Bệnh viện Tai Mũi Họng TP HCM, cho biết niêm mạc của bệnh nhân sung huyết, nội soi và chụp CT cho thấy viêm phù nề sụn phễu thanh nhiệt. Bệnh nhân điều trị bằng thuốc kháng sinh, kháng viêm và giảm đau nhằm hạn chế bội nhiễm, chống phù nề đường thở.
Theo bác sĩ Lâm, tổn thương nhiệt ở khoang miệng, hầu họng do thức ăn hoặc đồ uống quá nóng là tình trạng khá phổ biến, thường xảy ra khi ăn uống quá nhanh ngay sau khi thức ăn vừa chế biến. Mức độ tổn thương phụ thuộc vào nhiệt độ và thời gian tiếp xúc của thức ăn với niêm mạc.
Trường hợp nhẹ có thể chỉ gây đau rát và viêm niêm mạc. Tổn thương sâu, người bệnh có thể bị phù nề thanh quản, loét niêm mạc, tăng nguy cơ khó thở. Nặng hơn, bỏng có thể để lại sẹo gây hẹp đường thở.
Bác sĩ khuyến cáo không nên ăn hoặc uống ngay khi thức ăn còn quá nóng. Trước khi sử dụng, cần kiểm tra nhiệt độ để tránh gây bỏng niêm mạc miệng và họng. Sau khi ăn hoặc uống đồ nóng xuất hiện các dấu hiệu như khó thở, thở rít, đau họng tăng dần, sốt cao, nuốt khó, vùng họng có vết loét lớn, sưng đỏ, chảy máu hoặc mưng mủ - cần đến bệnh viện khám và điều trị.
Tại Bệnh viện Quốc tế City, qua thăm khám và thực hiện các cận lâm sàng chuyên sâu, các bác sĩ xác định nguyên nhân của tình trạng khó thở tái diễn là do bệnh cảnh tim - thận phức tạp. Bao gồm hẹp nặng động mạch thận 2 bên gây suy thận mạn giai đoạn 4, suy tim nặng với tình trạng tắc nghẽn 3 nhánh động mạch vành.
Đây được đánh giá là 1 ca bệnh đặc biệt nguy hiểm với nguy cơ diễn tiến suy tim cấp, tổn thương thận không hồi phục và đe dọa tính mạng nếu không được xử trí kịp thời. Ngay khi tiếp nhận, ê kíp Khoa Tim mạch Can thiệp đã nhanh chóng hội chẩn, triển khai chiến lược điều trị chuyên sâu bằng các kỹ thuật tim mạch hiện đại.
Bác sĩ chuyên khoa 1 Lê Văn Tuyến, Khoa Tim mạch Can thiệp, Bệnh viện Quốc tế City, cho biết nguyên nhân chính gây nên những cơn phù phổi cấp là tình trạng suy tim nặng do hẹp 3 nhánh mạch vành kết hợp hẹp động mạch thận 2 bên, dẫn đến các cơn tăng huyết áp gây tình trạng khó thở liên tục.
Đáng chú ý, bệnh nhân từng được phẫu thuật bắc cầu động mạch vành cách đây 12 năm, tuy nhiên hiện toàn bộ các cầu nối đã tắc hoàn toàn. Thách thức lớn nhất của ca bệnh nằm ở việc người bệnh có chức năng thận suy giảm nghiêm trọng, độ lọc cầu thận rất thấp. Nếu sử dụng thuốc cản quang theo phương pháp thông thường sẽ làm tăng nguy cơ suy thận tiến triển, thậm chí có thể dẫn đến chạy thận nhân tạo.
Trước tình huống phức tạp này, các bác sĩ Khoa Tim mạch Can thiệp đã ứng dụng kỹ thuật chụp mạch bằng khí CO₂ thay thế thuốc cản quang - một phương pháp can thiệp hiện đại giúp loại bỏ nguy cơ tổn thương thận nhưng vẫn đảm bảo độ chính xác cao trong quá trình tái thông động mạch thận. Đồng thời sau đó các bác sĩ tiến hành tái thông nhánh động mạch vành tắc nghẽn mạn tính bằng kỹ thuật can thiệp xuôi dòng kết hợp ngược dòng dưới hướng dẫn IVUS để hạn chế tối đa lượng cản quang sử dụng.
Nhờ sự phối hợp nhịp nhàng, xử trí nhanh chóng cùng chuyên môn sâu của đội ngũ bác sĩ, ca can thiệp đã diễn ra thành công. Sau điều trị, tình trạng khó thở của bệnh nhân cải thiện rõ rệt, huyết động ổn định, chức năng vận động phục hồi tích cực và người bệnh được xuất viện trong niềm vui, sự xúc động của gia đình.