Quan niệm ăn nhiều bữa nhỏ xuất hiện vì được cho là giúp ngăn ăn quá nhiều và hạn chế cảm giác đói đột ngột. Ý tưởng này nghe có vẻ hợp lý: Cơ thể được “nạp nhiên liệu” liên tục thì quá trình trao đổi chất sẽ hoạt động tốt hơn.
Tuy nhiên, theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH), khi nói đến cân nặng và sức khỏe chuyển hóa, tổng lượng calo tiêu thụ và chất lượng thực phẩm quan trọng hơn nhiều so với số lần ăn trong ngày.
Chuyên gia dinh dưỡng Parul Yadav, Bệnh viện Marengo Asia (Ấn Độ) cho biết, đồ ăn vặt hiện đại thường không phải trái cây, các loại hạt hay món tự nấu mà chủ yếu là bánh quy, snack đóng gói, nước ngọt hoặc thực phẩm chế biến sẵn; dù chỉ ăn từng ít một nhưng tổng lượng calo vẫn có thể vượt mức cần thiết, khiến tăng cân thay vì giảm cân.
Ngoài ra, ăn uống vô thức ngày càng phổ biến trong cuộc sống bận rộn. Nhiều người vừa ăn vừa xem điện thoại, làm việc hoặc xem phim nên dần khó nhận biết cảm giác đói thật sự, theo Times of India (Ấn Độ).
Bác sĩ Shabana Parveen, Trưởng bộ phận Dinh dưỡng Lâm sàng – Tiết chế, Bệnh viện Artemis (Ấn Độ) nói thêm, nhiều trường hợp ăn không phải vì đói mà do căng thẳng, buồn chán hoặc thói quen hằng ngày.
Mỗi lần ăn, đặc biệt là thực phẩm nhiều đường hoặc tinh bột tinh chế, đường huyết sẽ tăng lên và cơ thể tiết insulin để đưa đường vào tế bào. Vấn đề không nằm ở insulin mà ở việc hormone này liên tục ở mức cao suốt cả ngày nếu ăn quá thường xuyên.
Theo bác sĩ Parveen, insulin cao kéo dài có thể làm giảm khả năng đốt mỡ của cơ thể, từ đó dẫn đến tăng cân và tăng nguy cơ kháng insulin. Nghiên cứu từ Thư viện Y khoa Quốc gia Mỹ (thuộc NIH) cũng cho thấy việc insulin tăng cao kéo dài có liên quan đến rối loạn chuyển hóa và giảm độ nhạy insulin theo thời gian.
Các chuyên gia cho rằng hệ tiêu hóa không được thiết kế để làm việc liên tục cả ngày mà không có khoảng nghỉ. Ăn liên tục có thể khiến nhiều người cảm thấy đầy bụng, nặng nề hoặc ăn mãi vẫn không thấy thỏa mãn.
Theo bà Yadav, cơ thể cần thời gian nghỉ giữa các bữa để tiêu hóa thức ăn hiệu quả hơn. Nếu lúc nào cũng ăn, nhịp sinh học tự nhiên của cơ thể có thể bị ảnh hưởng, gây đầy hơi hoặc chán ăn.
Từ đó các chuyên gia nhấn mạnh, với nhiều người khỏe mạnh, việc ăn liên tục chỉ vì “xu hướng sống khỏe” có thể không cần thiết. Bác sĩ Parveen cho rằng điều quan trọng hơn là ăn gì và ăn bao nhiêu, thay vì chỉ tập trung vào việc ăn bao nhiêu lần trong ngày. Các bữa ăn đủ protein, chất xơ và chất béo tốt sẽ giúp no lâu hơn, giữ đường huyết ổn định và hỗ trợ sức khỏe tổng thể tốt hơn.
Chiều 8.5, Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ tổ chức tổng kết 2 năm triển khai kỹ thuật ghép thận, chuyển giao từ Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM).
Trước đó, ngày 25.4.2024, bệnh viện này đã triển khai ca ghép thận đầu tiên qua đó trở thành trung tâm ghép tạng thứ 26 của cả nước và là bệnh viện đầu tiên tại Đồng bằng sông Cửu Long triển khai thành công kỹ thuật ghép thận.
Tính đến tháng 4.2026, tức sau 2 năm, Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ đã thực hiện thành công 20 ca ghép thận, trong đó có 15 ca cùng huyết thống, 3 ca vợ chồng và 2 ca từ người hiến chết não.
Thông tin thêm về các ca ghép, bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Minh Vũ, Giám đốc Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ, cho biết các bệnh nhân sau ghép đều có sức khỏe ổn định, chức năng thận tốt và chất lượng cuộc sống được nâng lên rõ rệt.
"Con số 20 ca ghép thận không chỉ là thống kê, phía sau đó là 20 cuộc đời được mở ra một trang mới. Đó là những bệnh nhân từng phải sống cùng suy thận mạn, từng gắn bó với những lần lọc máu kéo dài, từng mang trong mình nỗi lo về sức khỏe, chi phí và tương lai. Đó cũng là 20 gia đình từng thấp thỏm chờ đợi ngoài phòng mổ, rồi vỡ òa trong niềm vui khi người thân có thêm cơ hội sống khỏe mạnh hơn", bác sĩ Vũ nói.
Đối với người dân Đồng bằng sông Cửu Long, việc Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ thực hiện thành công kỹ thuật ghép thận cũng mang ý nghĩa quan trọng khi người bệnh không còn phải di chuyển xa để tiếp cận kỹ thuật chuyên sâu. Gia đình người bệnh cũng giảm bớt gánh nặng về thời gian, chi phí và công sức chăm sóc.
Trước đó, từ năm 2021, Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ đã trải qua một quá trình chuẩn bị bài bản, từ cơ sở pháp lý, nhân lực, trang thiết bị đến quy trình chuyên môn. Đặc biệt, sự hỗ trợ từ các chuyên gia Bệnh viện Chợ Rẫy trong quá trình chuyển giao kỹ thuật.
Sau ghép thận, hiện Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ đã cử nhân lực đi đào tạo, chuyển giao kỹ thuật hướng đến triển khai ghép gan và ghép tim trong thời gian tới.
Cách ăn mặc hay tính cách "nam tính" hoặc "mềm mại" ở trẻ không đủ để kết luận các bé thuộc LGBTQ+. Đây chỉ là biểu hiện cá tính trong quá trình phát triển, có thể thay đổi theo thời gian.
LGBTQ+ là các chữ cái viết tắt của Lesbian (đồng tính nữ), Gay (đồng tính nam), Bisexual (song tính luyến ái), Transgender (chuyển giới) và Queer (có xu hướng tính dục và bản dạng giới khác biệt, không nhận định mình theo bất kỳ nhãn nào) hoặc Questioning (đang trong giai đoạn tìm hiểu bản thân). Dấu + thể hiện sự tồn tại đa dạng của các nhóm khác trong cộng đồng như asexual, pansexual...
Theo y học và tâm lý học hiện đại, xu hướng tính dục (LGB) và bản dạng giới (T) không được xem là bệnh lý hay rối loạn. Hiệp hội Tâm lý Mỹ hay Tổ chức Y tế Thế giới đều đã khẳng định điều này. Càng không có cơ sở khoa học để xem LGBTQ+ là "trái tự nhiên" hay "lỗi hệ điều hành" của con người.
Nhiều người cho rằng cái gì phổ biến mới là "tự nhiên", nhưng sinh học không đơn giản như vậy. Nhiều nghiên cứu cho thấy xu hướng tính dục chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố di truyền và môi trường, không có một "gene đồng tính" duy nhất và tỷ lệ người từng có quan hệ cùng giới không hề hiếm. Hành vi này được ghi nhận ở nhiều loài động vật, cho thấy tự nhiên vốn đa dạng, không chỉ có một khuôn mẫu.
Cũng có lầm tưởng vấn đề tâm lý ở người LGBTQ+ xuất phát từ bản thân họ, nhưng thực tế yếu tố gây hại chủ yếu là kỳ thị, định kiến và áp lực xã hội. Những trải nghiệm như bị phân biệt đối xử hay bị ép "chuyển đổi" xu hướng có liên quan đến nguy cơ cao hơn về trầm cảm, sang chấn và ý nghĩ tự sát.
Với con bạn, điều quan trọng nhất lúc này không phải "gắn nhãn", mà là quan sát sự phát triển, tạo môi trường an toàn để trẻ thể hiện bản thân, đồng thời đồng hành, lắng nghe thay vì lo lắng quá sớm về tương lai. Điều dễ gây tổn thương cho trẻ không phải việc các em khác biệt, mà là áp lực, kỳ thị hoặc việc bị ép thay đổi, không được sống đúng với bản thân.
Dưới đây là 3 loại thực phẩm và đồ uống quen thuộc chứa caffeine và những lợi ích của chúng, theo Healthline (Mỹ).
Cà phê là đồ uống pha từ hạt cà phê - nguồn caffeine tự nhiên phổ biến nhất. Một tách cà phê khoảng 240 ml trung bình chứa khoảng 100 mg caffeine.
Tuy nhiên, hàm lượng caffeine có thể khác nhau đáng kể tùy loại cà phê và cách pha (tự pha tại nhà hay mua ngoài hàng quán). Ngoài ra còn có cà phê decaf (cà phê đã khử caffeine), vẫn chứa caffeine nhưng thấp hơn nhiều so với cà phê thông thường. Một tách decaf khoảng 240 ml có thể chứa từ 1 - 50 mg caffeine, tùy thương hiệu và phương pháp pha chế.
Tương tự hạt cà phê, hạt ca cao cũng chứa caffeine tự nhiên. Vì vậy, mọi loại chocolate hay thực phẩm vị chocolate đều có caffeine, cụ thể:
Ngoài caffeine, ca cao còn chứa flavonol và methylxanthine - những hợp chất có tính chống oxy hóa và chống viêm, có thể mang lại lợi ích sức khỏe.
Trà xanh là nguồn caffeine tự nhiên rất phổ biến, đặc biệt ở châu Á. Một ly trà xanh 240 ml thường chứa khoảng 30 - 50 mg caffeine, bằng khoảng một nửa cà phê. Trà xanh còn chứa theanine - một axit amin được cho là có thể giúp giảm căng thẳng và cải thiện chức năng não khi kết hợp với caffeine.
Caffeine giúp kích thích não và hệ thần kinh, tăng sự tỉnh táo, giảm mệt mỏi và cải thiện tập trung. Dùng ở mức vừa phải, caffeine còn có thể hỗ trợ tâm trạng, phản xạ và hiệu suất vận động.
Một số nghiên cứu cho thấy cà phê có thể giúp bảo vệ gan, giảm nguy cơ xơ gan, ung thư gan, ung thư đại trực tràng, đồng thời hỗ trợ sức khỏe tim mạch, đường ruột và giảm nguy cơ tiểu đường loại 2, đột quỵ hay một số bệnh thần kinh.
Tuy nhiên, tác dụng của caffeine phụ thuộc vào liều lượng và khả năng dung nạp của từng người. Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) cho biết người trưởng thành khỏe mạnh thường có thể tiêu thụ tối đa khoảng 400 mg caffeine/ngày mà không gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe.