Buổi chiều bên bờ biển Mỹ Khê, chị Hồ Ngọc Giàu, du khách đến từ Hà Nội, dừng khá lâu trước không gian “Gánh vị Đà Nẵng”. Trên những mẹt tre là bánh xèo, mì Quảng, bánh tráng cuốn thịt heo, chén mắm nêm thơm nồng đặt cạnh những vật dụng gợi nhớ căn bếp miền Trung.
“Tôi từng ăn mì Quảng nhiều lần, nhưng khi đứng giữa không gian này, nghe người bán kể món ăn gắn với bếp nhà, với thói quen ăn uống của người miền Trung, cảm giác khác hẳn. Không chỉ là ăn cho biết, mà như được nghe một câu chuyện về vùng đất mình đang đến”, chị Giàu nói.
Lễ hội Đà Nẵng Food Tour 2026 diễn ra từ nay đến 24/5 tại Công viên Biển Đông, quảng trường biển Tam Thanh và nhiều địa điểm khác trong thành phố, với hơn 200 gian hàng ẩm thực địa phương, vùng miền và quốc tế. Cùng với đó là chuỗi food tour kết nối Đà Nẵng với Hội An, Điện Bàn, Tam Kỳ, Đại Lộc, kéo dài đến tháng 12/2026.
Phía sau không khí sôi động của lễ hội là một bài toán dài hơi hơn, làm sao để ẩm thực không chỉ là “món phụ” trong hành trình du lịch, mà trở thành sản phẩm chính, đủ sức giữ chân du khách.
Đà Nẵng lâu nay được biết đến với biển, cầu, Bà Nà, Sơn Trà và lợi thế nằm giữa các trung tâm di sản miền Trung. Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh điểm đến ngày càng gay gắt, cảnh đẹp và dịch vụ lưu trú không còn là yếu tố đủ để tạo khác biệt. Du khách, nhất là nhóm khách trẻ, ngày càng tìm kiếm trải nghiệm bản địa: ăn ở đâu, gặp ai, món đó có câu chuyện gì, quán đó có gì riêng.
Bên gian hàng mì Quảng, bà Trần Thị Hường, người bán món Quảng lâu năm, vừa chan nước nhưn vừa giải thích cho khách cách ăn “đúng điệu”: rau sống phải đủ vị, bánh tráng nướng bẻ vụn, đậu phộng rang thơm, nước dùng không chan ngập như phở hay bún.
“Khách nhiều khi hỏi vì sao mì Quảng ít nước. Tôi nói vui là người Quảng ăn gì cũng đậm đà, chắc bụng. Mình bán tô mì nhưng cũng muốn khách hiểu thêm tính cách người Quảng”, bà Hường chia sẻ.
Bà Nguyễn Thị Anh Thi, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng chia sẻ, ẩm thực không chỉ là món ăn để thưởng thức, mà còn là nơi lưu giữ ký ức, văn hóa và tâm hồn của mỗi vùng đất. Thành phố muốn đưa ẩm thực trở thành “đại sứ văn hóa” mới, một sản phẩm du lịch đặc trưng gắn với trải nghiệm bản địa, trình diễn nghệ thuật và ứng dụng công nghệ số.
Nếu chỉ gom nhiều món ngon vào một khu lễ hội, food tour dễ trở thành cuộc dạo chơi vị giác ngắn ngày. Nhưng khi mỗi món ăn được đặt vào bối cảnh văn hóa, có người bán kể chuyện, có tuyến đi qua chợ, làng nghề, bếp nhà, ẩm thực sẽ trở thành cánh cửa để du khách thực sự hiểu thành phố.
Một điểm mới đáng chú ý tại lễ hội là bản đồ số ẩm thực Đà Nẵng, ShopeeFood, giúp du khách dễ tìm kiếm các điểm ăn uống. Với một đô thị du lịch, bản đồ số có thể là “cửa ngõ” để những quán nhỏ trong hẻm, hàng ăn gia truyền, gánh hàng lâu năm bước ra khỏi phạm vi khách quen.
Anh Lê Văn Phúc, chủ quán bánh tráng cuốn thịt heo ở Hải Châu, nhìn nhận thực tế: “Nếu quán được đưa vào các tuyến hành trình khám phá ẩm thực, có thông tin rõ ràng trên bản đồ số, khách sẽ dễ tìm hơn. Nhưng đi kèm với đó, người bán cũng phải làm bài bản hơn, từ niêm yết giá, vệ sinh, phục vụ đến cách giới thiệu món ăn”.
Thực tế, nhiều món ngon của Đà Nẵng không nằm trong nhà hàng lớn. Chúng ở các quán bình dân, trong chợ, bên vỉa hè, những nơi du khách lạ khó tự tìm. Công nghệ có thể giúp thu hẹp khoảng cách đó, nhưng không thể thay thế phần việc quan trọng hơn: chọn lọc, chuẩn hóa và bảo chứng chất lượng.
Một tuyến khám phá ẩm thực muốn đi xa cần các điểm đến có thông tin rõ ràng, giá cả minh bạch, vệ sinh bảo đảm và khả năng phục vụ cả khách đông lẫn khách quốc tế. Khi quán nhỏ tham gia vào chuỗi du lịch, họ không chỉ bán món ăn mà còn đại diện cho hình ảnh điểm đến.
Sau ngày 24/5, khi sân khấu tháo dỡ, đèn tắt và các gian hàng tạm thời rời đi, mới là phép thử thật sự. Một chương trình đông vui vài ngày có thể tạo hiệu ứng truyền thông tốt, nhưng sản phẩm du lịch chỉ sống được nếu du khách vẫn tìm đến sau lễ hội.
Bởi vậy, “bản đồ vị giác” của Đà Nẵng không nên chỉ là danh sách các quán ăn. Đó cần là một hệ sinh thái gồm món ngon, câu chuyện văn hóa, người kể chuyện, công nghệ dẫn đường, tiêu chuẩn dịch vụ và sự tử tế trong từng trải nghiệm.
Dự thảo được xây dựng nhằm thay thế các Thông tư số 13/2021/TT-BGDĐT, 07/2024/TT-BGDĐT và 34/2017/TT-BLĐTBXH, gồm 11 điều và 4 phụ lục. Nội dung được chỉnh sửa theo hướng tăng cường tự chủ cho cơ quan có thẩm quyền công nhận văn bằng, gắn với trách nhiệm xác minh, giải trình; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số, sử dụng dữ liệu liên thông và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Đáng chú ý, dự thảo sửa đổi theo hướng làm rõ hơn các điều kiện công nhận tương ứng với từng phương thức đào tạo, giúp cơ quan quản lý và người có văn bằng dễ dàng xác định quy định áp dụng.
Các điều kiện được quy định cụ thể theo từng hình thức như: học trực tiếp tại nước ngoài; liên kết đào tạo ở nước ngoài hoặc tại Việt Nam; học trực tuyến; kết hợp trực tiếp với trực tuyến; đào tạo từ xa hoặc qua phát thanh - truyền hình.
Đồng thời, dự thảo bổ sung yêu cầu đối với bằng tiến sĩ trong trường hợp người học theo hình thức trực tiếp nhưng phải thực hiện nghiên cứu thực địa tại quốc gia khác.
Những điều chỉnh này nhằm tăng cường kiểm soát chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo ở nước ngoài, đồng thời tạo điều kiện để người học tiếp cận các chương trình giáo dục hợp pháp tại các quốc gia có nền giáo dục phát triển.
Về thủ tục, dự thảo đề xuất thực hiện hoàn toàn theo hình thức trực tuyến. Người dân chỉ cần nhập dữ liệu một lần; các thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc dữ liệu ngành sẽ được cơ quan có thẩm quyền khai thác, không yêu cầu nộp lại bản giấy hoặc bản chứng thực điện tử.
Đáng chú ý, dự thảo không yêu cầu công chứng dịch đối với văn bằng bằng tiếng Anh nếu đã có thông tin xác thực trực tiếp.
Kết quả xử lý hồ sơ cũng được quy định rõ theo từng trường hợp, gồm: giấy công nhận văn bằng theo bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam; giấy công nhận theo bậc trình độ của hệ thống giáo dục nước cấp bằng; hoặc thông báo đối với văn bằng không đủ điều kiện công nhận. Các biểu mẫu được chuẩn hóa nhằm bảo đảm thống nhất, rút ngắn thời gian giải quyết và tạo thuận lợi cho người dân.
Liên quan đến thẩm quyền công nhận văn bằng trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, dự thảo đưa ra hai phương án. Phương án thứ nhất đề xuất phân cấp cho người đứng đầu đơn vị cung cấp dịch vụ công thực hiện việc công nhận và cấp giấy chứng nhận, theo nguyên tắc đơn vị nào tiếp nhận và xử lý hồ sơ thì có thẩm quyền công nhận.
Ngày 13/5, UBND Thành phố Hà Nội ban hành quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội với tầm nhìn 100 năm. Với tư duy quy hoạch mở, đa trung tâm, đa tầng không gian, lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái - văn hóa chủ đạo, Hà Nội đặt mục tiêu trở thành đô thị xanh, thông minh, hiện đại, có sức cạnh tranh quốc tế và giữ vai trò hạt nhân phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng cũng như khu vực phía Bắc.
Phạm vi quy hoạch gồm toàn bộ địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, với 126 đơn vị hành chính cấp xã (51 phường, 75 xã). Quy mô lập quy hoạch: khoảng 3.359,84 km² (335.984 ha).
Theo Quyết định vừa được phê duyệt, Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội được xây dựng với tầm nhìn dài hạn 100 năm, chia thành các giai đoạn phát triển đến năm 2035, 2045, 2065 và 2085.
Dân số Hà Nội đến năm 2035 dự kiến đạt khoảng 14-15 triệu người; đến năm 2045 khoảng 15-16 triệu người và đến năm 2065 khoảng 17-19 triệu người. Giai đoạn đến năm 2085 và xa hơn, thành phố cơ bản giữ ổn định quy mô dân số, khống chế mức tối đa không quá 20 triệu người nhằm đảm bảo mật độ phù hợp.
Theo lộ trình quy hoạch, đến năm 2035, tỉ lệ đất xây dựng đô thị sẽ chiếm khoảng 40-45% diện tích tự nhiên. Đến năm 2045, tỉ lệ này tăng lên 45-50%, phát triển theo mô hình "nén - xanh". Đến năm 2065, tỉ lệ đất xây dựng đô thị đạt khoảng 55-60%, trong khi quỹ đất còn lại được bảo vệ để duy trì hành lang xanh, diện tích rừng và không gian sinh thái của Thủ đô.
Đáng chú ý, quy hoạch cũng lần đầu tiên đưa ra định hướng khai thác không gian đa tầng với quy mô lớn. Không gian ngầm được chia thành nhiều cấp độ phục vụ giao thông, hạ tầng kỹ thuật, lưu trữ nước ngầm và các công trình chiến lược.
Theo mục tiêu đề ra, đến năm 2045, tỉ lệ xây dựng không gian ngầm tại khu vực đô thị trung tâm đạt tối thiểu 20% diện tích đất; đến năm 2065 đạt khoảng 40%.
Không gian trên cao cũng được nghiên cứu khai thác mạnh tại các khu vực TOD và các hành lang vành đai, hình thành các tổ hợp cao tầng mật độ lớn nhằm tiết kiệm quỹ đất. Hà Nội đồng thời nghiên cứu phát triển các mô hình vận tải tương lai như taxi bay, thiết bị bay không người lái và các nền tảng giám sát đô thị thông minh.
Trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, giao thông tiếp tục được xác định là một trong những đột phá chiến lược.
Theo định hướng được phê duyệt, Hà Nội sẽ phát triển hệ thống giao thông đồng bộ, hiện đại, kết nối nội vùng, liên vùng và quốc tế; thúc đẩy vận tải đa phương thức, kết nối hiệu quả đường bộ, đường sắt, hàng không và đường thủy.
Thành phố đặt mục tiêu đẩy nhanh tiến độ các dự án giao thông trọng điểm quốc gia, hệ thống vành đai, các trục hướng tâm và đặc biệt là mạng lưới đường sắt đô thị.
Đáng chú ý, Hà Nội sẽ nghiên cứu đầu tư các tuyến đường sắt đô thị kết nối với các địa phương trong vùng Thủ đô và vùng đồng bằng sông Hồng như Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Phú Thọ, Thái Nguyên...
Một trong những nội dung mới mang tính chiến lược là phát triển đô thị theo mô hình TOD (Transit Oriented Development) - phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng.
Theo quy hoạch, Hà Nội sẽ hình thành khoảng 5-10 trung tâm TOD cấp quốc gia, liên vùng; khoảng 20-30 trung tâm TOD cấp thành phố và từ 120-150 điểm TOD cấp khu vực.
Các khu TOD sẽ trở thành hạt nhân phát triển đô thị mới, gắn với các tuyến đường sắt đô thị, trung tâm thương mại, dịch vụ và không gian công cộng quy mô lớn.
Bên cạnh đó, thành phố cũng quy hoạch Cảng hàng không thứ hai của vùng Thủ đô tại khu vực phía Nam, thuộc khu vực xã Ứng Hòa, Chuyên Mỹ, với định hướng trở thành cảng hàng không quốc tế công suất 30-50 triệu khách/năm.
Theo định hướng, sân bay này sẽ phát triển theo mô hình "đô thị sân bay", kết nối với hệ thống logistics, thương mại và dịch vụ hiện đại. Đồng thời, sân bay Hòa Lạc và Gia Lâm cũng được nghiên cứu khai thác theo mô hình lưỡng dụng.
Quy hoạch cũng đặt Hà Nội vào vị trí trung tâm của các hành lang kinh tế quốc tế kết nối với Trung Quốc và Lào.
Trong đó có các tuyến hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; Hà Nội - Thái Nguyên - Cao Bằng; Điện Biên - Sơn La - Hòa Bình - Hà Nội.
Theo các chuyên gia quy hoạch, đây là cơ sở để Hà Nội mở rộng không gian phát triển, nâng cao vai trò trung tâm logistics, thương mại và đổi mới sáng tạo của khu vực phía Bắc.
Không chỉ tập trung vào phát triển hạ tầng và kinh tế, Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm dành dung lượng lớn cho vấn đề bảo tồn văn hóa và xây dựng bản sắc đô thị.