Mỗi mùa tổng kết năm học, mạng xã hội lại ngập tràn hình ảnh giấy khen, phần thưởng và những dòng trạng thái đầy tự hào của cha mẹ. Là phụ huynh, hẳn ai cũng hạnh phúc khi thấy nỗ lực của con cái được ghi nhận. Nhưng tôi nghĩ, phía sau những lời tung hô ấy còn có những cảm xúc ít khi được nói ra.
Tôi từng là một trong những phụ huynh lặng lẽ chạnh lòng khi thấy con mình không có tên trong danh sách được tuyên dương cuối năm của lớp. Không phải vì tôi yêu con ít hơn những người khác. Cũng không phải vì tôi cho rằng con mình giỏi giang hơn tất cả. Chỉ đơn giản là khi nhìn những đứa trẻ khác bước lên nhận giấy khen, còn con mình đứng dưới sân trường như bao học sinh bình thường khác, tôi không tránh khỏi cảm giác hụt hẫng.
Tôi bắt đầu tự hỏi: Liệu con có đang bị đánh giá chưa công bằng? Liệu giáo viên có vô tình thiên vị những học sinh nổi bật, ngoan ngoãn hoặc hợp với cách nhìn của mình hơn? Liệu năng lực và nỗ lực của con có bị bỏ sót?
Tôi nghĩ những băn khoăn ấy không phải vô cớ. Giáo viên, dù tận tâm đến đâu, vẫn là con người. Mà đã là con người thì khó tránh khỏi cảm xúc cá nhân, những thiện cảm hay định kiến vô thức. Trong thực tế, không phải lúc nào việc đánh giá học sinh cũng hoàn toàn khách quan. Có những em được chú ý nhiều hơn vì năng động hơn, lễ phép hơn, tương tác tốt hơn hoặc đơn giản là tạo được ấn tượng tích cực với thầy cô.
Nhưng rồi, sau những bức xúc ban đầu, tôi buộc phải đối diện với một câu hỏi khó hơn nhiều: Liệu mình đang thật sự bảo vệ con trước sự bất công, hay chỉ đang bảo vệ cái tôi của một người cha khi thấy con mình không được công nhận như những đứa trẻ khác?
>> Tôi khoe con ‘không bị đúp’ trên Facebook
Cha mẹ nào cũng yêu con và chính tình yêu ấy đôi khi khiến chúng ta mất đi sự khách quan cần thiết. Chúng ta nhìn thấy nỗ lực của con ở nhà, nhìn thấy những điểm mạnh, những tiến bộ và cả những thiệt thòi mà con có thể đang chịu đựng. Trong khi đó, giáo viên lại nhìn con trong một môi trường khác: lớp học, tập thể, kỷ luật, kết quả học tập và cách con tương tác với bạn bè.
Có thể cha mẹ chưa nhìn thấy toàn bộ bức tranh. Tôi từng nhận ra mình mang sự thất vọng đó về nhà sau buổi họp phụ huynh. Không phải bằng những lời trách mắng nặng nề với con, nhưng bằng ánh mắt, bằng những câu hỏi vô tình tạo áp lực. Và rồi tôi hiểu rằng nếu tôi để cảm xúc ấy chi phối, người tổn thương không phải giáo viên, mà chính là con.
Một đứa trẻ khi nghe cha mẹ buồn vì mình không có giấy khen thường chỉ nghĩ rất đơn giản: “Mình kém cỏi nên ba mẹ thất vọng”. Từ đó, trẻ có thể hình thành một suy nghĩ nguy hiểm: giá trị của bản thân phụ thuộc vào thành tích và sự công nhận của người lớn. Có giấy khen thì mình giỏi, còn không có nghĩa là mình kém hơn người khác. Đó không phải là điều tôi muốn con học được sau một năm học.
Suy cho cùng, giấy khen chỉ là một hình thức ghi nhận. Nhưng trong nhiều trường hợp, người lớn lại vô tình biến nó thành thước đo giá trị của trẻ, thậm chí là thước đo thành công của chính mình. Tôi từng tự hỏi: từ khi nào mùa tổng kết năm học lại trở thành mùa so sánh giữa các gia đình? Từ khi nào niềm vui học tập của trẻ em lại bị thay thế bằng nỗi lo của người lớn về việc con mình có “bằng bạn bằng bè” hay không?
Sau nhiều lần tự vấn, tôi nghĩ điều cần thiết nhất có lẽ là sự công bằng từ cả hai phía. Với giáo viên, đó là sự minh bạch trong đánh giá, sự cẩn trọng trong lời nói và ý thức rằng mọi học sinh đều cần được nhìn thấy, không chỉ những em nổi bật nhất hay hợp ý mình nhất. Với phụ huynh, đó là sự tỉnh táo để phân biệt giữa việc bảo vệ con và việc áp đặt kỳ vọng của bản thân lên con. Không phải lúc nào con không được khen cũng là thất bại.
Điều một đứa trẻ cần nhất sau một năm học đôi khi chỉ là câu hỏi của người lớn: “Năm nay con đã cố gắng điều gì? Điều gì khiến con vui nhất? Con muốn mình tiến bộ ở điểm nào trong năm tới?”. Nếu con còn hạn chế, hãy dạy con cải thiện nhưng không mặc cảm. Nếu con không được ghi nhận, hãy giúp con hiểu rằng giá trị của bản thân không nằm trọn trong một tờ giấy khen.
Tôi viết những dòng này không phải để phê phán phụ huynh. Tôi viết từ trải nghiệm của chính mình, từ những lần nhận ra rằng đôi khi tôi nhìn câu chuyện của con bằng nỗi so sánh và kỳ vọng của người lớn nhiều hơn là bằng nhu cầu thật sự của một đứa trẻ. Cuối cùng, điều chúng ta mong muốn ở con là gì? Một đứa trẻ luôn được gọi tên trong các lễ tuyên dương, hay một con người có năng lực, có nhân cách, biết nỗ lực, biết đối diện với những điều chưa công bằng mà vẫn giữ được lòng tự trọng?
Nếu câu trả lời là điều thứ hai, có lẽ chính người lớn cũng cần học lại cách nhìn về giấy khen, về giáo viên, về con cái và về những kỳ vọng của mình. Bởi vết thương lớn nhất của trẻ không đến từ việc thiếu một tờ giấy khen, mà đến từ ánh mắt thất vọng của cha mẹ khi các em không đạt được điều người lớn mong đợi.
Chín tháng trước, tôi cũng giống như hàng nghìn sinh viên khác bước ra khỏi cổng trường đại học với rất nhiều hy vọng. Sau bốn năm học tập, ai cũng nghĩ rằng tấm bằng đại học sẽ mở ra cánh cửa nghề nghiệp ổn định, ít nhất là một công việc đúng chuyên ngành, có cơ hội phát triển và đủ để tự nuôi sống bản thân.
May mắn hơn nhiều bạn bè đồng trang lứa, tôi tìm được một công việc khá ổn định ở một công ty chỉ sau vài tháng tốt nghiệp. Thu nhập chưa phải quá cao nhưng đủ để tôi trang trải cuộc sống ở thành phố, phụ giúp gia đình đôi chút và quan trọng nhất là có cảm giác mình đang đi đúng hướng.
Nhưng không phải ai cũng có được sự may mắn đó. Một người bạn thân của tôi tốt nghiệp ngành Quản trị kinh doanh cùng thời điểm với tôi. Khi còn học đại học, cậu ấy là người năng động, tham gia câu lạc bộ, từng làm thêm nhiều công việc liên quan đến bán hàng và Marketing. Chúng tôi đều nghĩ rằng sau khi ra trường, cậu ấy sẽ dễ dàng vào làm ở một công ty lớn với vị trí nhân viên kinh doanh hoặc quản trị dự án.
Thế nhưng, gần một năm trôi qua, điều cậu ấy nhận được không phải là thư mời từ các doanh nghiệp lớn mà là hàng chục email từ chối tuyển dụng, hoặc im lặng sau những buổi phỏng vấn. Hiện tại, bạn tôi đang kiếm sống bằng công việc bán hàng tại một cửa hàng siêu thị mini gần nhà.
>> Tôi về nước làm lễ tân lương 8 triệu sau 5 năm du học
Tôi không xem thường công việc bán hàng, nhưng sự đối lập quá lớn giữa những gì mình từng kỳ vọng và thực tế đang diễn ra khiến tôi không khỏi suy nghĩ. Một người học đại học bốn năm, mang trong tay tấm bằng cử nhân Quản trị kinh doanh, cuối cùng lại đứng tính tiền từng chai nước ngọt, từng gói mì và làm việc hơn 10 tiếng mỗi ngày trong một cửa hàng nhỏ, liệu có xứng đáng không?
Có lần, tôi ghé qua chỗ làm của bạn vào buổi tối, thấy cậu đang ngồi ghi sổ hàng hóa, phía sau là những kệ bánh kẹo và mì gói chất đầy. Nhìn bạn mình trong bộ đồng phục nhân viên bán hàng, tôi chợt thấy chạnh lòng cho một thế hệ trẻ đang phải vật lộn giữa lý tưởng học tập và thực tế khắc nghiệt của thị trường lao động.
Bạn tôi kể đã nộp hồ sơ vào rất nhiều công ty. Có nơi yêu cầu kinh nghiệm tối thiểu một đến hai năm dù tuyển vị trí dành cho sinh viên mới ra trường. Có nơi phỏng vấn nhiều vòng rồi cuối cùng chọn người "phù hợp hơn". Có công ty đăng tuyển liên tục nhưng thực chất mức lương quá thấp hoặc môi trường làm việc thiếu ổn định.
Sau nhiều tháng thất nghiệp, bạn tôi buộc phải tìm việc làm thêm để có thu nhập. Ban đầu chỉ định làm tạm vài tháng, nhưng rồi thời gian cứ kéo dài vì chưa xin được việc chuyên môn. Vẫn biết lao động chân chính luôn đáng trân trọng. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ rất nhiều sinh viên đang rơi vào tình trạng học một đằng nhưng cuộc sống lại đẩy họ sang một hướng khác hoàn toàn.
Xã hội vẫn thường nói đại học là con đường ngắn nhất để đổi đời. Nhưng thực tế bây giờ phức tạp hơn rất nhiều. Số lượng cử nhân ra trường mỗi năm ngày càng lớn trong khi nhu cầu tuyển dụng không tăng tương ứng. Nhiều ngành học đào tạo theo lý thuyết nhiều hơn thực hành khiến sinh viên thiếu kỹ năng thực tế. Không ít người cầm bằng đại học nhưng loay hoay không biết mình thực sự giỏi điều gì?
Trước đây, rất nhiều người chọn ngành Quản trị kinh doanh vì nghĩ đây là ngành "an toàn", dễ xin việc và phù hợp với nhiều lĩnh vực. Nhưng cũng vì quá phổ biến nên mức độ cạnh tranh cực kỳ cao. Một vị trí tuyển dụng có thể nhận hàng trăm hồ sơ. Trong cuộc cạnh tranh ấy, những người chưa có kinh nghiệm như bạn tôi dễ dàng bị loại.
Nhiều cử nhân bây giờ làm shipper, xe ôm công nghệ, bán hàng online, phục vụ quán ăn hoặc làm các công việc không liên quan đến ngành học. Một số người chấp nhận làm trái ngành để tồn tại. Một số khác tiếp tục học thêm với hy vọng tăng cơ hội cạnh tranh. Và cũng có người dần mất phương hướng sau nhiều lần bị từ chối.
Có lẽ điều mà người trẻ cần lúc này là một thị trường lao động thực tế hơn, nơi sinh viên mới ra trường có cơ hội được đào tạo và thử sức thay vì bị yêu cầu kinh nghiệm ngay từ đầu. Các trường đại học cũng cần gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn nhiều hơn để sinh viên không bị sốc khi bước vào đời hay phải kiếm việc nhờ may mắn.
Mỗi khi Hà Nội bước vào những đợt nắng nóng gay gắt, câu hỏi thường được đặt ra là làm thế nào để thành phố có thêm cây xanh, mặt nước và không gian mở để giảm nhiệt.
Tuy nhiên, có lẽ ít người để ý rằng ngay phía tây thủ đô đang tồn tại một không gian tự nhiên rất lớn mà nếu được quy hoạch hợp lý, có thể đồng thời giải quyết nhiều vấn đề của Hà Nội trong tương lai. Đó là lưu vực sông Đáy.
Trong nhiều năm qua, sông Đáy chủ yếu được nhìn nhận như một tuyến tiêu thoát nước hoặc hành lang phân lũ khi cần thiết. Nhưng khi các dự án đập dâng trên sông Hồng được triển khai, dòng sông này có cơ hội được hồi sinh với nguồn nước ổn định hơn quanh năm.
Đây cũng là thời điểm thích hợp để nhìn sông Đáy theo một cách khác: Là hạ tầng sinh thái chiến lược của vùng Thủ đô Hà Nội.
Hãy hình dung chỉ cách trung tâm Hà Nội khoảng 30-40 phút di chuyển là một vùng đô thị sông nước rộng lớn. Dọc hai bên sông Đáy là những khu dân cư ven nước được xây dựng trên nền đất cao, kết nối với nhau bằng các tuyến đường ven sông, quảng trường công cộng, công viên và ga tàu điện. Xen giữa các khu dân cư là hồ sinh thái, đầm nước, công viên ngập nước và các hành lang cây xanh kéo dài hàng chục kilomet.
Người dân có thể đi bộ dọc bờ sông vào mỗi buổi chiều, đạp xe dưới những hàng cây, chèo thuyền trên các tuyến kênh kết nối với sông Đáy hoặc đơn giản là tận hưởng một không gian thoáng đãng mà ngày càng khó tìm thấy trong nội đô Hà Nội.
Thay vì những khu đô thị bê tông hóa dày đặc, lưu vực sông Đáy có thể phát triển theo mô hình các "Cù lao đô thị sinh thái". Mỗi khu dân cư được xây dựng trên nền đất cao hơn mực nước lũ thiết kế, trong khi phần lớn diện tích xung quanh vẫn được dành cho mặt nước, hồ điều hòa và cây xanh. Cách làm này không chỉ tạo ra môi trường sống hấp dẫn mà còn cho phép thành phố giữ lại không gian cho nước.
Đây chính là điểm quan trọng để Hà Nội có thể tận dụng lưu vực sông Đáy như một vùng trữ nước tự nhiên quy mô lớn. Khi mưa lớn, nước từ hệ thống sông Nhuệ và các khu vực đô thị có thể được điều tiết về đây. Khi mùa khô đến, lượng nước được giữ lại sẽ góp phần duy trì dòng chảy cho toàn bộ lưu vực từ Hà Nội xuống Hà Nam và Ninh Bình.
Hàng trăm triệu mét khối nước khu vực này cũng có thể đóng vai trò như một "Máy điều hòa tự nhiên" cho phía tây thủ đô bằng việc cung cấp độ ẩm cho các luồng gió Tây Nam khô nóng làm hạ bớt nhiệt trước khi thổi tới nội đô. Trong bối cảnh các đợt nắng nóng cực đoan xuất hiện ngày càng nhiều, giá trị của những vùng mặt nước và đất ngập nước sẽ ngày càng trở nên quan trọng.
Điều đáng chú ý là mô hình này không làm mất đi cơ hội phát triển kinh tế. Ngược lại, những khu đô thị ven nước thường có sức hấp dẫn lớn đối với người dân, nhà đầu tư và du khách. Các hoạt động du lịch sinh thái, dịch vụ, thương mại, thể thao dưới nước, nghỉ dưỡng hay nông nghiệp công nghệ cao hoàn toàn có thể phát triển song song với mục tiêu bảo tồn môi trường.
Quà vặt Việt rất ngon nhưng nhiều trẻ em thích gà rán, khoai tây chiên? theo tôi, đây là lỗi của người lớn.
Từ nhỏ khi học mẫu giáo, tôi đã từ chối cho con ăn món gà rán luôn luôn có mặt trong tất cả những bữa tiệc ở trường. Lúc đó, con tôi vẫn không thích món này.
Những năm đầu tiểu học, vài phụ huynh trong lớp thường chứng tỏ ta đây là mạnh thường quân nên thường xuyên gửi vào bánh ngọt, kẹo, khi tôi phản đối do những món này không tốt cho trẻ em nhưng giáo viên lại đồng ý.
Trong khi năm nào tôi cũng gửi sách truyện đóng góp vào tủ sách của lớp để các em học sinh giờ giải lao đọc giải trí thì từ giáo viên đến phụ huynh trong lớp chẳng ai quan tâm dù các bé rất thích.
Thực tế các học sinh trong lớp đa số đều cao lớp, mập mạp, có chế độ dinh dưỡng đầy đủ đâu có thiếu thốn mà cứ liên tục nạp thêm bánh ngọt, kẹo ngọt và gà rán
Cũng như tác giả Hoàng, tôi cũng gặp rắc rối với gia đình họ hàng vì chính những lần tôi đưa con về chơi, mặc dù biết vợ chồng tôi không cho con ăn gà rán, họ thường xuyên tập cho con tôi ăn bởi vậy chúng tôi đành chọn giải pháp hạn chế đưa con về chơi.
Năm học lớp 4 này, môn khoa học có các bài về dinh dưỡng, trong sách giáo khoa đưa ra ví dụ hình ảnh món gà rán, khoai tây chiên sẽ đưa đến bệnh thừa cân béo phì.
Và bài ôn thi giáo viên gửi cũng có nội dung là thói quen ăn gà rán, khoai tây chiên, uống nước ngọt là chưa lành mạnh, những thực phẩm nhiều dầu mỡ, đường và năng lượng cao có nguy cơ thừa cân, béo phì, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
Học sinh phải học thuộc lòng lý thuyết này để làm bài thi, tuy nhiên, chính giáo viên dạy môn này lại khen ngợi những phụ huynh đem gà rán, khoai tây chiên vào đãi lớp học bất chấp ngược lại với điều học sinh được biết.
Như vậy, những người giáo viên ở khắp các trường mầm non lớn nhỏ, các trường tiểu học họ cũng kém ý thức khi khuyến khích phụ huynh cho con ăn thức ăn nhanh
Một món ăn khác cũng có mặt khắp các đường phố, các khu vui chơi lớn nhỏ, các lễ hội là cá viên chiên trong khi món này cần hạn chế. Những món ăn của Việt Nam vừa ngon vừa lành mạnh vì kết hợp nhiều thành phần dinh dưỡng đa dạng, nhiều rau thì không phổ biến như cá viên chiên.