Sự kiện này không chỉ là một mốc son trong biên niên sử dân tộc, mà dưới lăng kính lý luận cách mạng hiện đại, đó chính là điểm khởi đầu mang tính chiến lược cho sự hình thành của một chân dung vĩ đại – Nhà cách mạng chuyên nghiệp Hồ Chí Minh.
Hành trình trở thành một Nhà cách mạng chuyên nghiệp luôn là một con đường xuyên suốt và nhất quán, gắn liền với 3 bước đi lớn: Tìm đường, Vạch đường và Dẫn đường. Đầu tiên là lên đường dấn thân vào thực tiễn để tìm ra con đường đúng đắn; tiếp theo là vạch ra hướng đi, chiến lược cụ thể cho phong trào; và cuối cùng là đứng ở vai trò người lãnh đạo để dẫn dắt nhân dân đi đến thắng lợi.
Vào đầu thế kỷ 20, phong trào yêu nước Việt Nam rơi vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối. Đêm tối bao trùm xứ sở khi các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế lần lượt thất bại. Các bậc tiền bối tâm huyết như cụ Phan Bội Châu chọn hướng sang phương Đông, gửi gắm hy vọng vào sự đồng văn, đồng chủng của Nhật Bản; cụ Phan Châu Trinh chọn con đường cải cách, dựa vào chính nền dân chủ của nước Pháp để khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Giữa bối cảnh đó, Nguyễn Tất Thành đã có một quyết định hoàn toàn khác biệt và mang tính lịch sử – hướng thẳng sang phương Tây, đến chính sào huyệt của kẻ đang đô hộ đất nước mình. Người muốn xem nước Pháp và các nước phát triển khác vận hành ra sao; tự do, bình đẳng, bác ái của họ như thế nào, để rồi quay về giúp đỡ đồng bào.
Đó không phải là sự lựa chọn ngẫu hứng của một người trẻ tuổi, mà là kết quả của một tư duy độc lập và một lý tưởng kiên định. Mục tiêu cốt lõi của Người vô cùng rõ ràng và bất biến: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”. Lý tưởng ấy như ngọn hải đăng xuyên qua sương mù lịch sử, giúp Người không bị lạc hướng, không bị cám dỗ bởi sự phồn hoa hay những ảo tưởng chính trị nhất thời nơi xứ người.
“Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác
Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất
Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre”
(Người đi tìm hình của nước – Chế Lan Viên)
Bước chân xuống tàu năm 21 tuổi, Nguyễn Tất Thành đã mang tầm vóc của một nhà cách mạng chuyên nghiệp tương lai: Không rập khuôn, không giáo điều, nhìn thẳng vào thực tiễn và lấy lợi ích tối cao của dân tộc làm thước đo duy nhất.
Hành trình của Người không được trải bằng nhung lụa hay những khoản tài trợ. Đó là hành trình của một người lao động cô đơn chống chọi với nghịch cảnh thế kỷ, mà ở đó, 2 trở ngại lớn nhất là: kinh phí, trình độ học vấn và khác biệt văn hóa, ngôn ngữ
Bản lĩnh vượt qua rào cản tài chính từ 2 bàn tay trắng
Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước với hành lý vỏn vẹn là lòng yêu nước và đôi bàn tay trắng. Không có tổ chức hay cá nhân nào bảo trợ cho hoạt động này của Người. Câu nói lịch sử khi Người trả lời bạn mình trước chuyến đi: “Đây, tiền đây!” – vừa nói vừa giơ hai bàn tay, chính là tuyên ngôn về tinh thần tự lực cánh sinh.
Để có thể duy trì hành trình tìm đường, Người đã chấp nhận làm bất cứ công việc chân tay nặng nhọc nào: từ phụ bếp dưới boong tàu nóng bức, quét tuyết giữa mùa đông Paris, đốt lò ở London, đến rửa ảnh, bán báo… Người đã biến lao động kiếm sống thành phương tiện để thực hiện lý tưởng cách mạng. Tinh thần ấy chứng minh một chân lý: khi lý tưởng đủ lớn, mọi thiếu thốn về vật chất chỉ là thuốc thử cho lòng kiên trung.
Xóa bỏ khoảng cách học vấn, ngôn ngữ và văn hóa
Là một thanh niên lớn lên trong cái nôi của Nho học phương Đông, việc bước vào thế giới phương Tây hiện đại đòi hỏi có sự tái cấu trúc hoàn toàn về tư duy. Rào cản đầu tiên là ngôn ngữ. Không có trường lớp chính quy, Người tự học tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga bằng cách viết từ mới lên bàn tay khi làm việc, học qua sách báo và qua những buổi tranh luận của công nhân.
Người học không phải để lấy tấm bằng hàn lâm vinh thân phì gia, mà học để chiếm lĩnh công cụ tư duy của nhân loại, dùng chính ngôn ngữ của kẻ thù để đấu tranh trực diện với kẻ thù. Từ một người phụ việc, Người đã trở thành cây bút sắc bén của tờ báo Le Paria, tự mình viết những bản yêu sách gửi tới Hội nghị Versailles. Khát vọng tri thức và năng lực tự học phi thường đã giúp Người san lấp mọi khoảng cách về học vấn để đứng ngang hàng với các nhà tư tưởng tiến bộ thế giới.
“Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê
Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá
Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ
Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya?”
Sau gần 10 năm bôn ba qua nhiều châu lục, thấu hiểu tận cùng nỗi khổ của giai cấp lao động dù ở chính quốc hay thuộc địa, hành trình tìm đường của Nguyễn Tất Thành đã đạt tới bước ngoặt vĩ đại vào tháng 7.1920. Khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin.
“Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin
…Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc
“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”
Luận cương của Lênin đã giải đáp cho người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Tất Thành con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào. Đó là giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là đích đến hoàn mỹ của chặng tìm đường, đồng thời tạo tiền đề nhảy vọt cho 2 chặng tiếp theo: vạch đường – chuẩn bị lý luận, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và dẫn đường – lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và 2 cuộc kháng chiến trường kỳ đến ngày đất nước thống nhất 30.4.1975.
Sự kiện 5.6.1911 vì thế không dừng lại ở một chuyến đi tìm đường sống, mà là hành trình mang tính quy luật của một nhà cách mạng chuyên nghiệp – đi vào thực tiễn, thấu suốt bản chất, tiếp thu lý luận khoa học để quay lại cải tạo thực tiễn đất nước.
Hành trình tìm đường năm 1911 của Nguyễn Tất Thành mang giá trị thời đại sâu sắc, là tấm gương soi chiếu cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hôm nay, đặc biệt là những người đang trực tiếp vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Việc chuyển đổi và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp đặt lên vai đội ngũ cán bộ cơ sở một khối lượng công việc khổng lồ, đa diện và phức tạp. Áp lực từ tiến độ, từ sự mong mỏi của người dân, cùng với những rào cản về cơ chế chính sách chưa đồng bộ đôi lúc đã tạo ra tâm lý mệt mỏi, quá tải. Thực tế cho thấy, đã có những biểu hiện sa sút ý chí, tư tưởng “né tránh, sợ sai, sợ trách nhiệm” hay co cụm ở một bộ phận cán bộ.
Đối chiếu với bước chân đầu tiên của nhà cách mạng chuyên nghiệp Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay cần khắc sâu 3 bài học thực tiễn:
Kiên định ý thức phụng sự nhân dân để chế ngự áp lực tinh thần. Khi đối diện với khối lượng công việc tăng lên gấp bội, nếu không có một lý tưởng trong sáng và cái tâm phụng sự vô điều kiện như Bác năm xưa, người cán bộ rất dễ nản lòng. Áp lực của chính quyền tinh gọn phải được nhìn nhận như một môi trường rèn luyện bản lĩnh. Cán bộ phải tự vượt qua “vùng an toàn” của bản thân, xem khó khăn là thước đo năng lực bản thân.
Chủ động tìm đường, sáng tạo trong thực thi công vụ. Thay vì thụ động chờ đợi hay đổ lỗi cho hoàn cảnh thiếu thốn nguồn lực, cán bộ cần chủ động tìm đường và sáng tạo trong thực thi công vụ, nhất là khi địa phương triển khai những cơ chế mới chưa từng có tiền lệ. Học Bác ở tinh thần dấn thân, mỗi đảng viên phải phát huy tư duy sáng tạo, chủ động nghiên cứu, tìm đường tháo gỡ khó khăn cho cơ sở trong phạm vi thẩm quyền, thay vì tư duy lối mòn hay đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên.
Không ngừng nâng tầm tri thức và năng lực thực tiễn. Mô hình quản trị hiện đại đòi hỏi người cán bộ không thể bằng lòng với vốn kiến thức cũ. Tinh thần tự học ngôn ngữ, tự học lý luận của Bác là bài học lớn cho việc tự nâng cao năng lực công nghệ, pháp lý và kỹ năng quản lý hiện đại của cán bộ ngày nay. Học và làm phải đi đôi, lấy sự hài lòng và ấm no của nhân dân làm đích đến cuối cùng cho mọi chính sách.
Khó khăn, áp lực của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn chuyển đổi mô hình quản lý hiện nay là rất lớn, nhưng chắc chắn không thể so sánh với muôn trùng gian khổ, thiếu thốn và hiểm nguy mà người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã trải qua năm 1911.
Kỷ niệm 115 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên xốc lại tinh thần, tự soi, tự sửa. Muốn vạch đường cho phong trào cơ sở phát triển, muốn đủ uy tín để dẫn đường nhân dân, trước hết mỗi người phải thắng được tâm lý sợ khó, ngại khổ của bản thân.
Đó mới chính là hành động thiết thực nhất để tiếp nối tinh thần của chuyến đi lịch sử cách đây hơn một thế kỷ.
Chiều 8.5 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã dự Diễn đàn Hợp tác thương mại, đầu tư và du lịch Việt Nam - Sri Lanka do Liên đoàn Thương mại - Công nghiệp Việt Nam phối hợp với Hội đồng xúc tiến xuất khẩu quốc gia Sri Lanka tổ chức.
Cùng dự có bà Harini Amarasuriya, Thủ tướng Sri Lanka; lãnh đạo các bộ, ngành; đông đảo doanh nghiệp hai nước.
Phát biểu tại diễn đàn, Thủ tướng Sri Lanka Harini Amarasuriya bày tỏ mong muốn được học hỏi kinh nghiệm phát triển của Việt Nam và làm sâu sắc hơn nữa trong việc tạo thuận lợi thương mại, kết nối và hợp tác. Các doanh nghiệp Sri Lanka đã thiết lập khoảng 30 dự án đầu tư tại Việt Nam, phản ánh niềm tin của các doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh năng động, ổn định và thân thiện của Việt Nam.
Thủ tướng Sri Lanka Harini Amarasuriya mong muốn các doanh nghiệp Việt Nam tìm hiểu cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực then chốt như: thương mại và đầu tư, giáo dục, nông nghiệp và chế biến thực phẩm, logistics và hàng không, điện tử và công nghệ thông tin, du lịch và khách sạn.
Thủ tướng khẳng định Sri Lanka sẵn sàng trở thành một đối tác tin cậy, cởi mở và hướng tới tương lai; khuyến khích việc thường xuyên cử các đoàn doanh nghiệp, tiến hành các chuyến thăm lẫn nhau và đối thoại liên tục giữa hai bên để xây dựng các quan hệ đối tác bền vững.
Phát biểu tại diễn đàn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh diễn đàn không chỉ là nơi gặp gỡ, trao đổi cơ hội hợp tác, mà còn là biểu tượng của sự kết nối giữa hai nền kinh tế, giữa hai khu vực và rộng hơn là giữa các dòng chảy thương mại, đầu tư và phát triển của thế giới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng, mặc dù hợp tác kinh tế giữa hai nước đã có bước tiến nhất định, nhưng cần nhìn nhận thẳng thắn rằng quy mô hiện nay vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng. Việc thúc đẩy kết nối hàng không trực tiếp, đặc biệt là việc mở đường bay giữa Colombo và Thành phố Hồ Chí Minh, là một bước đi thiết thực và có ý nghĩa chiến lược.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ, trong thời gian tới, hợp tác Việt Nam - Sri Lanka cần được triển khai theo cách tiếp cận hiệu quả, có trọng tâm và hướng tới kết quả cụ thể.
Trước hết, hai bên cần ưu tiên phát triển kết nối logistics và trung chuyển hàng hóa. Đây là lĩnh vực phù hợp với lợi thế của Sri Lanka và nhu cầu của Việt Nam trong việc mở rộng không gian kinh tế ra Ẩn Độ Dương.
Thứ hai, thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác có tính bổ trợ cao như nông nghiệp, chế biến thực phẩm, dệt may, thương mại trung gian và dịch vụ. Đây là những lĩnh vực có thể triển khai nhanh và tạo hiệu quả rõ rệt.
Thứ ba, tăng cường kết nối du lịch và giao lưu nhân dân. Khi con người được kết nối, niềm tin được củng cố, các dòng chảy kinh tế sẽ phát triển tự nhiên.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, Việt Nam cam kết tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi, minh bạch và ổn định. Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, phát triển hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Việt Nam bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, tăng cường đối thoại và đồng hành cùng doanh nghiệp trong suốt quá trình triển khai dự án; mong muốn Việt Nam không chỉ là nơi để đầu tư, mà là nơi để phát triển lâu dài và bền vững.
Việt Nam đang chuyển đổi mạnh mẽ phương thức quản lý theo hướng phục vụ, hỗ trợ doanh nghiệp, tạo điều kiện để mọi dự án hợp pháp được triển khai thuận lợi và hiệu quả. Doanh nghiệp cần đóng vai trò trung tâm và tiên phong trong hợp tác giữa hai nước. Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và Sri Lanka sẽ chủ động hơn, mạnh dạn hơn trong việc kết nối, đầu tư và mở rộng thị trường.
Hợp tác Việt Nam - Sri Lanka cần được nhìn trong không gian rộng lớn hơn: không gian của Ấn Độ Dương, của Nam Á và của các chuỗi cung ứng toàn cầu đang hình thành. Vấn đề không chỉ là tiềm năng, mà là hành động - hành động nhanh, quyết liệt và hiệu quả.
Tại diễn đàn, trước sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Thủ tướng Sri Lanka Harini Amarasuriya và lãnh đạo cấp cao hai nước, Vietnam Airlines đã ấn nút mở đường bay thẳng giữa TP.HCM - Colombo. Vietjet cũng đã chính thức công bố đường bay thẳng giữa TP.HCM và Colombo.
Nhân dịp này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Thủ tướng Sri Lanka Harini Amarasuriya và lãnh đạo cấp cao hai nước đã chứng kiến Lễ trao các văn kiện hợp tác giữa một số doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch, chế biến nông sản, cao su, phân bón, hóa chất.
Chiều 14.7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với các cơ quan về phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia.
Phát biểu tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải đặt công nghiệp hàng hải quốc gia đúng vị trí trong chiến lược xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước quán triệt không phát triển từng nhà máy, từng địa phương hoặc từng loại sản phẩm biệt lập, chính sách phải tạo được liên kết chuỗi, thị trường ổn định, phân công hợp lý và hiệu quả tổng thể.
Nhà nước kiến tạo phát triển, định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, tổ chức thị trường và bảo đảm những năng lực thiết yếu, đồng thời không bao cấp trở lại, không làm thay doanh nghiệp.
Doanh nghiệp trực tiếp đầu tư, sản xuất, đổi mới, cạnh tranh và chịu trách nhiệm về hiệu quả. Bên cạnh đó cần phân vai đúng, phát huy thế mạnh của từng khu vực kinh tế, bảo đảm cạnh tranh minh bạch và không dùng chính sách để che lấp yếu kém quản trị.
Mọi lựa chọn phải căn cứ vào hiệu quả dài hạn, khả năng làm chủ hoặc tiếp nhận công nghệ, năng lực quản trị, thị trường và phần giá trị giữ lại trong nước; không chạy theo quy mô, thứ hạng hình thức; không đầu tư dàn trải, trùng lặp; không đánh đổi chất lượng, an toàn, môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Về nhiệm vụ trước mắt, cần tập trung mở khóa thị trường, khai thác hiệu quả năng lực hiện có và xử lý các điểm nghẽn.
Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo Chính phủ khẩn trương xây dựng Chương trình quốc gia phát triển công nghiệp hàng hải và cơ khí biển đến năm 2035, tầm nhìn 2050. Chương trình phải xác định rõ mục tiêu, trọng tâm, lộ trình, nguồn lực, cơ chế tổ chức thực hiện; gắn kết với chiến lược đội tàu, vận tải thủy, cảng, logistics, năng lượng biển và quốc phòng - an ninh; khắc phục tình trạng chính sách phân tán, thiếu công cụ và thiếu sản phẩm đầu ra.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gợi mở nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế tài chính, tín dụng, bảo lãnh và bảo hiểm phù hợp với đặc thù hợp đồng lớn, chu kỳ dài, rủi ro cao của ngành đóng tàu.
Cơ chế hỗ trợ phải có điều kiện, đúng đối tượng, gắn với đơn hàng, năng lực doanh nghiệp, phương án tài chính khả thi và quản trị minh bạch; không cấp vốn để bù lỗ, không tạo nợ xấu mới, không hợp thức hóa sai phạm cũ. Chính phủ cụ thể hóa các công cụ và quy trình kiểm soát theo thẩm quyền.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý về việc tổ chức lại thị trường trong nước, gắn nhu cầu phát triển đội tàu biển, phương tiện thủy nội địa, tàu công vụ, dịch vụ ngoài khơi và quốc phòng - an ninh với năng lực công nghiệp trong nước trên nguyên tắc cạnh tranh, chất lượng và hiệu quả.
Cùng đó, cần có chính sách phù hợp để khuyến khích sản phẩm trong nước đáp ứng tiêu chuẩn, giá thành, tiến độ và chi phí vòng đời. Trước mắt cần coi sửa chữa, hoán cải, nâng cấp xanh, bảo trì và dịch vụ vòng đời là hướng quan trọng để khai thác năng lực hiện có, tạo dòng tiền và giữ lao động kỹ thuật có tay nghề cao.
Cần xử lý các tồn tại theo pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, chủ nợ, người lao động và các bên liên quan; bảo đảm kỷ luật, minh bạch, không thất thoát tài sản nhà nước; không xử lý cơ học làm mất hạ tầng, công nghệ, dữ liệu, quan hệ khách hàng và đội ngũ lao động kỹ thuật khó tái tạo.
Về nhiệm vụ lâu dài, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ phải chuyển từ duy trì năng lực sản xuất sang xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hàng hải và đường thủy hiện đại, xanh, số, có khả năng tự chủ và cạnh tranh quốc tế.
Tinh thần chung là phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia bằng tư duy hệ sinh thái, lựa chọn có trọng tâm và kỷ luật thực thi; phát huy đúng vai trò của Nhà nước, các khu vực doanh nghiệp và hợp tác quốc tế; không cứu trợ dàn trải, không bao cấp trở lại, không đầu tư theo phong trào nhưng cũng không buông lỏng để mất năng lực công nghiệp chiến lược.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ đạo phải xử lý dứt điểm tồn tại, bảo toàn cái còn giá trị và tổ chức lại nhu cầu của đất nước thành thị trường có kỷ luật cho những doanh nghiệp thực sự có năng lực, có khả năng phát triển tốt.
Phát biểu tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho hay, sau thành công của Đại hội XIV của Đảng, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 và đợt 1 kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, có thể nói đường lối, hướng đi đã rõ ràng, mạch lạc; cơ cấu, tổ chức, đặc biệt về nhân sự của bộ máy trong toàn hệ thống chính trị đã cơ bản hoàn chỉnh. Nhiệm vụ hiện nay là "làm và làm đúng, làm quyết liệt, hiệu quả".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh 5 vấn đề trọng tâm, xuyên suốt. Trước hết, phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng các quy định của Đảng là thể chế bản lề, bảo đảm Đảng vận hành như một khối thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị.
Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng, hiểu sâu và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, coi đó là trách nhiệm chính trị trực tiếp của mình. Nếu nhận thức không đầy đủ, thực hiện không nghiêm, thì rất dễ dẫn đến tình trạng tùy tiện trong vận dụng, lỏng lẻo trong kỷ luật, thiếu thống nhất trong hành động.
"Không được phép hiểu khác, làm khác, càng không được vận dụng theo hướng thuận lợi cho riêng mình", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói, đồng thời lưu ý việc kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm vi phạm, khuyến khích, biểu dương cách làm hay, sáng tạo theo quy định.
Nội dung tiếp theo là đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, không ít nơi, không ít cấp vẫn tồn tại tư duy phát triển chủ yếu dựa vào cái sẵn có, lấy ngân sách nhà nước, đất đai và đầu tư công làm trụ cột chính. Đây là cách tiếp cận coi nguồn lực phát triển là hữu hạn và tĩnh, thiên về phân chia hơn là tạo lập.
"Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng bứt phá, không chỉ vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất, càng không thể đặt toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai Nhà nước", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Thực tiễn trên đòi hỏi phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo, dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực. Vốn nhà nước cần được định vị là vốn mồi, vốn kiến tạo nhằm định hình không gian phát triển, giảm thiểu rủi ro ban đầu. Vốn doanh nghiệp (DN), bao gồm khu vực tư nhân và FDI, cần được định hướng vào các ngành sản xuất giá trị gia tăng cao, các dự án đổi mới sáng tạo và các chuỗi giá trị tri thức. Nguồn vốn vay nước ngoài phải được sử dụng theo nguyên tắc chọn lọc chiến lược, ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao.
Đặc biệt, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, phải coi trọng việc khơi thông vốn của nhân dân, xem đây là đột phá chiến lược trong giai đoạn mới.
Song song với nguồn lực, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu kiên quyết khắc phục tư duy cục bộ địa giới hành chính, cục bộ ngành, cục bộ nhiệm kỳ trong quy hoạch phát triển. Quy hoạch phát triển tổng thể phải thể hiện được tư duy tích hợp, đa mục tiêu, dài hạn. Mỗi quy hoạch phát triển địa phương, quy hoạch ngành phải được nhìn trong cấu trúc tổng thể, gắn với liên kết vùng, gắn với tầm nhìn "hướng Đông - tỏa Tây", "trục Bắc - Nam liền dải".
Trong quy hoạch tổng thể phải đặc biệt chú trọng hơn nữa quy hoạch năng lượng. "Không có năng lượng đủ, ổn định, bền vững, giá phù hợp và phân bổ hợp lý thì không thể có công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công, không thể có tăng trưởng cao kéo dài, không thể có những không gian phát triển mới", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng yêu cầu dứt khoát chấm dứt tình trạng đầu tư theo phong trào, theo mong muốn chủ quan, theo cơ chế xin - cho, theo nhiệm kỳ, theo hình thức bề ngoài. Mọi dự án phải chú trọng yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, chuẩn chất lượng quốc gia, yêu cầu đồng bộ, hiện đại, vận hành được lâu dài, phục vụ được mục tiêu phát triển thực sự.
Vẫn theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, nền kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng tế bào của nó khỏe mạnh. Tăng trưởng thực chất phải được hình thành cả hai chiều từ trên xuống và cả từ dưới lên, trong từng mắt xích của nền kinh tế, từ từng hộ gia đình, từng hộ kinh doanh, từng cơ sở sản xuất, từng DN.
Do đó, phải kiến tạo môi trường phát triển để hàng triệu người dân nhận thấy cơ hội; để mỗi hộ gia đình, hộ kinh doanh có điều kiện thuận lợi đầu tư, mở rộng sản xuất, gắn bó lâu dài với nền kinh tế; để DN nhìn thấy thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển bền vững.
Vấn đề cuối cùng là tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh một nguyên lý xuyên suốt: T.Ư mạnh về định hướng chiến lược, thể chế và giám sát; địa phương mạnh về tổ chức thực hiện, trong đó cấp xã đóng vai trò then chốt quyết định chất lượng vận hành của toàn hệ thống.
Để hiện thực hóa tư duy này, cần xây dựng cấp xã mạnh về năng lực ra quyết định mạnh về huy động nguồn lực và mạnh về giám sát và phản hồi.