Theo thông báo điều hành giá xăng dầu của Bộ Công thương, giá các mặt hàng xăng dầu đồng loạt giảm mạnh từ 1.041 – 1.395 đồng/lít/kg, sau khi đã trích Quỹ bình ổn giá xăng dầu từ 300 – 700 đồng/lít/kg. Trong đó, xăng khoáng trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu ở mức cao nhất là 700 đồng/lít, giảm 1.395 đồng/lít; xăng sinh học E5 trích Quỹ 500 đồng, giảm 1082 đồng/lít.
Ngay sau khi có thông báo điều chỉnh giá của Bộ Công thương, các thương nhân xăng dầu cũng thực hiện điều chỉnh giá xăng E10 trên thị trường.
Theo đó, Petrolimex và PVOil thông báo giá xăng E10 RON 95-III (thị trường vùng 1) giảm 1.390 đồng, từ 25.050 đồng/lít về 23.660 đồng/lít; E10 RON 95-V cũng giảm mức tương đương, từ 25.950 đồng về 24.560 đồng/lít.
Petro Times cũng thông báo mức giảm đối với 2 loại xăng khoáng RON 95-III và xăng sinh học E10 tại thị trường vùng 1 giảm đồng loạt 1.390 đồng/lít, thị trường vùng 2 giảm 1.420 đồng/lít. Giá xăng thị trường vùng 2 (xa cảng, xa kho, xa nhà máy…) từ 460 – 490 đồng/lít.
Như vậy, giá xăng E10 hiện thấp hơn so với xăng RON95-III là 494 đồng/lít. Trong một số ý kiến gần đây, đa số người tiêu dùng và chuyên gia đều cho rằng, để lộ trình chuyển xăng sinh học hiệu quả, cần có cơ chế riêng để hỗ trợ giảm giá thành giá xăng sinh học E10 bán ra thị trường trong thời gian này.
Từ 1.6, xăng E10 RON95 sẽ được bán rộng rãi và thay thế xăng khoáng RON 95 trên thị trường; xăng E5 RON92 tiếp tục được bán tới ngày 31.12.2030.
Tin Gốc: Thanh Niên

Giá bạc trong nước tăng gần 2 triệu đồng/kg
Mở cửa phiên giao dịch 2/7, tại Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý, giá bạc miếng được niêm yết ở mức 2,259-2,329 triệu đồng/lượng, tăng 27.000-28.000 đồng/lượng (mua - bán) so với ngày hôm qua.
Đầu phiên giao dịch hôm nay, giá bạc miếng tại Công ty TNHH MTV Vàng bạc Đá quý Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - SBJ) được niêm yết ở mức 2,277-2,346 triệu đồng/lượng, tăng 63.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán so với chốt phiên hôm qua.
Trong khi đó, giá bạc miếng của Công ty CP Kim loại quý Ancarat niêm yết lúc 9h05' ở mức 2,26-2,33 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 64.000 đồng/lượng ở chiều mua và hạ 31.000 đồng/lượng ở chiều bán so với chốt phiên hôm qua.
Giá bạc thỏi tại Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý là 60,24-62,11 triệu đồng/kg (mua - bán). So với kết phiên hôm qua, giá bạc thỏi của Phú Quý tăng 720.000 đồng/kg ở chiều mua và 750.000 đồng/kg ở chiều bán.
Giá bạc thỏi của thương hiệu Sacombank cũng tăng 1,68 triệu đồng/kg ở cả hai chiều, giao dịch lên mức 60,72-62,56 triệu đồng/kg (mua - bán).
Giá bạc thỏi của thương hiệu Công ty CP Kim loại quý Ancarat cũng rơi về mức 60,267-62,133 triệu đồng/kg (mua - bán), giảm 800.000 đồng/kg ở chiều mua vào và hạ 557.000 đồng/kg ở chiều bán ra so với hôm qua.
Giá bạc thế giới phục hồi mạnh
Theo Kitco.com, tính đến 9h20 sáng 2/7 (giờ Việt Nam), giá bạc phục hồi mạnh so phiên hôm qua, giao dịch ở ngưỡng 59,81 USD/ounce; biên độ giao dịch từ 57,05-61,12 USD/ounce.
Giá bạc phục hồi từ mức thấp nhất trong 7 tháng khi giới đầu tư tập trung theo dõi bài phát biểu của Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) Kevin Warsh trong ngày 1/7 cùng báo cáo việc làm của Mỹ được công bố vào sáng 2/7 (giờ địa phương), trước khi thị trường nghỉ lễ. Diễn biến từ các sự kiện này được cho là sẽ quyết định xu hướng tiếp theo của thị trường.
Nếu các dữ liệu kinh tế tiếp tục tích cực thì khả năng Fed duy trì chính sách lãi suất cao sẽ tăng lên, qua đó gây sức ép đối với nhóm kim loại quý.
Trái lại, nếu các số liệu cho thấy nền kinh tế Mỹ bắt đầu chậm lại thì kỳ vọng Fed cắt giảm lãi suất có thể quay trở lại và hỗ trợ giá bạc phục hồi.
Bên cạnh các yếu tố về chính sách tiền tệ, nhà đầu tư cũng theo dõi diễn biến địa chính trị. Đó là triển vọng nối lại các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Iran. Nhưng phía Iran đã bác bỏ các thông tin cho rằng hai bên sẽ tiến hành đối thoại tại Doha trong tuần này, khẳng định những thông tin đó là không có cơ sở.
Dự báo giá bạc
Theo phân tích của chuyên gia Christopher Lewis, hiện các hoạt động giao dịch trên thị trường bạc vẫn tiếp tục có nhiều biến động. Giá bạc ban đầu giảm nhẹ trong giai đoạn đầu phiên giao dịch ngày 1/7, tuy nhiên, sau đó kim loại trắng đã có dấu hiệu phục hồi quay trở lại mốc 60 USD/ounce. Ông Lewis cho rằng, mức 60 USD là một ngưỡng tròn lớn, có ý nghĩa tâm lý quan trọng đối với thị trường. Việc giá bạc có thể duy trì trên mốc 60 USD/ounce trong phiên đóng cửa có thể mở ra khả năng tiến tới đường EMA 200 ngày. Tuy nhiên, kịch bản này vẫn cần chờ thêm tín hiệu xác nhận.
Ở thời điểm hiện tại, sự suy yếu của giá bạc nhiều khả năng sẽ trở thành lý do để giới đầu tư cân nhắc các vị thế bán khống. Với việc bạc đã suy yếu trong thời gian qua, một nhịp hồi phục kỹ thuật nhằm đưa thị trường trở lại trạng thái cân bằng là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
Bên cạnh đó, ông Lewis cũng lưu ý rằng, báo cáo việc làm dự kiến được công bố vào ngày 2/7 sẽ có tác động đáng kể đến diễn biến thị trường, đặc biệt khi các hoạt động giao dịch cùng ngày tại Mỹ gần như không diễn ra do kỳ nghỉ cuối tuần kéo dài 3 ngày nhân dịp Quốc khánh Mỹ; thay vào đó, chỉ một số hoạt động giao dịch hạn chế diễn ra ở nước ngoài.
Nếu thị trường đảo chiều và phá vỡ xuống dưới mức 57 USD, giá bạc nhiều khả năng sẽ tiếp tục trượt giảm về vùng 50 USD trong dài hạn. Ở thời điểm hiện tại, ông Lewis không đánh giá cao triển vọng của bạc trong ngắn hạn. Nhà phân tích này cho rằng, nếu giá bạc có thể lấy lại đường EMA 200 ngày, triển vọng sẽ thay đổi hoàn toàn; tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại thị trường vẫn còn cách khá xa mức này.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
Lời giải để huy động 38,5 triệu tỷ đồng cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam sẽ cần tới khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư phát triển. Trong bối cảnh dư địa ngân sách và tín dụng có hạn, bài toán huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân, thị trường vốn và dòng vốn quốc tế đang trở thành yêu cầu cấp thiết.
Trong cuộc trò chuyện với Người Đưa Tin (NĐT), GS.TS Hoàng Văn Cường - Đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV; nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước nhiệm kỳ 2024-2029 đã phân tích các kênh dẫn vốn tiềm năng, những điều kiện để khơi thông nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
NĐT: Thưa ông, trong báo cáo giải trình mới đây về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030, Bộ Tài chính cho biết Việt Nam sẽ cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng để đạt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên. Theo ông, đâu là những kênh dẫn vốn hiệu quả và thực tế nhất hiện nay, đặc biệt để thu hút dòng vốn tư nhân và vốn quốc tế?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Về mặt kinh tế, tăng trưởng là kết quả của đầu tư, cùng với các yếu tố như công nghệ và lao động. Muốn tăng trưởng cao thì không thể không gia tăng đầu tư. Vì vậy, nguồn vốn đầu tư là yếu tố mang tính then chốt, quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Trong nhiều năm qua, tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc rất lớn vào tăng đầu tư vốn. Mặc dù hiện nay chúng ta đang chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhưng trong giai đoạn chuyển tiếp này chưa thể ngay lập tức thay thế vốn bằng công nghệ. Chúng ta vẫn phải tiếp tục đầu tư lớn để tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi đó. Vì vậy, đáp ứng nhu cầu vốn là nhiệm vụ có tính quyết định.
Nguồn vốn ngân sách, như Bộ Tài chính nêu, chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ. Điều đó có nghĩa là nguồn vốn ngoài ngân sách phải trở thành động lực căn bản cho tăng trưởng.
Từ trước đến nay, huy động vốn ngoài ngân sách ở Việt Nam chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, tín dụng ngân hàng không thể mãi là trụ cột cho tăng trưởng cao. Chẳng hạn, năm 2025 khi tăng trưởng đạt khoảng 8,5%, tín dụng đã phải tăng tới 19,5%, kéo theo nhiều áp lực như lãi suất tăng để đảm bảo thanh khoản hệ thống.
Nếu tiếp tục phụ thuộc vào tín dụng, lãi suất sẽ bị đẩy lên, làm tăng chi phí vốn và gây khó khăn cho mục tiêu kiểm soát lạm phát. Vì vậy, năm 2026, chính sách tài chính - tiền tệ phải ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, nên Chính phủ cũng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng tối đa khoảng 15%. Do đó, phần vốn còn thiếu phải được huy động từ các kênh khác, thay vì tín dụng truyền thống.
Trước hết là thị trường vốn dài hạn như thị trường trái phiếu và cổ phiếu. Đây là các kênh có khả năng huy động nguồn vốn nhỏ lẻ, ngắn hạn để chuyển hóa thành vốn đầu tư dài hạn cho nền kinh tế.
Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, thị trường trái phiếu là kênh rất cần được thúc đẩy. Trước đây thị trường trái phiếu từng phát triển nóng do khuôn khổ pháp lý và công cụ giám sát chưa hoàn thiện, dẫn tới rủi ro. Nhưng hiện nay, chúng ta đã có nhiều điều kiện thuận lợi hơn như hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, thể chế quản lý được hoàn thiện hơn, kinh nghiệm quản lý thị trường cũng tốt hơn.
Trái phiếu có thể bao gồm trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu công trình, trái phiếu cho các dự án hạ tầng lớn. Đặc biệt là trái phiếu xanh cho các lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, năng lượng tái tạo, metro, giao thông xanh… Đây là thị trường rất tiềm năng để huy động nguồn lực.
Kênh thứ hai là hợp tác công - tư (PPP). Đây là phương thức kết hợp giữa Nhà nước và tư nhân, trong đó Nhà nước không phải bỏ quá nhiều vốn mà huy động nguồn lực tư nhân vào các lĩnh vực trước đây vốn do Nhà nước đầu tư.
Tuy nhiên, muốn PPP hấp dẫn hơn thì phải hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro, đảm bảo công bằng lợi ích cho nhà đầu tư. Dù vậy, tôi cho rằng đây vẫn là kênh có tiềm năng rất lớn, không chỉ trong hạ tầng mà còn có thể mở rộng sang văn hóa, thể thao, giáo dục, y tế và dịch vụ công.
Ngoài ra, FDI vẫn luôn là nguồn vốn rất quan trọng vì đi kèm với công nghệ. Nếu thu hút được FDI thế hệ mới, Việt Nam sẽ vừa có vốn, vừa tiếp cận được các công nghệ mới trong các lĩnh vực ưu tiên như AI, chip bán dẫn…
Đặc biệt, việc xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế tại Tp.HCM và Đà Nẵng cũng có thể trở thành đầu mối thu hút dòng vốn tài chính quốc tế vào Việt Nam.
Bên cạnh đó, cần khơi thông nguồn vốn trong dân và trong doanh nghiệp. Đây là nguồn lực rất lớn. Nếu có cơ chế phù hợp để người dân chuyển tài sản tích trữ thành vốn đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua quỹ đầu tư, trái phiếu, thị trường tài chính…, chúng ta sẽ tạo được nguồn lực rất mạnh cho phát triển.
NĐT: Theo kế hoạch, khoảng 25,5 triệu tỷ đồng sẽ phải huy động từ khu vực tư nhân. Theo ông, mục tiêu này có khả thi trong vòng 5 năm tới không?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Theo tôi, tính khả thi không phụ thuộc vào con số lớn hay nhỏ, mà phụ thuộc vào cơ chế huy động vốn. Nếu có cơ chế tốt thì ngay cả nguồn lực đang nằm trong dân như vàng tích trữ cũng có thể chuyển thành vốn đầu tư. Điều quan trọng nhất là thể chế.
Nếu chúng ta có môi trường đầu tư hấp dẫn, nhà đầu tư nước ngoài sẽ mạnh dạn rót vốn. Nếu trung tâm tài chính quốc tế hoạt động hiệu quả và thu hút được các định chế tài chính lớn thì dòng vốn đổ vào Việt Nam sẽ rất lớn. Tương tự, PPP cũng không chỉ giới hạn ở nhà đầu tư trong nước mà hoàn toàn có thể thu hút nhà đầu tư quốc tế.
Ngoài ra, Việt Nam hiện đang được nâng hạng tín nhiệm quốc gia, khả năng trả nợ được đánh giá tích cực hơn. Thị trường chứng khoán cũng vừa được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Đây là những điều kiện thuận lợi để huy động cả vốn đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp.
NĐT: Thưa ông, tăng đầu tư quy mô lớn thường đi kèm nhiều rủi ro. Theo ông, cần làm gì để vừa đạt tăng trưởng cao vừa kiểm soát được lạm phát, nợ công và ổn định ngân sách?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Đúng là khi gia tăng quy mô đầu tư và dòng vốn thì nguy cơ xảy ra tăng trưởng nóng là điều phải đặc biệt lưu ý. Nếu chạy theo mục tiêu tăng trưởng mà dồn vốn vào những lĩnh vực hấp thụ vốn nhanh nhưng thiếu bền vững, có thể tạo ra tăng trưởng cao trong ngắn hạn nhưng sẽ dẫn đến mất cân đối và bất ổn kinh tế.
Do đó, tăng trưởng phải luôn gắn với ổn định kinh tế vĩ mô. Hai mục tiêu này phải song hành với nhau. Ổn định vĩ mô tốt sẽ tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, từ đó thu hút thêm nguồn lực đầu tư. Ngược lại, tăng trưởng hiệu quả cũng giúp củng cố ổn định vĩ mô.
Điều quan trọng là Nhà nước phải định hướng dòng vốn, cả vốn công và vốn tư, vào những lĩnh vực tạo ra tăng trưởng bền vững, tránh dồn vào các tài sản mang tính đầu cơ như bất động sản hay chứng khoán. Nếu vốn chảy quá mạnh vào tài sản tài chính mà không vào sản xuất, xuất khẩu hay kinh tế thực thì sẽ dẫn đến mất cân đối và khủng hoảng.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần tiếp tục sử dụng hiệu quả các công cụ tài khóa, tiền tệ để ổn định vĩ mô. Thời gian qua chúng ta đã làm khá tốt việc này, từ ứng phó với dịch bệnh cho tới biến động giá dầu hay khủng hoảng kinh tế thế giới.
Ngoài ra, cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm để phát hiện các lĩnh vực có nguy cơ rủi ro cao, từ đó kịp thời điều tiết dòng vốn.
NĐT: Thủ tướng thời gian qua cũng nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đặc biệt là giảm hệ số ICOR. Theo ông, việc giảm ICOR có ý nghĩa như thế nào đối với mục tiêu tăng trưởng 2 con số?
GS.TS Hoàng Văn Cường: ICOR phản ánh mối quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng. Nói cách khác, nó đo hiệu quả của đồng vốn đầu tư. Giảm ICOR không phải là tìm cách kéo con số xuống một cách cơ học, mà là làm sao để đồng vốn đầu tư nhanh chóng chuyển thành sản phẩm và tăng trưởng. Nếu vốn đầu tư bị nằm đọng, không tạo ra sản phẩm thì ICOR sẽ tăng lên.
Do đó, muốn giảm ICOR thì phải bảo đảm dòng vốn được đưa vào những lĩnh vực có khả năng chuyển hóa nhanh thành sản phẩm, tránh đầu tư đầu cơ hoặc chôn vốn. Đặc biệt, các dự án đầu tư phải hoàn thành nhanh và đưa vào khai thác sớm. Đầu tư công nếu dàn trải sẽ khiến thời gian kéo dài, hiệu quả thấp. Ngược lại, đầu tư tập trung, trọng điểm và dứt điểm sẽ giúp giảm ICOR rõ rệt.
Không chỉ đầu tư công, nhiều dự án tư nhân hiện nay cũng đang bị đình trệ do vướng pháp lý, thủ tục hành chính. Điều này khiến vốn bị "chết", làm ICOR tăng cao. Vì vậy, cần tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý để khơi thông dòng vốn.
Quan trọng hơn, đầu tư phải gắn với tiềm năng phát triển. Khu vực nào, lĩnh vực nào có tiềm năng thì tập trung đầu tư vào đó. Nếu đầu tư vào nơi không có khả năng phát triển thì rất dễ trở thành nơi "chôn vốn".
NĐT: Bộ Tài chính cho biết khoảng 3 triệu tỷ đồng đang bị tồn đọng trong các dự án dở dang. Theo ông, đâu là giải pháp để xử lý dứt điểm tình trạng này?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Các dự án tồn đọng, đắp chiếu đang làm chôn vùi nguồn lực rất lớn. Không chỉ vốn đầu tư bị mắc kẹt mà đất đai, cơ hội phát triển và nhiều nguồn lực liên quan khác cũng bị đình trệ.
Nguyên nhân phổ biến nhất hiện nay là vướng mắc pháp lý. Có trường hợp do thay đổi chính sách, quy hoạch; nhưng cũng có trường hợp do doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý vi phạm quy định dẫn tới bị thanh tra, đình lại. Quốc hội vừa qua đã ban hành nghị quyết tháo gỡ các dự án vướng mắc pháp lý. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là khâu thực thi ở địa phương.
Các địa phương phải thực sự năng động, dám làm, dám quyết định thì mới xử lý được các dự án tồn đọng. Ví dụ như việc xác định lại giá đất hay xử lý các thủ tục chuyển tiếp đều đòi hỏi trách nhiệm rất lớn từ chính quyền địa phương.
Ngoài ra, có nhiều dự án chậm do nhà đầu tư yếu năng lực. Trong trường hợp này, Nhà nước cần có cơ chế để chuyển giao cho nhà đầu tư mới có năng lực hơn tiếp tục triển khai dự án.
NĐT: Chính phủ mới ban hành 8 nghị quyết cắt giảm hàng trăm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Theo ông, những cải cách này sẽ tác động thế nào tới huy động vốn và mục tiêu tăng trưởng 2 con số?
GS.TS Hoàng Văn Cường: Thủ tướng từng nói rằng cách nhanh nhất, rẻ nhất để thúc đẩy tăng trưởng là cắt giảm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm đó.
Việc cắt giảm này trước hết làm thay đổi tư duy quản lý, chuyển từ cơ chế "xin - cho" sang Nhà nước kiến tạo và phục vụ. Thay vì doanh nghiệp phải chờ cấp phép, Nhà nước xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn để doanh nghiệp tự tuân thủ và tự chịu trách nhiệm. Điều đó sẽ tạo môi trường kinh doanh thông thoáng hơn rất nhiều.
Khi thủ tục được cắt giảm, doanh nghiệp sẽ chủ động đầu tư, chủ động kinh doanh mà không bị ách tắc bởi các khâu xin phép. Nhờ đó, các nguồn lực trong xã hội được huy động mạnh mẽ hơn cho phát triển.
Tuy nhiên, cắt giảm thủ tục không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Những lĩnh vực thực sự cần quản lý vẫn phải duy trì, nhưng cần chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Nhà nước công bố tiêu chuẩn, điều kiện; doanh nghiệp tự công khai hoạt động của mình và thị trường sẽ cùng tham gia giám sát. Cách quản lý này minh bạch và hiệu quả hơn nhiều so với mô hình cấp phép truyền thống. Chính điều đó sẽ tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh, minh bạch và trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp đặc biệt quan tâm tại hội thảo "Bảo tồn chim yến gắn với phát triển bền vững thương hiệu Yến sào Khánh Hòa", do UBND tỉnh Khánh Hòa phối hợp với Báo Tiền Phong tổ chức sáng 15.7 tại Khánh Hòa.
Phát biểu tại hội thảo, bà Trịnh Thị Hồng Vân, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH Nhà nước MTV Yến sào Khánh Hòa, cho biết doanh nghiệp đã thống kê có 122 doanh nghiệp sử dụng trái phép dấu hiệu "Yến sào Khánh Hòa", 42 doanh nghiệp đăng ký tên thương mại và 55 đơn đăng ký nhãn hiệu chứa các yếu tố tương tự thương hiệu đã được bảo hộ. Đáng lo ngại hơn, trên không gian mạng đã phát hiện 280 tài khoản Facebook và website mạo danh để kinh doanh sản phẩm không rõ nguồn gốc.
"Các hành vi xâm phạm không còn xuất hiện riêng lẻ mà diễn ra có hệ thống, từ việc sử dụng trái phép tên gọi, nhãn hiệu đến sao chép gần như nguyên vẹn bao bì, logo và hệ thống nhận diện thương hiệu nhằm đánh lừa người tiêu dùng", bà Vân nhấn mạnh.
Ông Phạm Kim Đăng, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhấn mạnh dù chỉ chiếm khoảng 3,5% giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi, yến sào lại là ngành hàng có giá trị gia tăng rất cao. Hiện cả nước có khoảng 29.000 - 30.000 nhà yến, sản lượng đạt 150 - 200 tấn mỗi năm, với giá trị sản xuất ước khoảng 600 triệu USD. Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu tổ yến và các sản phẩm từ tổ yến hiện đạt khoảng 200 - 300 triệu USD/năm, tương đương 32 - 48% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam.
Yến sào không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn có ý nghĩa về sinh thái, văn hóa và chủ quyền biển đảo. Tuy nhiên, trước tác động của biến đổi khí hậu, đô thị hóa, ô nhiễm môi trường, đặc biệt là tình trạng săn bắt chim yến trái phép cùng các hành vi xâm phạm thương hiệu, ngành yến đang đứng trước yêu cầu phải phát triển theo hướng khoa học, bền vững và hội nhập quốc tế.
TS Nguyễn Mạnh Hà, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên và phát triển (CCD), cho hay hàng giả, hàng nhái đang trực tiếp làm suy giảm lòng tin của người tiêu dùng, đồng thời ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành yến Việt Nam trên thị trường quốc tế. "Nếu người tiêu dùng mất niềm tin vì mua phải hàng giả gắn mác Khánh Hòa thì thiệt hại không chỉ thuộc về doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến uy tín của cả ngành yến sào Việt Nam", TS Hà nhấn mạnh.
Theo ông Trịnh Minh Hoàng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, việc bảo tồn đàn chim yến và bảo vệ thương hiệu Yến sào Khánh Hòa là hai nhiệm vụ không thể tách rời. Bên cạnh tình trạng săn bắt chim yến trái phép, những hành vi làm giả, làm nhái, mạo danh thương hiệu trên môi trường số đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các lực lượng chức năng để bảo vệ một thương hiệu quốc gia.
Trong bối cảnh các hành vi xâm phạm thương hiệu ngày càng dịch chuyển lên không gian mạng, nhiều chuyên gia cho rằng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đã trở thành giải pháp cần thiết. Bên cạnh đó, cần sự vào cuộc đồng bộ của cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng quản lý thị trường, công an, các nền tảng số, doanh nghiệp và chính người tiêu dùng.
Tin Gốc: Thanh Niên

