Tại hội nghị Thành ủy TP.HCM lần thứ 5, Bí thư Thành ủy TP.HCM Trần Lưu Quang chia sẻ tin vui: Bộ Chính trị cho phép TP.HCM rà soát lại nghị quyết 31 về cơ chế phát triển TP.HCM từ năm 2022 đến nay, xây dựng nghị quyết mới của Bộ Chính trị về cơ chế của TP.HCM trong tầm vóc mới. Theo ông Quang, TP.HCM sẽ đề xuất để được xây dựng Luật Đô thị đặc biệt.
Trao đổi với Tuổi Trẻ về vấn đề này, ông Phạm Phú Ngọc Trai – Chủ tịch Hội đồng cố vấn chiến lược đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia TP.HCM – nhìn nhận: “Việc Bộ Chính trị cho phép TP.HCM rà soát nghị quyết 31 và xây dựng một nghị quyết mới, đồng thời mở ra hướng đi mang tính bước ngoặt để TP.HCM đề xuất xây dựng Luật Đô thị đặc biệt, một nền tảng thể chế đủ tầm cho giai đoạn phát triển mới”.
* Thưa ông, việc Bộ Chính trị cho phép TP.HCM rà soát lại nghị quyết 31 từ năm 2022 đến nay, theo ông, ý nghĩa lớn nhất là gì?
– Việc rà soát nghị quyết 31 không đơn thuần là một bước kỹ thuật mà phản ánh một nhận thức mới rất quan trọng, những điểm nghẽn phát triển của TP.HCM đã đi đến giới hạn mà các cơ chế nghị quyết đơn lẻ không còn đủ sức giải quyết.
Trong nhiều năm qua, chúng ta đã sử dụng khá hiệu quả các nghị quyết đặc thù để mở khóa từng phần. Tuy nhiên bản chất của nghị quyết vẫn là thí điểm, có thời hạn, phạm vi giới hạn và thường phải đi kèm với cơ chế xin – cho ở nhiều khâu. Điều đó dẫn đến tình trạng phân mảnh thể chế, thiếu tính ổn định và khó tạo niềm tin dài hạn cho nhà đầu tư.
Việc Bộ Chính trị cho phép rà soát lại toàn diện nghị quyết 31 chính là cơ hội để nhìn lại một cách căn cơ rằng những gì đã làm được, những gì chưa đạt và quan trọng hơn là nhận diện đúng bản chất vấn đề, đó là bài toán thể chế. Khi đã xác định đúng “gốc rễ” thì giải pháp cũng phải ở tầm tương xứng, tức là một đạo luật.
* Như vậy, theo ông, vì sao TP.HCM không thể tiếp tục đi theo hướng các nghị quyết đặc thù mà phải chuyển sang xây dựng luật?
– Có một thực tế rất rõ là nghị quyết chỉ trao quyền một phần, trong khi các vấn đề của TP.HCM lại mang tính hệ thống và liên ngành. Ví dụ như tài chính đô thị, quản lý đất đai, phát triển hạ tầng hay các mô hình mới như trung tâm tài chính quốc tế… tất cả đều liên quan đến nhiều luật hiện hành.
Nếu chỉ xử lý bằng nghị quyết thì mỗi lần vướng lại phải xin ý kiến, mất rất nhiều thời gian và cơ hội. Trong khi đó, nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư quốc tế họ cần một môi trường ổn định, có thể dự báo được trong dài hạn.
* Ông nhiều lần nhấn mạnh rằng Luật Đô thị đặc biệt không chỉ để tháo gỡ điểm nghẽn mà phải mang tính “thiết kế lại” thể chế. Cụ thể điều này nên được hiểu như thế nào?
– Nếu chỉ nhìn luật như một công cụ để xử lý các vướng mắc hiện tại thì chúng ta sẽ lại rơi vào tư duy ngắn hạn. Điều quan trọng hơn là phải đặt câu hỏi TP.HCM sẽ là gì trong 10, 20 hay 30 năm tới?
Hiện nay TP.HCM không còn là một đô thị theo nghĩa hành chính đơn thuần. TP đã và đang là trung tâm kinh tế, tài chính, đổi mới sáng tạo, cửa ngõ hội nhập quốc tế của cả nước. Nhưng khung thể chế hiện tại vẫn được thiết kế theo logic quản lý đô thị truyền thống, chưa theo kịp thực tiễn phát triển.
* Vậy theo ông, cấu trúc của đạo luật này cần tập trung vào những trụ cột nào để tạo ra sự khác biệt thực chất?
– Có thể hình dung luật này được xây dựng trên bốn trụ cột lớn.
Thứ nhất là giải quyết các điểm nghẽn cốt lõi, đặc biệt về phân cấp – phân quyền, huy động nguồn lực và triển khai các dự án động lực. TP.HCM phải có quyền thực chất, không chỉ trên giấy tờ, để có thể ra quyết định nhanh và chịu trách nhiệm.
Thứ hai là bám sát tầm nhìn dài hạn. Luật không chỉ phục vụ giai đoạn 5-10 năm mà phải mở đường cho TP.HCM trở thành trung tâm kinh tế – tài chính của khu vực. Điều này đòi hỏi một khung thể chế đủ linh hoạt để thích ứng với những thay đổi nhanh của kinh tế toàn cầu.
Thứ ba là tạo không gian cho các động lực mới như chuyển đổi số, kinh tế xanh, đổi mới sáng tạo, trung tâm tài chính quốc tế. Đây là những lĩnh vực nếu không được luật hóa đầy đủ thì sẽ rất khó triển khai trên thực tế.
Thứ tư là bảo đảm tính khả thi và an toàn thể chế, tức là vừa đổi mới mạnh mẽ vừa nằm trong khuôn khổ chung của quốc gia. Điều này có thể học hỏi từ kinh nghiệm sửa đổi Luật Thủ đô, cũng như tham chiếu các mô hình quốc tế như Thượng Hải, Singapore hay Tokyo.
Quan trọng hơn, luật phải chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển. Nghĩa là không chỉ kiểm soát mà phải mở đường, tạo điều kiện và trao quyền để TP.HCM phát huy tối đa tiềm năng của mình.
* Một điểm ông nhấn mạnh là Luật Đô thị đặc biệt phải gắn với liên kết vùng. Vì sao đây lại là yếu tố then chốt?
– Bởi vì TP.HCM không thể phát triển trong một không gian đã quá hạn chế. Nếu chỉ nhìn TP như một đơn vị hành chính riêng lẻ thì sẽ không giải được bài toán tăng trưởng dài hạn.
Hiện nay vùng Đông Nam Bộ chiếm gần 40% GDP cả nước, đồng thời có mối liên kết chặt chẽ với Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là một không gian kinh tế rất lớn nhưng lại thiếu một cơ chế điều phối đủ mạnh. Liên kết vùng chủ yếu vẫn mang tính hợp tác, chưa được thể chế hóa như một chiến lược rõ ràng nên hiệu quả chưa cao.
Trong khi đó, nếu hạ tầng kết nối không tốt, nguồn lực phân bổ không hợp lý thì không chỉ TP.HCM bị hạn chế mà cả vùng cũng bị kìm hãm.
Ví dụ, Đồng bằng sông Cửu Long có vai trò rất quan trọng về an ninh lương thực và xuất khẩu nhưng nếu không kết nối hiệu quả với TP.HCM thì chi phí sẽ cao và cơ hội phát triển bị giảm. Vì vậy liên kết vùng phải được đưa vào luật như một trụ cột. Không nên nhìn đây là vấn đề hành chính mà là chiến lược phát triển kinh tế quốc gia.
* Nếu nhìn về dài hạn đến 2045, ông kỳ vọng Luật Đô thị đặc biệt sẽ tạo ra sự thay đổi như thế nào cho TP.HCM?
– Tôi cho rằng nếu được thiết kế đúng và triển khai hiệu quả, luật này sẽ tạo ra một bước ngoặt thực sự.
Thứ nhất, TP.HCM sẽ có một nền tảng thể chế ổn định và đủ mạnh để thu hút đầu tư dài hạn, đặc biệt là trong các lĩnh vực chiến lược như tài chính, công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Thứ hai, TP sẽ chuyển từ vai trò đầu tàu kinh tế theo nghĩa truyền thống sang vai trò trung tâm điều phối phát triển vùng, có khả năng dẫn dắt và lan tỏa.
Thứ ba, người dân sẽ được hưởng lợi từ một môi trường sống tốt hơn với hạ tầng đồng bộ, dịch vụ chất lượng cao và cơ hội phát triển rộng mở hơn.
Và quan trọng nhất, đây không chỉ là câu chuyện của TP.HCM mà là câu chuyện của cả quốc gia. Nếu TP.HCM phát triển đúng tầm thì sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu đang thay đổi rất nhanh.
Luật Đô thị đặc biệt vì thế không chỉ là một văn bản pháp lý. Đó phải là một động lực thể chế đủ mạnh để giải phóng nguồn lực, đủ linh hoạt để thích ứng và đủ tầm để đưa TP.HCM bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Ngày 12.5, Sở NN-MT thành phố Đà Nẵng cho biết liên quan đến thông tin nghi đổ chất thải xây dựng xuống biển Hội An trong quá trình thi công dự án chống xói lở và bảo vệ bờ biển, UBND phường Hội An Đông đã chỉ đạo Công an phường phối hợp với Đồn biên phòng Cửa Đại tiến hành kiểm tra thực tế tại công trường thi công.
Qua kiểm tra ban đầu, cơ quan chức năng xác định trong quá trình thi công các hạng mục đê ngầm và mỏ hàn, việc vận chuyển và đổ đá lên sà lan đã làm phát sinh đá vụn, bột đá tích tụ dưới đáy phương tiện. Khi bốc xúc đá đến lớp sát đáy sà lan, phần vật liệu này bị kéo theo xuống biển, gây hiểu nhầm là hành vi xả thải trực tiếp ra môi trường.
Đơn vị thi công dự án là liên danh Công ty cổ phần Tập đoàn Đạt Phương và Công ty TNHH Thanh Tiến.
Sau buổi làm việc với các bên liên quan, Công an phường Hội An Đông cùng Đồn biên phòng Cửa Đại đã lập biên bản yêu cầu đơn vị thi công chấp hành nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường, tuyệt đối không xả thải xuống biển dưới mọi hình thức. Đồng thời, các phương tiện, sà lan phải được vệ sinh sạch sẽ trước khi di chuyển nhằm tránh phát tán vật liệu, bùn đất ra khu vực biển ven bờ.
Đại diện đơn vị thi công cam kết sẽ quán triệt công nhân thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, tăng cường kiểm tra, giám sát và không để xảy ra tình trạng xả thải trong quá trình thi công.
Theo Sở NN-MT thành phố Đà Nẵng, kể từ ngày 5.5 đến nay, cơ quan chức năng chưa phát hiện thêm vi phạm liên quan đến hoạt động thi công tại dự án.
UBND phường Hội An Đông cũng đã đề nghị chủ đầu tư là Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông và nông nghiệp thành phố Đà Nẵng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định bảo vệ môi trường tại công trường.
Như Thanh Niên đã thông tin, chiều 2.5, nhiều clip và hình ảnh lan truyền trên mạng xã hội ghi lại cảnh các sà lan hoạt động ngoài khơi bãi tắm Cửa Đại nghi xả chất thải xuống biển Hội An, thu hút sự chú ý lớn từ dư luận.
Nhiều ý kiến bày tỏ lo ngại về nguy cơ ô nhiễm môi trường biển, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và hoạt động du lịch, đặc biệt trong thời điểm lượng du khách đổ về nghỉ lễ và tắm biển tăng cao.
Ngay khi tiếp nhận phản ánh, UBND phường Hội An Đông đã chỉ đạo Công an phường phối hợp Đồn biên phòng Cửa Đại kiểm tra hiện trường.
Kết quả kiểm tra cho thấy hiện tượng xuất hiện dưới biển chủ yếu là bụi, đất và bột đá bám trên các khối đá trong quá trình vận chuyển, không phải hoạt động cố ý đổ chất thải ra môi trường như thông tin lan truyền trên mạng xã hội.
Không chỉ đặt mục tiêu tránh lãng phí, địa phương còn xem đây là cơ hội để tái cấu trúc không gian đô thị, chuyển đổi công năng phục vụ người dân và tạo thêm nguồn lực phát triển.
Trung tâm hành chính của tỉnh Quảng Trị mới đặt tại Đồng Hới, nhưng lại chưa có đủ trụ sở làm việc cho các cơ quan sau khi hợp nhất 2 tỉnh Quảng Trị và Quảng Bình. Vì vậy, địa phương lựa chọn phương án hoán đổi trụ sở giữa các cơ quan, tận dụng tối đa cơ sở vật chất sẵn có thay vì đầu tư xây dựng mới. Nhiều công trình hiện hữu cũng được cải tạo để phục vụ nhu cầu.
Đơn cử, trụ sở Trung tâm Giáo dục thường xuyên TP.Đồng Hới (cũ), khu giảng đường dãy nhà C cao 5 tầng của Trường ĐH Quảng Bình, khu giảng đường và hành chính Trường trung cấp Kinh tế (cũ), Trung tâm Vì sự phát triển của phụ nữ Bắc Trung bộ... được cải tạo thành nhà công vụ, nơi lưu trú cho cán bộ, công chức, viên chức từ khu vực Quảng Trị (cũ) ra Đồng Hới làm việc.
Sau khi hợp nhất Quảng Bình và Quảng Trị thành tỉnh Quảng Trị mới, toàn tỉnh có 206 trụ sở dôi dư do không còn phù hợp về vị trí hoặc nhu cầu sử dụng, trong đó khu vực Quảng Bình (cũ) có 111 cơ sở và Quảng Trị (cũ) có 95 cơ sở. Khối lượng tài sản cần xử lý rất lớn khiến việc sắp xếp trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh ngay sau khi bộ máy mới đi vào hoạt động.
Theo phương án của ngành tài chính, thay vì chỉ thu hồi hoặc bán đấu giá, nhiều trụ sở sẽ được ưu tiên chuyển đổi công năng thành cơ sở y tế, giáo dục, thư viện, công viên, thiết chế văn hóa, thể thao và các công trình phục vụ cộng đồng. Những cơ sở có lợi thế về vị trí sẽ được giao các đơn vị chức năng quản lý, khai thác, cho thuê hoặc đấu giá theo quy định nhằm phát huy hiệu quả tài sản công.
Đến cuối năm 2025, UBND tỉnh Quảng Trị đã phê duyệt phương án đối với 2.172 cơ sở nhà, đất; trong đó 1.591 cơ sở tiếp tục sử dụng, 57 cơ sở được điều chuyển và 524 cơ sở chuyển giao về địa phương để quản lý, xử lý. Tuy nhiên, quá trình triển khai gặp nhiều trở ngại khi số lượng nhà, đất dôi dư rất lớn, nhiều cơ sở thiếu hồ sơ pháp lý, trong khi việc xử lý phải đồng bộ với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và các quy hoạch chuyên ngành.
Một lãnh đạo Sở Tài chính cho biết đây là đợt sắp xếp, bố trí và xử lý tài sản công có quy mô lớn nhất từ trước đến nay. Khối lượng nhà, đất dôi dư rất lớn nhưng nhu cầu sử dụng ở từng địa bàn khác nhau, nên việc xử lý phải chia thành nhiều giai đoạn, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt vừa hướng đến mục tiêu ổn định lâu dài.
Tại cuộc họp về công tác sắp xếp trụ sở, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Nguyễn Văn Phương yêu cầu các sở, ngành xây dựng phương án chi tiết trên cơ sở nhu cầu thực tế, đồng thời mạnh dạn chuyển đổi công năng các cơ sở nhà, đất thành trường học, cơ sở y tế, thư viện, công viên, thiết chế văn hóa, thể thao và các công trình công cộng khác. Ông Phương nhấn mạnh phải xem đây là cơ hội để chỉnh trang bộ mặt đô thị và tránh thất thoát, lãng phí tài sản công.
Hiện khu vực Đông Hà (trung tâm hành chính của Quảng Trị cũ) lại đang trở thành "điểm nóng" trong xử lý quỹ nhà, đất dôi dư. Riêng 2 phường Đông Hà và Nam Đông Hà có đến 26 trụ sở dôi dư của tỉnh và các cơ quan T.Ư. Hiện trạng các công trình rất khác nhau: có trụ sở còn mới, đủ điều kiện tiếp tục sử dụng nhưng cũng có nhiều công trình xuống cấp hoặc bỏ trống trong thời gian dài. Có thể "điểm danh" một số trụ sở như: UBND P.2, Sở TT-TT, Sở Tài chính, Sở GD-ĐT (cũ), rạp phim Đông Hà…
Để xử lý hiệu quả, UBND tỉnh chia toàn bộ số trụ sở này thành 5 nhóm. Nhóm các công trình còn tốt, có vị trí thuận lợi sẽ chuyển sang đất thương mại - dịch vụ để đấu giá hoặc cho thuê. Các cơ sở xuống cấp sẽ điều chỉnh quy hoạch thành không gian xanh, bãi đỗ xe. Một số khu nhà liền kề sẽ hợp khối để hình thành công viên mở kết hợp bãi đỗ xe công cộng. Các khu đất xen kẽ khu dân cư sẽ chuyển sang đất ở để đấu giá tạo nguồn thu ngân sách. Những khu đất tiếp giáp trụ sở UBND phường sẽ được bàn giao cho địa phương quản lý. Trong thời gian chờ xử lý, tỉnh yêu cầu lập phương án quản lý, bảo vệ toàn bộ các trụ sở nhằm đảm bảo mỹ quan, tránh xuống cấp và thất thoát tài sản.
Một giải pháp khác cũng được tỉnh triển khai là sắp xếp lại cán bộ làm việc tại khu vực phía nam tỉnh Quảng Trị. Theo đề xuất hồi cuối tháng 4.2026, khoảng 230 cán bộ, công chức thuộc 26 cơ quan, đơn vị sẽ được bố trí làm việc tại các trụ sở lớn như UBND tỉnh Quảng Trị cũ (45 Hùng Vương) , Tỉnh ủy Quảng Trị cũ (30 Hùng Vương) cùng một số đơn vị đã có trụ sở phù hợp.
Trao đổi với Thanh Niên, ông Hoàng Nam, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Quảng Trị, khẳng định đây không phải việc điều động cán bộ từ Đồng Hới quay trở lại Đông Hà làm việc. Theo ông, ngay sau khi hợp nhất tỉnh vẫn có một bộ phận cán bộ ở lại khu vực phía nam để trực tiếp phục vụ người dân và doanh nghiệp, nhưng lực lượng này đang phân tán tại nhiều trụ sở nhỏ. Việc bố trí lại thực chất là gom cán bộ về các trụ sở lớn nhằm nâng cao hiệu quả điều hành, đồng thời giảm chi phí điện, nước, bảo vệ và tạo điều kiện thu hồi, xử lý các trụ sở nhỏ không còn cần thiết.
Về phương án xử lý các trụ sở dôi dư, ông Hoàng Nam nhấn mạnh việc sắp xếp phải được triển khai đồng bộ, chặt chẽ, bảo đảm công khai, minh bạch và phát huy hiệu quả sử dụng tài sản công trên nguyên tắc hài hòa giữa yêu cầu phát triển kinh tế với nhu cầu về không gian công cộng của đô thị. (còn tiếp)
Dự án sửa chữa tuyến đường sắt Đà Lạt - Trại Mát do Tổng công ty Đường sắt Việt Nam làm chủ đầu tư, vốn gần 49 tỷ đồng, đang bước vào giai đoạn hoàn thiện.
Các hạng mục tập trung khắc phục hư hỏng trên tuyến, thay thế ray và tà vẹt xuống cấp, gia cố mái taluy có nguy cơ sạt lở, cải tạo hệ thống thoát nước để bảo vệ nền đường. Hai điểm giao cắt giữa đường sắt và đường bộ cũng được nâng cấp nhằm tăng an toàn giao thông.
Tại ga Đà Lạt và ga Trại Mát, nhiều bộ ghi (thiết bị chuyển hướng tàu) được thay mới hoặc điều chỉnh phù hợp với hiện trạng khai thác. Nền đường trong khu vực ga cũng được cải tạo để nâng cao độ ổn định, an toàn vận hành.
Đoạn Đà Lạt - Trại Mát dài gần 7 km là phần còn lại của tuyến đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt, được xây dựng từ năm 1908 và hoàn thành năm 1932. Đây từng là một trong số ít tuyến đường sắt răng cưa leo núi trên thế giới.
Tuyến ngừng hoạt động từ năm 1968 do chiến tranh, phần lớn đường ray và tà vẹt sau đó bị tháo dỡ. Năm 1991, đoạn Đà Lạt - Trại Mát được khôi phục để phục vụ du lịch và hiện là một trong những điểm tham quan đặc trưng của thành phố cao nguyên.