Phần lớn thông tin về Nghị định 88/2026 (NĐ 88) đang được nhìn dưới góc độ tiện ích. Học bạ và bằng cấp nằm gọn trong điện thoại, có giá trị pháp lý tương đương bản giấy, người dân không còn phải xin sao y, công chứng. Đó là một bước tiến của chính phủ số trong giáo dục.
Điều đáng bàn hơn nằm ở bản chất pháp lý của hồ sơ vừa được tạo ra khi phụ huynh lo ngại rằng ai chịu trách nhiệm khi dữ liệu trong đó bị lộ.
Hồ sơ học tập suốt đời, theo điều 8 NĐ 88 gồm thông tin học bạ ghi nhận toàn bộ quá trình học tập, kết quả học tập và rèn luyện của người học, cùng thông tin về văn bằng, chứng chỉ. Tuyệt đại đa số dữ liệu này được tạo lập trong những năm chủ thể còn là trẻ em. Đây trước hết là một hệ thống dữ liệu trẻ em, chỉ là nó sẽ đi theo người đó đến hết cuộc đời. Nghị định xác định thời hạn lưu trữ hồ sơ này là vĩnh viễn và theo điểm b khoản 3 điều 12 thì dữ liệu sau khi được lưu trữ hợp lệ sẽ được chia sẻ, tích hợp tự động lên ứng dụng định danh quốc gia VNeID.
Tự động nghĩa là không có một thời điểm nào dừng lại để hỏi ý kiến của phụ huynh. Vĩnh viễn nghĩa là không có điểm kết thúc, không có cơ chế để dữ liệu cũ tự rời khỏi hệ thống. NĐ 88 không phải không nhắc đến bảo vệ dữ liệu. Điều 4 yêu cầu mọi hoạt động xử lý dữ liệu giáo dục tuân theo pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng, giao dịch điện tử, đồng thời giới hạn việc thu thập, xử lý dữ liệu người học chỉ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao. Nhưng đó là những quy định dẫn chiếu. Chúng chỉ về một đạo luật khác chứ chưa tự mình dựng lên cơ chế bảo vệ cụ thể cho chính dòng dữ liệu mà nghị định này khai sinh.
Khoảng trống đầu tiên nằm ở mắt xích yếu nhất của chuỗi dữ liệu. An ninh mạng cho cơ sở dữ liệu quốc gia về GD-ĐT được giao cho Bộ Công an thẩm định, giám sát, đặt trên hạ tầng Trung tâm dữ liệu quốc gia. Đó là đầu cuối được canh giữ tốt nhất. Nhưng dữ liệu của một đứa trẻ không sinh ra ở đó. Nó sinh ra ở phòng giáo vụ của một trường tiểu học, trên phần mềm quản lý do một doanh nghiệp (DN) cung cấp. Điều 22 NĐ 88 cho phép cơ sở giáo dục được quyền lựa chọn sử dụng hệ thống dùng riêng do các DN cung cấp. Như vậy điểm khởi đầu của dữ liệu, nơi học bạ một học sinh lần đầu được số hóa, lại nằm trong tay khu vực tư nhân, ở cấp trường – nơi gần như không có đủ năng lực công nghệ thông tin và pháp lý để tự giám sát nhà cung cấp.
Đây mới là vấn đề pháp lý cốt lõi. Theo luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, quan hệ giữa nhà trường và DN phần mềm là quan hệ giữa bên kiểm soát dữ liệu và bên xử lý dữ liệu. Trên lý thuyết, nhà trường là bên chịu trách nhiệm, nhưng trên thực tế DN mới là bên nắm hạ tầng, nắm máy chủ, nắm cả đội ngũ kỹ thuật trực tiếp tiếp xúc dữ liệu. Một hiệu trưởng trường tiểu học gần như không thể kiểm tra được máy chủ của nhà cung cấp đặt ở đâu, ai có quyền truy cập, dữ liệu có bị dùng cho mục đích khác hay không.
NĐ 88 trao cho Bộ GD-ĐT quyền quy định tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn, bảo mật cho các hệ thống dùng riêng, nhưng bản thân nghị định chưa đặt ra 3 thứ tối thiểu mà một cơ chế bảo vệ trẻ em cần có, gồm hợp đồng xử lý dữ liệu phân định rõ trách nhiệm bồi thường về phía DN, nghĩa vụ thông báo sự cố trong một thời hạn cố định và lệnh cấm dùng dữ liệu học sinh cho bất kỳ mục đích thứ cấp nào như phân tích thương mại, quảng cáo hay huấn luyện trí tuệ nhân tạo.
Khoảng trống thứ hai là cơ chế đồng ý. Điều 24 luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 quy định với trẻ em thì người đại diện theo pháp luật thay mặt thực hiện quyền của chủ thể dữ liệu. Nhưng khi NĐ 88 cho dữ liệu tích hợp tự động, không hề có một thời điểm nào phụ huynh được hỏi. Việc tạo lập học bạ là chức năng của nhà trường nên về kỹ thuật pháp lý, nó không cần sự đồng ý riêng. Hệ quả là phụ huynh có quyền được biết nhưng không có một điểm dừng để phản đối. Quyền được biết mà thiếu điểm dừng để nói không thì trên thực tế chỉ còn là một lời thông báo.
Khoảng trống thứ ba là nguy cơ dữ liệu bị buộc phải chia sẻ. Một khi hồ sơ học tập có giá trị pháp lý tương đương bản giấy và nằm sẵn trên một ứng dụng mà theo công bố của Bộ Công an hồi tháng 1.2026 đã có hơn 67 triệu tài khoản kích hoạt, thì sẽ có lúc nhà tuyển dụng, ngân hàng hay một bên thứ ba yêu cầu cá nhân trình toàn bộ hồ sơ ấy. Khoản 4 điều 12 cho phép khai thác dữ liệu hồ sơ học tập qua các ứng dụng khác. Cái được giới thiệu là tiện ích của công dân hoàn toàn có thể trở thành một nghĩa vụ trên thực tế. Khi đó, lịch sử học tập trọn vẹn của một người, gồm cả những lần thi lại, những năm gián đoạn, cả ngôi trường từng theo học vốn có thể phản ánh hoàn cảnh gia đình, đều bị phơi ra trong một quan hệ mà bên yếu thế không thật sự có quyền từ chối.
Trước mốc 1.1.2027 là thời hạn Bộ GD-ĐT phải hoàn thành cấp mã số hồ sơ học tập suốt đời cho toàn bộ người học, vì vậy có vài việc cần thực hiện.
Trước hết, Bộ GD-ĐT cần ban hành bộ tiêu chuẩn kỹ thuật kèm theo một mẫu hợp đồng xử lý dữ liệu mang tính bắt buộc, trong đó DN cung cấp phần mềm phải gánh trách nhiệm bồi thường khi để xảy ra sự cố, phải thông báo sự cố trong thời hạn luật định, và bị cấm dùng dữ liệu sai mục đích. Tiếp đó, DN muốn cung cấp hệ thống cho trường học phải được một cơ quan độc lập đánh giá và chứng nhận đủ điều kiện, chứ không thể chỉ tự công bố là mình tuân thủ.
Cùng với đó, cần một cơ chế để phụ huynh không chỉ được biết mà còn nhìn thấy được nhật ký ai đã truy cập hồ sơ của con mình. Và cũng cần phân biệt thời hạn lưu trữ. Văn bằng, chứng chỉ lưu vĩnh viễn là hợp lý vì đó là thứ một con người cần chứng minh suốt đời, nhưng điểm số chi tiết và kết quả rèn luyện ở các cấp học thấp nên được giới hạn thời hạn hoặc hạn chế quyền tiếp cận.
Chính phủ số trong giáo dục là hướng đi đúng và không nên vì rủi ro mà chùn lại. Hồ sơ học tập suốt đời không phải một trường hợp đơn lẻ. Nó là khuôn mẫu. Sổ sức khỏe điện tử cũng đã được tích hợp trên VNeID và sẽ còn nhiều loại dữ liệu công dân khác đi theo con đường ấy. Cách ngành giáo dục xử lý bài toán trách nhiệm lần này sẽ trở thành tiền lệ cho mọi cơ sở dữ liệu công dân về sau.
Các trường đại học Trung Quốc đang tiến hành cuộc tái cơ cấu quy mô lớn đối với hệ thống ngành đào tạo nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển quốc gia. Hàng nghìn ngành học bị xem là lỗi thời được cắt giảm để nhường chỗ cho các chương trình mới tập trung vào công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI).
Động thái này diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc tăng tốc cuộc đua công nghệ, đồng thời tìm lời giải cho bài toán việc làm của hàng triệu sinh viên mới tốt nghiệp.
Theo Bộ Giáo dục Trung Quốc, giai đoạn 2021-2025, các trường đại học trên cả nước đã hủy bỏ hoặc tạm dừng tuyển sinh 12.200 chương trình đào tạo bậc đại học, đồng thời mở mới 10.200 chương trình khác. Như vậy, hơn 30% ngành học đã được điều chỉnh chỉ trong 5 năm.
Các ngành bị cắt giảm chủ yếu thuộc lĩnh vực nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn, ngoại ngữ và quản trị - những lĩnh vực bị đánh giá dư thừa nhân lực hoặc không còn đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường lao động trong thời đại AI. Ngược lại, nhiều ngành mới được thiết kế theo định hướng phát triển kinh tế của Bắc Kinh. Chẳng hạn, 9 trường đại học đã mở ngành "trí tuệ hiện thân" (embodied intelligence), phục vụ chiến lược thúc đẩy ứng dụng AI thế hệ mới vào nền kinh tế thực.
Áp lực điều chỉnh chương trình đào tạo ngày càng lớn khi số lượng sinh viên tốt nghiệp đạt mức kỷ lục, trong khi tấm bằng đại học được cho là không còn bảo đảm cơ hội việc làm như trước.
Đại học Khoa học và Công nghệ Thượng Hải là một ví dụ khi năm nay quyết định dừng tuyển sinh ngành thiết kế sản phẩm. Một cựu sinh viên cho biết triển vọng việc làm của ngành giảm sút do AI có thể đảm nhiệm nhiều công việc như dựng mô hình và kết xuất hình ảnh.
Tại Đại học Truyền thông Trung Quốc (CUC), ngành quay phim được sáp nhập với ngành quay phim và sản xuất điện ảnh - truyền hình. Theo các cựu sinh viên, sự phát triển của livestream và video ngắn đã thay đổi hoàn toàn yêu cầu đối với nghề quay phim, khiến việc điều chỉnh chương trình đào tạo trở thành xu hướng tất yếu.
Tuy nhiên, ông Chu Zhaohui, nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện Khoa học Giáo dục Quốc gia Trung Quốc, cho rằng việc liên tục thay thế ngành học chỉ là giải pháp ngắn hạn. Theo ông, nhiều ngành vừa bị cắt giảm thực chất mới được mở trong đợt cải tổ trước nên chưa đủ thời gian chứng minh hiệu quả.
Ông đề xuất các trường xây dựng mô hình đào tạo linh hoạt hơn, cho phép sinh viên chủ động lựa chọn môn học theo sở thích, năng lực và định hướng nghề nghiệp thay vì chỉ điều chỉnh danh mục ngành. Cách tiếp cận này sẽ giúp mỗi sinh viên xây dựng hồ sơ năng lực mang dấu ấn riêng, phù hợp với nhu cầu việc làm trong tương lai.
Trong bối cảnh thị trường lao động biến động nhanh, nhiều người Trung Quốc cũng dần xem bằng đại học chỉ là điểm khởi đầu của hành trình nghề nghiệp.
Ông Vincent Zhao, chủ một công ty truyền thông tại Bắc Kinh, cho biết đã khuyến khích con gái theo học ngành thống kê và quản trị dữ liệu vì đây là lĩnh vực có nền tảng rộng, tạo nhiều cơ hội học tiếp hoặc chuyển đổi nghề nghiệp sau này.
Theo ông Zhao, mô hình truyền thống "học một ngành, làm một nghề và gắn bó cả đời" gần như không còn phù hợp. Thay vào đó, người trẻ cần trang bị kiến thức nền tảng, khả năng thích ứng và sẵn sàng học tập suốt đời để theo kịp sự thay đổi của công nghệ và thị trường lao động.
Trước đó, ngày 6-7, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký quyết định bổ nhiệm Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược Cần Thơ cho PGS.TS.BS Nguyễn Minh Phương. Bà là nữ hiệu trưởng đầu tiên của trường.
Trước khi được bổ nhiệm, PGS.TS.BS Nguyễn Minh Phương đã có hơn 26 năm gắn bó với Trường đại học Y Dược Cần Thơ. Bà là nghiên cứu sinh chuyên ngành nhi khoa tại Trường đại học Y Dược Hà Nội.
Bà từng giữ nhiều vị trí lãnh đạo quan trọng như Trưởng phòng đào tạo đại học, Phó hiệu trưởng, Bí thư Đảng ủy và Chủ tịch Hội đồng trường.
Bà cũng là đại biểu Quốc hội khóa XIII và Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ TP Cần Thơ nhiệm kỳ 2025-2030.
Tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan chúc mừng bà Phương được giao trọng trách Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược Cần Thơ, nhiệm kỳ 2026-2031.
Bộ trưởng khẳng định đây không chỉ là niềm vinh dự của cá nhân bà Phương, mà còn là trách nhiệm lớn trước tập thể nhà trường.
"Tôi tin tưởng rằng trên cương vị mới, PGS.TS.BS Nguyễn Minh Phương sẽ tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, cùng tập thể nhà trường phát triển hơn nữa, đặc biệt trong việc đổi mới mô hình quản trị đại học".
Bộ trưởng nhấn mạnh, đào tạo theo định hướng ngành y tế đang tập trung theo nghị quyết của Bộ Chính trị về "một số giải pháp đột phá nhằm tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân".
Bộ trưởng đề nghị trường phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong khu vực để tăng cường đào tạo đặt hàng nhân lực y tế cơ sở. Đồng thời trường cần phấn đấu trở thành cơ sở đào tạo trọng điểm quốc gia về khoa học sức khỏe.
Bộ trưởng yêu cầu trường phối hợp với chính quyền địa phương sớm thành lập, đưa vào hoạt động phân hiệu tại tỉnh An Giang; khẩn trương hoàn thiện phương án tiếp nhận các cơ sở dôi dư của địa phương, đồng thời triển khai đề án sáp nhập Bệnh viện Đa khoa Hậu Giang về trường theo chủ trương đã được phê duyệt.
Phát biểu nhận nhiệm vụ, bà Phương bày tỏ vinh dự khi được Bộ Y tế tin tưởng giao trọng trách mới.
Bà chia sẻ: "Trên cương vị Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược Cần Thơ, tôi sẽ cùng tập thể nhà trường tập trung triển khai hiệu quả các nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Y tế giao và lãnh đạo các địa phương đã gửi gắm.
Hơn 26 năm gắn bó với mái trường này, tôi đã đi qua nhiều cương vị công tác và chứng kiến biết bao thế hệ thầy trò trưởng thành từ những giảng đường, phòng thí nghiệm và buồng bệnh.
Tôi luôn ghi nhớ và tri ân các thế hệ lãnh đạo trước đây của trường đã luôn giữ gìn và phát huy truyền thống để trường luôn giữ vững vị thế và phát triển như hiện nay".
Hiện trường có hơn 11.000 sinh viên và trên 4.000 học viên sau đại học, đào tạo 14 ngành bậc đại học và 90 chuyên ngành sau đại học.
"Trong thời gian tới, tôi sẽ cùng tập thể nhà trường tập trung các nhiệm vụ trọng tâm mà cấp trên đã giao phó. Đổi mới tổ chức và quản trị đại học theo mô hình mới; tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tạo đột phá về khoa học công nghệ; nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là chuẩn hóa đào tạo theo xu hướng quốc tế hóa; mở rộng kết nối và phục vụ cộng đồng" - bà Phương nói thêm.
Văn phòng Trung ương Đảng ngày 24/6 công bố kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về công tác chuẩn bị năm học 2026-2027 và tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Theo kết luận, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng UBND các tỉnh, thành phố phải kiểm soát chi phí học tập; chấn chỉnh các hiện tượng tiêu cực trong dạy thêm, học thêm và bệnh thành tích. Các cơ sở giáo dục phải công khai các khoản thu, chi, không lạm dụng xã hội hóa giáo dục làm tăng các khoản đóng góp của phụ huynh hoặc thay cho phần ngân sách Nhà nước phải bảo đảm.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu xử lý nghiêm tình trạng ép học, gợi ý học hoặc gây áp lực đối với học sinh và phụ huynh. Đồng thời, ngành giáo dục phải nâng cao chất lượng giờ học chính khóa, giảm áp lực thi cử, minh bạch tuyển sinh, điều chỉnh chương trình phù hợp và cải thiện động lực của giáo viên.
Người đứng đầu Đảng, Nhà nước cũng yêu cầu mọi phương án sắp xếp trường lớp phải được đánh giá đầy đủ về điều kiện địa lý, giao thông, quy mô học sinh, đội ngũ giáo viên và chất lượng giáo dục; rà soát định mức giáo viên, phòng học phù hợp với từng vùng miền, đô thị, khu công nghiệp và nông thôn. Việc xây dựng các trường phổ thông liên cấp nội trú tại các xã biên giới phải bảo đảm đúng tiến độ, không để phát sinh lãng phí. "Kiên quyết không để học sinh do hoàn cảnh khó khăn mà không được đến trường", kết luận nêu.
Để chuẩn bị năm học mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao Bộ Giáo dục và Đào tạo hoàn thiện hồ sơ báo cáo cấp có thẩm quyền về Đề án cải cách chính sách tiền lương, hướng tới sớm xếp lương nhà giáo ở mức cao nhất trong thang bậc lương sự nghiệp; đồng thời có cơ chế đặc thù thu hút chuyên gia giỏi, nhà khoa học đầu ngành tham gia giảng dạy, nghiên cứu và khuyến khích giáo viên giỏi về công tác tại vùng khó khăn.
Kết luận cũng yêu cầu sớm đề xuất phương án biên chế và chế độ, chính sách cho ngành giáo dục; chấm dứt tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ theo nguyên tắc "ở đâu có học sinh, ở đó có giáo viên"; nghiên cứu cơ chế biên chế linh hoạt, giảm biên chế quản lý, tăng biên chế trực tiếp giảng dạy. Ngành giáo dục cần đổi mới quản trị, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục và huy động cả hệ thống chính trị tham gia phát triển giáo dục, đào tạo.