Lầu Năm Góc đang chịu áp lực tài chính ngày càng lớn và trong một số trường hợp gặp khó khăn trong việc duy trì các hoạt động huấn luyện và bảo dưỡng thường kỳ giữa lúc xung đột Iran vẫn tiếp diễn, khiến các lãnh đạo quân đội Mỹ phải thúc giục Quốc hội cấp thêm ngân sách.
Cả Mỹ và Iran đều tiếp tục phát đi tín hiệu không nhượng bộ, kiên quyết giữ vững các điều kiện mà họ nêu ra, khiến việc tìm tiếng nói chung giữa 2 bên vẫn đang gặp thách thức. Hai bên đều chịu áp lực khi xung đột kéo dài. Nếu Iran đối mặt với việc bị Mỹ phong tỏa cảng biển, thì Washington cũng đã chi một khoản tiền rất lớn cho xung đột và đang đối mặt với áp lực ngân sách ngày càng nhiều hơn.
Đô đốc Daryl Caudle, Tư lệnh Hải quân Mỹ, nói với các nghị sĩ Ủy ban Quân vụ Hạ viện hồi đầu tháng rằng ngân sách năm 2026 của Hải quân “không tính đến Chiến dịch Cuồng nộ”, đồng thời cho biết lực lượng này đang bị ảnh hưởng tới “các hoạt động thường kỳ”.
Theo ông, điều này bao gồm việc phải cắt giảm các cuộc tập trận, giảm số giờ huấn luyện bay và hạn chế đào tạo tân binh.
“Thành tích tuyển quân kỷ lục của tôi sẽ bị cản trở nếu không có thêm ngân sách để đưa những người này từ trại huấn luyện đi tiếp và chi trả tiền thưởng nhập ngũ cũng như tái nhập ngũ”, Caudle nói với các nghị sĩ.
Quân đoàn Thiết giáp số III của Lục quân Mỹ, bộ chỉ huy đóng tại bang Texas, quản lý khoảng 70.000 binh sĩ cùng hàng trăm xe tăng, đã bị cắt gần 292 triệu USD ngân sách huấn luyện vào cuối tháng 4, theo một tài liệu nội bộ mà truyền thông Mỹ đã tiếp cận được.
Trong khi đó, cơ sở đào tạo quân y của quân đội Mỹ đã hủy hàng chục khóa học và cắt nguồn tài trợ tập trung cho nhiều chương trình khác, theo một bản ghi nhớ ngày 27/4.
Thông thường, quân đội Mỹ phải sử dụng ngân sách đúng theo từng hạng mục cụ thể trừ khi được Quốc hội cho phép điều chuyển. Các hoạt động huấn luyện chủ yếu được chi từ tài khoản “Vận hành và Bảo dưỡng” (O&M).
Chuyên gia ngân sách quốc phòng Todd Harrison thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI) cho biết tài khoản O&M được dùng cho mọi thứ, từ huấn luyện, triển khai lực lượng, nhiên liệu, đi lại, sửa chữa thiết bị cho đến trả lương cho một số nhân viên dân sự của Lầu Năm Góc.
Ông Harrison nói rằng việc theo dõi chi tiêu thời gian thực của Lầu Năm Góc từ bên ngoài là bất khả thi, nhưng “hoàn toàn có khả năng” quân đội đang phải đánh đổi bằng cách cắt các chuyến công tác không cần thiết hoặc hủy huấn luyện.
Ở giai đoạn đầu chiến dịch Iran, các quan chức trong chính quyền Tổng thống Donald Trump từng thảo luận về việc đề nghị cấp bổ sung ngân sách cho quân đội, với một số người ước tính chi phí lên tới 200 tỷ USD. Tuy nhiên, sau đó chính quyền cho rằng con số này quá cao, dù chưa đưa ra đề xuất cụ thể và cũng chưa có dấu hiệu Quốc hội sẽ phê duyệt thêm ngân sách.
Ước tính gần nhất của Lầu Năm Góc về chi phí xung đột là khoảng 29 tỷ USD, theo quyền kiểm soát viên Lầu Năm Góc Jules “Jay” Hurst III phát biểu trước Hạ viện ngày 12/5.
Tuy nhiên, con số này chỉ bao gồm chi phí đạn dược và máy bay bị phá hủy, chưa tính chi phí xây dựng lại các căn cứ quân sự. Các nguồn tin nói với CNN hồi cuối tháng 4 rằng tổng chi phí thực tế có thể gần 40-50 tỷ USD.
Một quan chức quốc phòng am hiểu vấn đề ngân sách cho biết quân đội Mỹ thường gặp khó khăn tài chính vào cuối năm tài khóa liên bang kết thúc vào tháng 9, khiến họ phải xin Quốc hội cho phép điều chuyển tiền giữa các hạng mục chi tiêu. Tuy nhiên, trong năm 2026, vấn đề này xuất hiện sớm hơn nhiều do chi phí gia tăng và chiến dịch quân sự kéo dài.
Tư lệnh Không quân Mỹ Kenneth Wilsbach cũng nói trước Thượng viện tuần trước rằng xung đột với Iran đang làm trầm trọng thêm những vấn đề sẵn có về mức độ sẵn sàng chiến đấu.
Các nghị sĩ phụ trách ngân sách đã liên tục gây sức ép với Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth trong các phiên điều trần đầu tháng này, yêu cầu Lầu Năm Góc nhanh chóng trình đề xuất xin cấp thêm ngân sách.
“Nhiều khả năng chúng ta sẽ phải hoàn trả cho các tài khoản O&M đang bị sử dụng để chi trả cho chiến dịch đang diễn ra,” nghị sĩ Cộng hòa bang California Ken Calvert, Chủ tịch tiểu ban quốc phòng của Ủy ban Phân bổ Ngân sách Hạ viện, cho biết.
Theo ông Harrison, “chi phí ẩn” của cuộc xung đột sẽ dần bộc lộ theo thời gian khi thiết bị quân sự bị hao mòn nặng hơn, kéo theo chi phí bảo dưỡng tăng mạnh. Ông cho rằng nguồn ngân sách bổ sung cũng sẽ rất cần thiết để tái bổ sung kho tên lửa phòng không và tên lửa tấn công vốn đang cạn dần của Lầu Năm Góc.
Tổng thống Donald Trump ngày 1.5 cho biết ông sẽ tăng thuế nhập khẩu đối với ô tô và xe tải từ Liên minh châu Âu vào tuần tới lên 25%. Trong bài đăng trên mạng xã hội, Tổng thống Mỹ cáo buộc EU không tuân thủ thỏa thuận thương mại mà hai bên "đã hoàn toàn nhất trí".
Một thỏa thuận thương mại được ký kết vào tháng 7.2025 đã giới hạn thuế nhập khẩu của Mỹ đối với ô tô và phụ tùng của EU ở mức 15%, thấp hơn mức thuế 25% mà ông Trump áp đặt đối với nhiều đối tác thương mại khác.
Ông Trump không đưa ra lý do cụ thể nào cho việc tăng thuế quan này nhưng thông báo được đưa ra một ngày sau khi ông tiếp tục chỉ trích Thủ tướng Đức Friedrich Merz. Chủ nhân Nhà Trắng kêu gọi Thủ tướng Đức nên tập trung vào việc chấm dứt xung đột tại Ukraine thay vì "can thiệp" vào tình hình Iran.
Đức có thể sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi mức thuế quan cao đối với ô tô và phụ tùng vì nước này chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu ô tô của EU.
Tình trạng của thỏa thuận thương mại song phương đã bị đặt dấu hỏi sau khi Tòa án Tối cao Mỹ phán quyết rằng Tổng thống Trump thiếu thẩm quyền pháp lý để tuyên bố tình trạng khẩn cấp kinh tế và áp thuế đối với hàng hóa của EU.
Thỏa thuận ban đầu áp dụng mức thuế trần 15% đối với hàng hóa từ EU, nhưng phán quyết của Tòa án Tối cao Mỹ đã giảm mức đó xuống còn 10% khi chính quyền ông Trump đưa ra một loạt thuế nhập khẩu mới dựa trên các luật khác.
Theo giới chuyên gia, để tăng thuế suất, tổng thống có thể sẽ sử dụng Điều 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại năm 1962, cho phép áp thuế dựa trên lý do an ninh quốc gia.
Ông Trump đã áp thuế 25% theo Điều 232 đối với ô tô nước ngoài vào tháng 3.2025, nhưng sau đó mức thuế này đã được giảm xuống như một phần của khuôn khổ thương mại với EU.
Điểm nhấn của chuyến thăm là Việt Nam nâng cấp quan hệ với cả hai nước: "Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện tăng cường" với Ấn Độ, và "Quan hệ đối tác toàn diện" với Sri Lanka.
Xuyên suốt chuyến thăm Ấn Độ và Sri Lanka của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, có thể thấy rõ tình cảm đặc biệt mà lãnh đạo cùng nhân dân hai nước này dành cho đất nước, con người Việt Nam.
Hình ảnh chiếc cầu vượt biển mang tính biểu tượng tại Mumbai, bang Maharashtra (Ấn Độ) được thắp sáng trong đêm 7-5 bằng hình ảnh Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi để lại ấn tượng không chỉ là sự tinh tế của Ấn Độ trong ngoại giao.
Cử chỉ đó còn hàm ý mong muốn củng cố hơn nữa các cầu nối vững chắc cho quan hệ giữa hai đất nước bằng hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ, du lịch...
Tại Sri Lanka, dù trời đã về khuya đêm 7-5, lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại sân bay vẫn ấm áp và trọng thị. Đích thân Thủ tướng Sri Lanka Harini Amarasuriya đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại chân cầu thang máy bay.
Trên các tuyến đường chính của thủ đô Colombo, quốc kỳ hai nước cùng chân dung nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam và khẩu hiệu chào mừng bằng 4 thứ tiếng được treo trang trọng.
Theo giới quan sát, sự tiếp đón trọng thị và có nhiều biệt lệ của Ấn Độ và Sri Lanka với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ xuất phát từ nền tảng tin cậy chính trị vững chắc hay tình hữu nghị bền chặt. Những cử chỉ ngoại giao đó còn phản ánh kỳ vọng của New Delhi và Colombo vào tương lai phát triển quan hệ với Hà Nội và đặc biệt đánh giá cao vị thế và vai trò của Việt Nam trên thế giới.
Trong bối cảnh các tuyến thương mại, chuỗi cung ứng và cạnh tranh chiến lược dịch chuyển về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Ấn Độ cùng với Sri Lanka có vị trí án ngữ các tuyến hàng hải quốc tế huyết mạch của thế giới. Việt Nam, một nền kinh tế mở, đang đa dạng hóa thị trường, mong có thêm những "cửa" kết nối Nam Á và Ấn Độ Dương. Ở chiều ngược lại, Ấn Độ và Sri Lanka thì cần những đối tác có năng lực sản xuất, thương mại để hội nhập sâu với ASEAN.
Gặp nhau ở nhu cầu bổ trợ như vậy, nên hai bên có lý do để đi nhanh hơn, thực chất hơn.
Bộ trưởng Ngoại giao, Lao động nước ngoài và Du lịch Sri Lanka Vijitha Herath chia sẻ, nước này đặt chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong bối cảnh Colombo đang tìm kiếm việc sớm trở thành Đối tác Đối thoại theo lĩnh vực của ASEAN và tư cách thành viên của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) - những tổ chức, hiệp định mà Việt Nam là thành viên ngày càng quan trọng.
Nếu phải chọn một từ khóa cho chuyến thăm vừa qua, "định hình" có lẽ là từ thích hợp. Trên nền những ký ức tốt đẹp giữa Việt Nam với Ấn Độ và Sri Lanka, những cam kết chính trị từ cấp cao nhất đã được công bố: nâng tầm quan hệ Việt Nam - Ấn Độ lên Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường và thiết lập Đối tác toàn diện Việt Nam - Sri Lanka.
Khuôn khổ quan hệ mới hay "chiếc khung" của hợp tác trong giai đoạn mới đang được xây dựng bằng những trụ cột kinh tế, thương mại, đầu tư, an ninh - quốc phòng, khoa học - công nghệ, giao lưu nhân dân.
Tại Ấn Độ, lãnh đạo hai nước đặt ra mục tiêu mới cho hợp tác thương mại bằng con số 25 tỉ USD theo hướng cân bằng và bền vững hơn vào năm 2030. Còn tại Sri Lanka ngày 8-5, lãnh đạo hai bên nhất trí triển khai các biện pháp đột phá nhằm sớm đạt mục tiêu kim ngạch thương mại 1 tỉ USD trong tương lai gần - tức gần gấp 5 lần con số hiện nay.
Mức độ thực chất được thể hiện ở các hoạt động kết nối doanh nghiệp Việt Nam với Ấn Độ và Sri Lanka.
27 thỏa thuận hợp tác liên quan xúc tiến thương mại, hàng không, văn hóa - du lịch, khách sạn, logistics, hạ tầng trạm sạc xe điện, trí tuệ nhân tạo, dịch vụ hạ tầng sân bay... được trao tại Mumbai vào ngày 7-5 giữa doanh nghiệp hai bên trước sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Còn tại Sri Lanka, dù lịch trình bận rộn, ông vẫn đến dự và phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn doanh nghiệp hai nước vào ngày 8-5 và chứng kiến nhiều thỏa thuận được trao.
Số lượng thỏa thuận, sự quan tâm của doanh nghiệp trải rộng trên nhiều ngành, lĩnh vực phản ánh sự ủng hộ và đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp với Chính phủ mỗi nước trong việc đưa quan hệ ngày càng thực chất, đi vào chiều sâu.
Nhìn lại chuyến thăm và từ phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước Quốc hội Sri Lanka ngày 8-5, chuyến công tác lần này đã gợi hình ảnh đẹp về những chiếc cầu hữu nghị từ Biển Đông sang Ấn Độ Dương đang được gia cố bằng những nhịp hợp tác mới thực chất hơn nữa, đo đếm được và hướng đến người dân.
Chuyến thăm còn chuyển tải một thông điệp ngoại giao nhất quán của các nước đang phát triển, rằng trong bối cảnh thế giới biến động, họ tìm kiếm đối thoại và hợp tác thay cho đối đầu và chia rẽ; chọn đi cùng nhau để tiến xa hơn và củng cố năng lực tự cường, tự chủ chiến lược.
Reuters ngày 28.4 dẫn lời một quan chức Mỹ cho hay Tổng thống Donald Trump phản đối đề xuất mới nhất của Iran, làm giảm hy vọng về một giải pháp cho cuộc xung đột ở Trung Đông. Iran muốn đặt vấn đề hạt nhân của nước này sang một bên cho đến khi kết thúc xung đột và giải quyết xong tranh cãi về tàu thuyền lưu thông ở vùng Vịnh, trong khi Mỹ lại muốn xem vấn đề hạt nhân của Iran là trọng tâm đàm phán.
Trước tình hình đàm phán bế tắc, Ngoại trưởng Abbas Araghchi đến Nga gặp Tổng thống Vladimir Putin tại St. Petersburg hôm 27.4. Sau cuộc gặp, ông Araghchi hoan nghênh sự ủng hộ của Nga về ngoại giao và ca ngợi chiều sâu trong mối quan hệ chiến lược song phương. Hãng RIA dẫn lời Tổng thống Putin cho biết Nga sẽ làm mọi thứ vì lợi ích của Iran và các nước khác trong khu vực.
Cùng ngày 27.4, Bộ trưởng Quốc phòng Nga Andrei Belousov hội đàm với Thứ trưởng Quốc phòng Iran Reza Talaei-Nik bên lề Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) tại Kyrgyzstan. Hãng TASS dẫn lời ông Belousov tái khẳng định quan điểm của Nga rằng xung đột Iran phải được giải quyết bằng biện pháp ngoại giao, đồng thời tin tưởng Moscow và Tehran sẽ tiếp tục hỗ trợ nhau. Ông Talaei-Nik cũng đã đến Belarus và thảo luận về tình hình Trung Đông với Bộ trưởng Quốc phòng Viktor Khrenin.
Tại hội nghị SCO, ông Talaei-Nik tuyên bố Iran sẵn sàng chia sẻ năng lực vũ khí phòng vệ với "các quốc gia độc lập, đặc biệt là các thành viên SCO". SCO gồm Trung Quốc, Nga, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Uzbekistan, Ấn Độ, Pakistan, Iran và Belarus.
Nhận định về các động thái trên, GS Mohamed Elmasry tại Viện Nghiên cứu sau đại học Doha (Qatar) cho rằng Iran muốn thể hiện là một quốc gia "không đơn độc như Mỹ nhận định". "Tôi chắc chắn rằng bên cạnh ý nghĩa biểu tượng, còn có các cuộc thảo luận về những tuyến có thể xuất khẩu dầu. Iran có lẽ đang ở bờ vực khủng hoảng trữ dầu", Đài Al Jazeera dẫn lời ông nhận định.
Không chỉ là tâm điểm của đàm phán Mỹ - Iran, vấn đề hạt nhân còn trở nên nóng bỏng tại phiên khai mạc hội nghị của LHQ nhằm xem xét lại Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) diễn ra tại New York ngày 27.4.
Tại hội nghị, các nhóm khác nhau đề xuất 34 vị trí phó chủ tịch hội nghị, trong đó có Iran. Ông Christopher Yeaw, trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách vấn đề kiểm soát vũ khí và không phổ biến vũ khí hạt nhân, cho rằng việc Iran được chọn là một "sự xúc phạm" đối với NPT. Theo ông, không thể phủ nhận rằng "Iran từ lâu đã thể hiện sự coi thường các cam kết không phổ biến vũ khí hạt nhân" và từ chối hợp tác với cơ quan giám sát hạt nhân của LHQ để giải quyết các vấn đề về chương trình hạt nhân của nước này.
Ông Reza Najafi, Đại sứ Iran tại Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế, bác bỏ tuyên bố của phía Mỹ là "vô căn cứ và mang động cơ chính trị". "Không thể chấp nhận được việc Mỹ, quốc gia duy nhất từng sử dụng vũ khí hạt nhân và là quốc gia tiếp tục mở rộng và hiện đại hóa kho vũ khí hạt nhân của mình, lại tự đặt mình vào vị trí trọng tài về việc tuân thủ thỏa thuận hạt nhân", ông chỉ trích.