Nhà Trắng ngày 3/4 công bố yêu cầu trên trong bản đề xuất ngân sách 92 trang trình lên quốc hội, kèm theo bản tóm tắt nêu rõ những ưu tiên của chính quyền Mỹ đối với các cơ quan liên bang.
Trong đề xuất, Tổng thống Donald Trump đề nghị quốc hội nhanh chóng phê duyệt hơn 1.100 tỷ USD ngân sách quốc phòng thông qua quy trình phân bổ ngân sách tiêu chuẩn, đồng thời phân bổ thêm hơn 350 tỷ USD bằng cơ chế bỏ phiếu đặc biệt để không cần đến ủng hộ từ phe Dân chủ.
Đề xuất này sẽ tăng chi tiêu của Lầu Năm Góc lên 1.500 tỷ USD, cao hơn 40% so với năm ngoái, mức tăng mạnh nhất kể từ Thế chiến II, khi chính quyền Mỹ đang nỗ lực duy trì các hoạt động quân sự ở Iran và bổ sung kho vũ khí gần cạn kiệt.
Kế hoạch không có tính ràng buộc, nhưng đóng vai trò là tuyên bố về các ưu tiên của chính quyền Mỹ khi quốc hội bắt đầu soạn thảo dự luật chi tiêu.
Yêu cầu ngân sách khổng lồ cho thấy áp lực tài chính ngày càng tăng của cuộc xung đột tại Trung Đông, hiện sắp bước sang tuần thứ 6, đồng thời châm ngòi cho một cuộc đối đầu chính trị tại quốc hội Mỹ về phương án chi trả cho kế hoạch tăng mạnh ngân sách quân sự.
Truyền thông Mỹ, dẫn thông tin từ các buổi điều trần kín tại quốc hội, cho biết cuộc chiến với Iran có thể tiêu tốn tới 2 tỷ USD mỗi ngày, cho thấy gánh nặng tài chính ngay cả khi chưa tính đến chi phí bổ sung vũ khí dài hạn.
Để bù đắp một phần chi phí tăng thêm, ông Trump đề xuất cắt giảm khoảng 73 tỷ USD ngân sách ngoài quốc phòng, tương đương 10%, nhằm “loại bỏ các chương trình thức tỉnh (woke) hay những chương trình lãng phí và bị vũ khí hóa cho mục đích chính trị”, đồng thời tăng trách nhiệm chi trả các chương trình phúc lợi của chính quyền bang và địa phương.
Tổng thống nhấn mạnh việc tăng ngân sách quốc phòng là nhiệm vụ cấp bách, khẳng định ưu tiên hàng đầu lúc này là đầu tư cho quân sự, dù có phải cắt giảm các chương trình an sinh xã hội của liên bang.
“Mỹ không thể gánh vác hết các khoản chi cho nhà trẻ, hỗ trợ y tế hay chăm sóc sức khỏe người cao tuổi”, ông Trump phát biểu tại một sự kiện nội bộ gần đây, thêm rằng những trách nhiệm này nên được chuyển giao cho các bang, để chính quyền Mỹ tập trung toàn lực vào việc “bảo vệ quân sự”.
Các lãnh đạo phe Cộng hòa đã bày tỏ thái độ cởi mở trước phương án ngân sách do Tổng thống đưa ra, nhất là khi họ đang ráo riết thúc đẩy tăng chi tiêu cho quốc phòng và thực thi luật di trú. Tuy nhiên, kế hoạch vẫn có thể bị phản đối ngay trong chính nội bộ đảng, khi một số nghị sĩ đang lo ngại về tình trạng thâm hụt ngân sách liên bang ngày càng trầm trọng.
Mỹ hiện đối mặt với mức thâm hụt hàng năm xấp xỉ 2.000 tỷ USD, trong khi tổng nợ công đã vượt ngưỡng 39.000 tỷ USD. Thực trạng trên khiến dư địa ngân sách cho các khoản chi tiêu mới trở nên hạn hẹp.
Các nghị sĩ lưỡng đảng cũng bày tỏ quan ngại về quy mô tăng cường quân sự được đề xuất, đặc biệt khi chính quyền Mỹ vẫn chưa cung cấp thông tin chi tiết về những kế hoạch sắp tới trong cuộc xung đột với Iran.
Phe Dân chủ lập tức công kích đề xuất ngân sách quốc phòng mới của Tổng thống. Bà Patty Murray, người đứng đầu cơ quan ngân sách của đảng Dân chủ tại Thượng viện, cảnh báo rằng kế hoạch này đang ưu tiên súng đạn hơn nhu cầu thiết yếu của người dân, đồng thời cáo buộc ông Trump đang theo đuổi những “cuộc chiến liều lĩnh ở nước ngoài”.
“Ông Donald Trump có thể sẵn lòng chi tiền cho bom đạn tại Trung Đông hơn là chăm lo cho các gia đình ngay tại Mỹ, nhưng tôi thì không”, bà Murray tuyên bố.
Ngoài lĩnh vực quốc phòng, chính quyền Mỹ còn đề xuất tăng ngân sách cho các cơ quan thực thi pháp luật liên bang, trong đó có khoản bổ sung hơn 40 tỷ USD cho Bộ Tư pháp.
Ông Trump đang đề nghị cấp 152 triệu USD để khởi động dự án mở cửa lại nhà tù Alcatraz trên đảo ở vịnh San Francisco, song đây là con số quá nhỏ bé so với tổng chi phí ước tính lên tới 2 tỷ USD.
Bản đề xuất này có thể khiến nợ liên bang tăng thêm hàng nghìn tỷ USD trong thập kỷ tới, nhưng phe Cộng hòa cho rằng việc tăng ngân sách quốc phòng sẽ giúp đưa chi tiêu quân sự Mỹ tiến tới mức 5% GDP và tăng cường khả năng răn đe.
Theo Đài CNN, trong bối cảnh Iran đang kiểm soát vận tải qua eo biển Hormuz, Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf ngày 4-4 lại đưa ra một lời đe dọa mới, úp mở khả năng nhắm vào một "điểm nghẽn" vận tải khác ở Trung Đông: eo biển Bab el-Mandeb, nằm giữa Yemen trên bán đảo Ả Rập và hai quốc gia Eritrea, Djibouti bên phía châu Phi.
Cụ thể phát biểu trên mạng xã hội X, ông Ghalibaf đặt câu hỏi về tầm ảnh hưởng của eo biển Bab el-Mandeb đối với kinh tế toàn cầu.
"Có bao nhiêu phần trăm dầu mỏ, khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), lúa mì, gạo và phân bón toàn cầu đi qua eo biển Bab el-Mandeb? Những quốc gia và công ty nào chiếm tỉ trọng vận chuyển lớn nhất qua eo biển này?", nguyên văn bài đăng của ông Ghalibaf.
Theo CNN, động thái này được xem là tín hiệu đe dọa của Iran về khả năng can thiệp vào điểm nghẽn hàng hải quan trọng khác của thế giới.
Eo biển Bab el-Mandeb là cửa ngõ phía nam của Biển Đỏ, nối với kênh đào Suez. Đây là tuyến đường ngắn nhất nối liền châu Á với châu Âu và Địa Trung Hải.
Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới, khoảng 12% thương mại toàn cầu và 30% lưu lượng container đi qua kênh Suez. Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ cũng bổ sung rằng khoảng 6% lượng dầu vận chuyển bằng đường biển trên toàn cầu đi qua eo Bab el-Mandeb.
Dù vậy từ cuối năm 2023, khu vực này đã ghi nhận căng thẳng gia tăng khi lực lượng Houthi tại Yemen - do Iran hậu thuẫn - liên tục tấn công tàu thuyền trên Biển Đỏ để thể hiện ủng hộ người Palestine ở Gaza trong cuộc xung đột với Israel.
Các cuộc tấn công này đã khiến lưu lượng tàu qua Biển Đỏ giảm hơn 50% theo một số ước tính, buộc nhiều hãng vận tải phải chuyển hướng vòng qua mũi Hảo Vọng ở cực nam châu Phi, làm leo thang chi phí và kéo dài thời gian vận chuyển.
Giữa lúc chiến sự tại Iran chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, Biển Đỏ cũng đóng vai trò là tuyến xuất khẩu thay thế cho dầu mỏ của Saudi Arabia nhằm giảm phụ thuộc vào eo biển Hormuz đang bị tắc nghẽn. Cảng Yanbu - điểm cuối của đường ống xuyên quốc gia - cho phép nước này vận chuyển khoảng 7 triệu thùng dầu thô mỗi ngày mà không cần đi qua eo Hormuz, theo Saudi Aramco.
Trong thời gian qua, chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nhiều lần khẳng định hải quân Iran đã “nằm dưới đáy biển”.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth từng tuyên bố sẽ “xóa sổ" lực lượng này ngay trong ngày đầu tiên của cuộc chiến kéo dài 40 ngày. Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio nâng việc loại bỏ hải quân Iran thành một trong những mục tiêu chiến tranh chính thức.
Thế nhưng vài tuần sau, các lực lượng hải quân Iran vẫn thực hiện tuần tra tại tuyến hàng hải chiến lược này. Vài tháng sau đó, các tàu ngầm lớp Ghadir xuất hiện theo đội hình ngay trong eo biển Hormuz.
Và bản thân eo biển này đến nay vẫn chưa trở lại hoạt động thương mại bình thường. Điều đó đặt ra câu hỏi cho những tuyên bố của Mỹ, rằng vì sao Iran đã không còn hải quân, nhưng họ vẫn kiểm soát eo biển Hormuz và chưa có dấu hiệu nhượng bộ trước Washington?
Giáo sư Alessio Patalano thuộc King's College London cho biết các hoạt động phong tỏa của Mỹ được triển khai “ở vị trí xa Iran hơn” nhằm “ngăn Iran tận dụng lợi thế từ các xuồng nhỏ và vũ khí tầm ngắn”.
Điều đó đồng nghĩa Mỹ thừa nhận các năng lực của Iran vẫn là mối đe dọa đáng kể. Mỹ tuyên bố phong tỏa cảng của Iran ở vòng ngoài của Hormuz trong khi Tehran trên thực chất vẫn là bên kiểm soát eo biển này.
Trước đó, Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) cho biết ít nhất 17 tàu Iran đã bị phá hủy hoặc đánh chìm trong những tuần đầu của cuộc chiến 40 ngày. Đến tháng 4, ông Trump tuyên bố đã phá hủy 158 tàu và “xóa sổ” hải quân Iran. Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, Tướng Dan Caine, nói Mỹ đã “vô hiệu hóa hiệu quả sự hiện diện hải quân chủ chốt của Iran trong khu vực”.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, gần như mọi tàu bị phát hiện, nhắm mục tiêu và đánh chìm đều thuộc hạm đội mặt nước thông thường của Hải quân Cộng hòa Hồi giáo Iran. Các khinh hạm, tàu hộ tống và tàu neo tại những cảng đã được biết trước, có thể nhìn thấy qua vệ tinh và bị các cơ quan tình báo theo dõi nhiều năm, đã trở thành mục tiêu.
Mối đe dọa thực sự
Năng lực răn đe trên biển thực sự của Iran còn có một khía cạnh khác. Một đánh giá khách quan cho thấy Tehran đã dành 3 thập niên xây dựng chiến lược hải quân dựa trên giả định rằng trong bất kỳ cuộc chiến nào với một cường quốc lớn, hạm đội mặt nước truyền thống của họ sẽ bị loại bỏ. Học thuyết này được xây dựng dựa trên những gì vẫn còn sót lại và tiếp tục chiến đấu.
Thứ còn tồn tại chính là Hải quân Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGCN) và cuộc chiến 40 ngày chưa làm thay đổi thực tế đó.
Hải quân IRGC không giống một lực lượng hải quân truyền thống và đó chính là mục đích của họ. Lực lượng này không sở hữu tàu sân bay hay tuần dương hạm mang tên lửa dẫn đường.
Thay vào đó, họ có hàng trăm xuồng tấn công tốc độ cao trang bị tên lửa chống hạm, có thể ẩn nấp trong các vịnh ven biển, giữa các đội tàu cá hoặc trong luồng tàu thương mại tại các cảng.
Từ trên không, trong thời gian phản ứng ngắn, việc phân biệt một xuồng cao tốc IRGC mang tên lửa với một tàu cá là rất khó khăn, ngay cả với những hải quân hiện đại nhất thế giới. Theo các chuyên gia quân sự, việc loại bỏ toàn bộ chúng trong một cuộc chiến kéo dài 40 ngày gần như là bất khả thi.
Bên cạnh đó, Iran còn có các tổ hợp tên lửa chống hạm bố trí trên bờ như Noor, Qader và Khalij Fars. Chúng được triển khai dọc theo bờ biển phía bắc eo biển Hormuz. Các hệ thống này đã được gia cố, phân tán và nâng cấp liên tục trong hơn 30 năm.
Chúng được đặt trong các đường hầm, hang động và trên bệ phóng cơ động có thể nhanh chóng di chuyển rồi lại ẩn nấp. Ngay cả quân đội với năng lực trinh sát vượt trội cũng khó có thể tìm và loại bỏ hết chúng.
Ngoài ra, Iran còn có thủy lôi. Trước chiến sự, một số đánh giá cho rằng Iran sở hữu khoảng 6.000 quả thủy lôi. Chúng có thể được triển khai bằng xuồng nhỏ, thuyền buồm hoặc tàu thương mại cải hoán.
Wall Street Journal dẫn nguồn tin cho biết, hơn 60% lực lượng IRGC được giao nhiệm vụ tuần tra eo biển Hormuz vẫn còn nguyên vẹn sau 6 tuần xung đột.
Đó chính là lực lượng có khả năng rải thủy lôi, kiểm soát tàu thuyền và biến eo biển thành một khu vực đầy rủi ro. Theo các chuyên gia quân sự, “hải quân chìm dưới đáy biển” mà Washington liên tục nhắc tới thực chất là phần nhỏ của hạm đội vốn chưa bao giờ là mối đe dọa chính.
Theo đánh giá của truyền thông phương Tây, kho dự trữ tên lửa hành trình và đạn đạo của Nga vẫn còn đáng kể, cho phép nước này thực hiện các đợt tập kích liên tục làm quá tải các hệ thống phòng không của Ukraine.
Tên lửa đánh chặn Patriot mất nhiều thời gian để chế tạo, và nhu cầu toàn cầu đã tăng vọt do cuộc xung đột của Mỹ với Iran, khiến nguồn cung ứng của Ukraine bị kéo căng và trở nên khan hiếm.
Nga sản xuất tới 60 tên lửa đạn đạo Iskander mỗi tháng và có kế hoạch nhân đôi con số đó vào cuối năm nay.
Trong khi đó, Lockheed Martin chỉ giao khoảng 50 tên lửa đánh chặn PAC-3 mỗi tháng. Ngay cả khi Mỹ chuyển hướng toàn bộ số lượng này sang Ukraine, nguồn cung vẫn sẽ thiếu hụt so với sản lượng tên lửa hàng tháng của Nga.
Các lực lượng Ukraine phải che chắn cho một vùng lãnh thổ rộng lớn với lượng dự trữ ngày càng giảm, buộc họ phải đưa ra những lựa chọn bất khả thi về việc nên đánh chặn mục tiêu nào và làm kiệt sức các kíp trắc thủ phòng không.
Đại tá Oleksandr Zaruba, nghiên cứu viên trưởng tại Viện Nghiên cứu Nhà nước về Thử nghiệm và Chứng nhận Vũ khí và Trang thiết bị Quân sự Ukraine, ngày 14/6 cho biết Nga được cho là đang tích cực nâng cấp hệ thống tên lửa chiến dịch - chiến thuật Iskander-M, với sản lượng đạt tới 60 quả mỗi tháng tính đến mùa xuân năm nay.
Ông Zaruba đã vạch ra 3 hướng hiện đại hóa chính đối với hệ thống tên lửa Iskander-M gồm: Nâng cao khả năng chống lại các hệ thống phòng không hiện đại, đặc biệt là Patriot; Tăng tầm bắn; Mở rộng quy mô sản xuất trong điều kiện bị trừng phạt.
Theo ông, tên lửa này được trang bị mô-đun 9B899 nâng cấp để triển khai các mồi bẫy trong giai đoạn cuối của quỹ đạo bay, chúng mô phỏng đặc trưng nhận dạng của tên lửa và làm quá tải hệ thống radar của các tổ hợp tên lửa đất đối không có nhiệm vụ đánh chặn.
Các hệ thống trên bo mạch đã được điều chỉnh để hoạt động ở chế độ quét chủ động và phát hiện các điểm mù trong vùng phủ sóng radar phòng không. Phần mềm của hệ thống được cập nhật thường xuyên.
Các biến thể tên lửa mới được sản xuất sau giai đoạn 2023-2024 sử dụng bộ xử lý xử lý hình ảnh nhanh hơn, làm tăng khả năng nhận diện, phát hiện và tấn công mục tiêu thành công. Vai trò của việc hiệu chỉnh quang học sử dụng hình ảnh địa hình kỹ thuật số cũng đã được tăng cường, giúp cải thiện độ chính xác.
"Đã có những tuyên bố cho rằng tầm bắn của tên lửa có thể được tăng lên tới 1.000km trong đợt hiện đại hóa mới nhất. Điều này có nghĩa là tên lửa có thể tấn công các mục tiêu ở bất kỳ nơi nào tại Ukraine", ông Zaruba nhấn mạnh.
Ông nói thêm rằng để đơn giản hóa quy trình sản xuất, chu kỳ chế tạo Iskander hiện đã kết hợp các yếu tố và giải pháp kỹ thuật từng được sử dụng trước đây trên tên lửa KN-23 của Triều Tiên.
"Sản lượng đã đạt 60-70 quả mỗi tháng. Tỷ lệ các thành phần điện tử do Nga sản xuất trong tên lửa đã tăng lên 90%, mặc dù các linh kiện điện tử phương Tây vẫn hiện diện. Có 7 biến thể đầu đạn, bao gồm các phiên bản xuyên phá boong-ke, đang được sử dụng để chống lại các sân bay nhằm nhắm vào lực lượng không quân chiến thuật của chúng ta. Các nỗ lực đặc biệt đang được thực hiện để định vị máy bay F-16", chuyên gia này cho biết.
Ông Zaruba lưu ý, Iskander-M đã phát triển thành một hệ thống tích cực thích ứng để khắc chế các hệ thống phòng không trong các hoạt động chiến đấu.
Nga cũng đang sản xuất hàng chục tên lửa hành trình Kh-101 mỗi tháng, và nhiều tên lửa trong số đó được phóng vào Ukraine gần như ngay lập tức sau khi rời khỏi dây chuyền sản xuất.
Ngoài tên lửa, Nga đang gia tăng việc sử dụng các loại bom hàng không nâng cấp. Các loại bom từ thời Liên Xô đang được chuyển đổi thành bom lượn có dẫn đường được trang bị bộ mô-đun dẫn đường UMPK.
Đồng thời, Nga đang phát triển một loại đạn trung gian được định vị giữa bom lượn và máy bay không người lái. Nhìn chung, tổ hợp công nghiệp - quân sự của Nga vẫn đang tiếp tục mở rộng đáng kể việc sản xuất các vũ khí tấn công đường không.