Bảo vệ trẻ trước vấn nạn bạo hành – Bài cuối: Cần chế tài nghiêm khắc hơn

Bảo vệ trẻ trước vấn nạn bạo hành - Bài cuối: Cần chế tài nghiêm khắc hơn

Những vụ việc trẻ em bị bạo hành thời gian qua không chỉ gây xót xa trong dư luận mà còn cho thấy một thực tế đáng lo ngại rằng nhiều hành vi xâm hại diễn ra âm thầm trong thời gian dài nhưng không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời.

Dù đã có Luật Trẻ em 2016 cùng nhiều Nghị định, quy trình và kênh tiếp nhận thông tin hỗ trợ, song trên thực tế việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời vẫn còn phụ thuộc nhiều vào sự lên tiếng từ bên ngoài, thay vì được triển khai như một cơ chế chủ động thường xuyên và có tính dự báo.

Từ góc nhìn pháp lý, Luật sư Nguyễn Ngọc Hùng – Trưởng Văn phòng Luật sư Kết nối (Đoàn Luật sư Tp. Hà Nội) đã phân tích rõ những “độ trễ” trong thực thi pháp luật hiện nay và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường tính chủ động, hiệu quả trong công tác bảo vệ trẻ em.

Trao đổi với Người Đưa Tin, Luật sư Nguyễn Ngọc Hùng – Trưởng văn phòng Luật sư Kết nối (Đoàn Luật sư Tp.Hà Nội) chỉ ra rằng trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục và UBND cấp xã khi tiếp nhận thông tin về trẻ em bị xâm hại đã được quy định rõ.

Đồng thời, các kênh tiếp nhận tin báo như Tổng đài 111 cũng đã được thiết lập để hỗ trợ can thiệp kịp thời. Nghị định 130 cũng bước đầu đặt ra chế tài đối với hành vi che giấu, không thông báo hoặc không tố giác hành vi xâm hại trẻ em.

Tuy nhiên theo Luật sư Nguyễn Ngọc Hùng, khoảng cách lớn nhất hiện nay không nằm ở việc thiếu quy định pháp luật, mà nằm ở khâu thực thi và cơ chế vận hành trên thực tế.

“Dù khung pháp lý đã tương đối đầy đủ, nhưng thực tế cho thấy cơ chế bảo vệ trẻ em vẫn chủ yếu mang tính thụ động, tức là chờ có phản ánh, tố giác thì mới vào cuộc xử lý thay vì chủ động phòng ngừa và phát hiện sớm các nguy cơ”, ông Hùng nhấn mạnh.

Luật sư cũng chỉ ra rằng, hiện nay vẫn thiếu một cơ chế rà soát, sàng lọc định kỳ đối với các nhóm trẻ em có nguy cơ cao như trẻ sống trong gia đình có bạo lực, cha mẹ ly hôn, người nuôi dưỡng có tiền sử nghiện ngập hoặc vi phạm pháp luật.

Ở nhiều địa phương khi xuất hiện phản ánh từ hàng xóm hoặc giáo viên quá trình xác minh đôi khi còn chậm, nặng tính thủ tục hành chính khiến “thời gian vàng” can thiệp bị bỏ lỡ.

Bên cạnh đó, trách nhiệm của cộng đồng và cán bộ cơ sở trong thực tiễn vẫn chủ yếu dừng ở mức nghĩa vụ đạo đức, chưa được cụ thể hóa thành trách nhiệm pháp lý đủ mạnh.

Các chế tài đối với hành vi thờ ơ, không tố giác hoặc che giấu thông tin xâm hại trẻ em còn nhẹ và hiếm khi được áp dụng. Đối với cán bộ, công chức việc xử lý vi phạm thường chỉ dừng ở mức kỷ luật nội bộ hoặc rút kinh nghiệm sau khi sự việc đáng tiếc đã xảy ra.

“Điều này cho thấy, pháp luật tuy đã có khung quy định nhưng chưa đủ sức tạo áp lực pháp lý và trách nhiệm thực chất đối với các chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ trẻ em”, Luật sư Nguyễn Ngọc Hùng phân tích.

Từ thực tiễn đó, ông Hùng cho rằng cần thiết phải tiếp cận vấn đề bảo vệ trẻ em dưới góc độ rộng hơn, không chỉ là câu chuyện gia đình mà còn là vấn đề an sinh và an ninh xã hội. Theo ông, một đứa trẻ bị bạo hành không chỉ chịu tổn thương về thể chất và tinh thần mà còn có thể để lại hệ lụy lâu dài đối với xã hội.

Về giải pháp pháp lý, luật sư đề xuất cần nghiên cứu bổ sung chế tài nghiêm khắc hơn đối với những cá nhân có chức trách quản lý nhưng biết hoặc có căn cứ xác định trẻ em đang bị bạo hành mà không báo cáo, không can thiệp hoặc cố tình che giấu, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

Song song đó, cần xây dựng cơ chế bảo vệ danh tính và an toàn cho người tố giác nhằm khuyến khích người dân mạnh dạn lên tiếng, thay vì lo ngại bị trả thù hoặc liên lụy.

  Náo nhiệt ngày hội đua thuyền nan giữa lòng hồ Thác Bà kỳ vĩ

Một vấn đề quan trọng khác là cần phát triển đội ngũ nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp tại cơ sở, có chuyên môn về tâm lý và bảo vệ trẻ em được trao quyền phối hợp với công an, nhà trường và chính quyền địa phương để theo dõi, can thiệp sớm các trường hợp có nguy cơ.

Ngoài ra theo luật sư Nguyễn Ngọc Hùng cũng cần thay đổi tư duy xử lý đối với hành vi bạo lực trẻ em theo hướng tăng tính răn đe và phục hồi trách nhiệm.

Thay vì chỉ dừng ở xử phạt hành chính hoặc phạt tiền cần áp dụng thêm các biện pháp như lao động công ích, hạn chế hoặc tước quyền chăm sóc trẻ trong một thời gian nhất định. Đồng thời buộc bồi thường đầy đủ chi phí điều trị và tổn thất tinh thần cho trẻ em bị hại dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền.

Tiến sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường – Ủy viên Ban Chấp hành Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam cho rằng, pháp luật hiện hành đã quy định rất cụ thể về quyền trẻ em, song cũng có chế tài hình sự rõ ràng đối với các hành vi hành hạ, cố ý gây thương tích hay thậm chí là tội giết người.

Các cơ quan chức năng cũng đã nỗ lực trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và can thiệp bảo vệ trẻ em.

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả tích cực vẫn còn tồn tại những vụ việc đau lòng, cho thấy cần tiếp tục siết chặt hơn nữa công tác bảo vệ trẻ em, tăng cường phát hiện sớm, xử lý kịp thời các hành vi có dấu hiệu xâm hại để phòng ngừa từ xa.

Để bảo vệ trẻ em hiệu quả hơn theo vị luật sư cần tăng cường phối hợp đồng bộ, toàn diện giữa các cơ quan, tổ chức và cộng đồng.

Đồng thời xây dựng một cơ chế bảo vệ trẻ em chặt chẽ, chủ động và thực chất hơn trong thực tiễn.

Hoàng Bích – Kim Thoa

Tin Gốc: Người Đưa Tin