“Mở mắt ra, tôi đều phải khoác lên mình chiếc áo giáp của một người thành đạt”, Liên, ở TP HCM nói, ngón tay vân vê mép ly cà phê đã nguội. “Tôi phải chứng minh cho gia đình và xã hội thấy rằng quyết định chuyển giới của mình không phải là một bi kịch. Tôi không cho phép mình gục ngã, vì chỉ cần một chút chệch choạc, người ta sẽ chép miệng:”Đấy, tại đổi giới tính nên mới khổ thế”’.
Áp lực phải trở thành một “người chuyển giới hoàn hảo” – không được ốm đau, không được thất bại – đang âm thầm bào mòn Liên. Khi những cơn đau đầu nhói buốt kéo dài và triệu chứng suy nhược ập đến, cô từ chối đến bệnh viện. Liên sợ cảm giác ngồi ở phòng chờ, tay cầm sổ khám bệnh, thót tim chờ y tá gọi to cái tên khai sinh là nam giới của mình trước hàng chục ánh mắt tò mò.
Cô chọn cách mua thuốc giảm đau, tự giam mình trong phòng và chịu đựng một mình, cho đến khi được chẩn đoán mắc chứng rối loạn lo âu và trầm cảm nhẹ.
Trải nghiệm của Liên không phải là cá biệt. Trong cộng đồng người chuyển giới tại Việt Nam, hội chứng căng thẳng thiểu số (minority stress), một dạng áp lực tâm lý mạn tính sinh ra từ việc phải liên tục cảnh giác, che giấu hoặc gồng mình chống lại các định kiến xã hội, đang trở thành một căn bệnh vô hình.
Đình Tâm (32 tuổi, tên thường gọi trong cộng đồng là Melanie Ngo) cũng từng tin rằng phần khó khăn nhất của cuộc đời đã nằm lại phía sau. Nhưng khi Tâm bắt đầu xây dựng tổ ấm với người bạn đời, một rào cản mới, “lạnh lẽo và cứng nhắc hơn cả dao kéo, lại hiện ra: Những tờ giấy hành chính”.
“Tâm lý phải sống tốt hơn người bình thường gấp đôi, gấp ba lần để không bị phán xét là thứ vắt kiệt sức lực của tôi mỗi ngày”. Tâm chia sẻ. “Chỉ cần mình có một quyết định sai lầm trong hôn nhân hay công việc, người ta không đánh giá năng lực của mình, họ lập tức quy chụp nó vào bản dạng giới của mình”.
Nỗi nghẹn ngào lớn nhất của Tâm hiện tại là giấc mơ làm phụ huynh. Vào thời điểm bắt đầu tiêm hormone nhiều năm trước, khát vọng duy nhất của Tâm là được sống sót và được là chính mình. Tâm không được ai tư vấn, cũng không có đủ tài chính và tâm trí để nghĩ xa đến việc trữ đông trứng hay tinh trùng. Giờ đây, khi muốn có con, Tâm nhận ra cái giá phải trả là quá đắt, không chỉ về mặt y khoa mà còn là sự dò xét của xã hội.
“Mọi người hiếm khi chỉ trích thẳng mặt. Nhưng những cái nhíu mày của nhân viên ngân hàng khi nhìn ảnh CCCD, hay những câu hỏi xoáy sâu mang tính tò mò của nhân viên y tế khi đi khám phụ khoa… chúng giống như những mũi kim đâm mỗi ngày”, Tâm bộc bạch.
Theo pháp luật hiện hành, dù Điều 37 Bộ luật Dân sự 2015 đã chính thức thừa nhận quyền chuyển đổi giới tính, nhưng vì dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính vẫn chưa được Quốc hội thông qua, hàng nghìn người như Tâm đang bị kẹt lại trong một “vùng xám” pháp lý. Họ không thể thay đổi giới tính trên thẻ căn cước. Hậu quả là, trên giấy tờ, gia đình của Tâm vẫn là một khái niệm treo lơ lửng, không được pháp luật công nhận và bảo vệ toàn vẹn.
Thay vì tiếp tục vùng vẫy trong sự bất lực, Tâm và chồng quyết định lùi kế hoạch có con, dồn toàn lực vào sự nghiệp để tạo ra một vùng an toàn vững chắc hơn về tài chính. “Chúng tôi sẽ đợi. Bởi vì suy cho cùng, một đứa trẻ cần tình thương, sự giáo dục và một nền tảng an toàn, chứ không phải một gia đình ‘đúng mẫu’ chỉ để làm hài lòng những định kiến của xã hội”, Tâm nói.
Thạc sĩ Tâm lý lâm sàng Vương Nguyễn Toàn Thiện, Phó Trưởng Bộ môn phụ trách Ngành Tâm lý học, Trường Đại học Hùng Vương TP HCM, cho biết mỗi người trong cộng đồng LGBT đều mang những nỗi lo riêng, nhưng áp lực thiểu số (minority stress) là tình trạng phổ biến nhất – một dạng căng thẳng mạn tính tích lũy từ môi trường xã hội, không phải từ bản thân việc là người chuyển giới.
Biểu hiện thường gặp là sự cảnh giác quá mức, khiến bản thân luôn trong trạng thái gồng mình; lo âu khi ra ngoài, sợ bị đánh giá về ngoại hình hay giọng nói. Họ có xu hướng rút lui khỏi trường học, nơi làm việc, đặc biệt là các cơ sở y tế.
Một số rơi vào cảm giác cô lập, mất động lực, rối loạn giấc ngủ, kiệt sức tinh thần nhưng không tìm kiếm sự giúp đỡ, và ở những trường hợp nặng hơn, có thể dẫn đến lạm dụng chất hoặc ý nghĩ tự hại.
Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng những triệu chứng này liên quan mạnh mẽ đến trải nghiệm bị kỳ thị, thiếu hệ thống hỗ trợ xã hội và rào cản pháp lý. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2022) xác định sự kỳ thị và rào cản tiếp cận dịch vụ y tế là những yếu tố nguy cơ cốt lõi làm tổn hại sức khỏe tâm thần của nhóm LGBTQ+.
Chuyên gia lưu ý thêm chứng bức bối giới (Gender Dysphoria) – sự không khớp giữa giới tính sinh học và bản dạng giới – tự bản thân đã là một nguồn đau khổ tâm lý được ghi nhận về mặt lâm sàng. Kỳ thị xã hội không phải nguyên nhân duy nhất, mà là yếu tố làm trầm trọng thêm tình trạng vốn đã phức tạp này.
Tương tự anh Huỳnh Minh Thảo, nhà hoạt động thúc đẩy quyền LGBTQ+ tại Việt Nam, nhận định rằng áp lực phải che giấu và chống trả gần như là trạng thái mặc định của cộng đồng LGBT, và khi kéo dài, nó trở thành áp lực mạn tính nguy hiểm.
“Họ nghĩ rằng phải đủ mạnh mẽ, đủ giàu có, đủ quyền lực thì mới an toàn. Nhiều người cố dùng sự thành đạt làm ‘áo giáp’ để xã hội bớt khắt khe. Nhưng đây là một cái bẫy mòn mỏi”, anh Thảo phân tích.
Điều đáng lo hơn là khi cần hỗ trợ tâm lý nhất, thường là giai đoạn hậu phẫu thuật, người chuyển giới lại có xu hướng tìm đến tư vấn truyền miệng trong cộng đồng thay vì các cơ sở y tế chính thống, vì sợ bị kỳ thị hoặc đã từng có trải nghiệm tiêu cực khi đến viện. Điều này làm tăng nguy cơ tự điều chỉnh liều hormone không đúng cách, dẫn đến biến chứng y tế nghiêm trọng.
Năm 2022, Bộ Y tế ban hành Công văn 4132/BYT-PC, yêu cầu nhân viên y tế tôn trọng người bệnh, không kỳ thị hay từ chối khám chữa bệnh vì xu hướng tính dục hay bản dạng giới. Đây là một tín hiệu chính sách tích cực, đặt nền tảng pháp lý để chuyển từ cách tiếp cận phán xét sang mô hình chăm sóc dựa trên phẩm giá con người.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa văn bản và thực tế vẫn còn lớn. Tại Hà Nội và TP HCM, một số trung tâm y tế đã cung cấp dịch vụ tư vấn tâm lý và sức khỏe tình dục cho cộng đồng LGBT, song dịch vụ điều trị nội tiết tố có tính khẳng định giới, chăm sóc hậu phẫu chuyên biệt và hỗ trợ pháp lý tích hợp vẫn còn rất hạn chế và chưa đồng đều giữa các địa phương.
Ông Thiện chỉ ra thực trạng Việt Nam đang thiếu nguồn nhân lực được đào tạo bài bản về chăm sóc sức khỏe tâm thần có tính khẳng định và tôn trọng bản dạng giới. Bên cạnh đó là các rào cản cộng hưởng: gia đình chưa chấp nhận, áp lực xã hội khiến người bệnh che giấu vấn đề tâm lý, chi phí trị liệu còn cao, thiếu không gian bảo mật và an toàn.
“Việc không được đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về sức khỏe tâm thần càng khiến cuộc khủng hoảng của người chuyển giới tồi tệ hơn”, anh Thảo nhấn mạnh.
Cách tiếp cận hiện đại trong sức khỏe tâm thần, theo Hiệp hội Chuyên môn Thế giới về Sức khỏe Chuyển giới (WPATH, Tiêu chuẩn Chăm sóc phiên bản 8, 2022), không tập trung vào việc “thay đổi” bản dạng giới của một cá nhân, mà hướng đến việc giảm các yếu tố gây stress kéo dài và cải thiện chất lượng sống toàn diện.
Để thu hẹp khoảng cách đó, các chuyên gia kiến nghị một số giải pháp cụ thể như đưa kiến thức về LGBTQ+ vào chương trình đào tạo bác sĩ, chuyên gia tâm lý và nhân viên y tế; xây dựng hướng dẫn chuyên môn rõ ràng cho chăm sóc sức khỏe tâm thần nhóm đa dạng giới, kèm cơ chế giám sát thực thi tại bệnh viện; phát triển mô hình hỗ trợ đa ngành kết hợp giữa tâm lý, nội tiết, công tác xã hội và pháp lý; mở rộng dịch vụ chi phí thấp hoặc hỗ trợ cộng đồng cho nhóm yếu thế.
Cơ quan nhà nước cũng cần đẩy nhanh lộ trình lập pháp để Luật Chuyển đổi giới tính có thể đi vào thực thi, chấm dứt khoảng trống pháp lý hiện tại.
Trong lúc đó, những người như Tâm, Liên phải vật lộn tìm ra cách sống sót. “Người chuyển giới cũng là con người, biết yêu thương và khát khao tổ ấm. Chỉ cần thật lòng muốn xây dựng cuộc sống, không có lý do gì phải thấy bản thân không xứng đáng”, Tâm tự động viên.
Còn Liên, thay vì tiếp tục gồng mình chịu đựng sự cô độc, cô đang dần cởi bỏ lớp “áo giáp” hoàn hảo để tìm đến các nhóm hỗ trợ tâm lý cộng đồng, học cách trân trọng bản thân.
Theo bác sĩ Harsha Mandadi Varadaraju, chuyên gia thận học tại Bệnh viện Amrita (Ấn Độ), thận hoạt động âm thầm mỗi ngày để lọc độc tố, loại bỏ dịch dư thừa, điều hòa huyết áp và duy trì sức khỏe xương. Trên thực tế, phần lớn mọi người chỉ chú ý đến thận khi cơ quan này đã gặp vấn đề, điển hình từ các “sai lầm” về dinh dưỡng dưới đây.
Việc ăn quá nhiều muối làm tăng huyết áp - một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tổn thương thận. Huyết áp cao kéo dài khiến thận phải hoạt động quá sức và dần suy yếu, theo Times of India (Ấn Độ).
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo nên tiêu thụ dưới 5 g muối/ngày, nhưng nhiều gia đình lại tiêu thụ tới 20 - 25 g mỗi ngày (cao gấp 4 - 5 lần). Nguồn muối không chỉ đến từ việc nêm nếm khi nấu ăn mà còn “ẩn” trong đồ ăn đóng gói, thức ăn vặt, dưa muối và thực phẩm chế biến sẵn.
Do đó, bác sĩ Varadaraju khuyên nên hạn chế thực phẩm nhiều muối; ông cũng lưu ý rằng muối hồng Himalaya không “tốt cho thận” hơn muối thường như nhiều người nghĩ. Với thận, đó vẫn chỉ là muối.
Nhiều người hiện nay có xu hướng ăn nhiều protein hơn mức cần thiết. Theo bác sĩ Varadaraju, người khỏe mạnh thường cần khoảng 0,8 - 1 g protein/kg cân nặng mỗi ngày. Ví dụ, người nặng 70 kg cần khoảng 56 - 70 g protein/ngày. Người tập gym hoặc vận động cường độ cao có thể cần nhiều protein hơn nếu chức năng thận bình thường. Tuy nhiên, với người đã mắc bệnh thận, ăn quá nhiều protein có thể khiến thận phải làm việc vất vả hơn để xử lý chất thải chuyển hóa.
Rau xanh và trái cây thường tốt cho sức khỏe, nhưng với người mắc bệnh thận, một số loại cần hạn chế. Nguyên nhân là vì nhiều thực phẩm chứa kali hoặc phốt pho - đây là các khoáng chất mà thận khỏe mạnh có thể đào thải dễ dàng, nhưng thận đang suy yếu thì không. Do đó, chế độ ăn cho người bệnh thận cần được cá nhân hóa thay vì áp dụng chung 1 thực đơn cho mọi người.
Bác sĩ Varadaraju nhấn mạnh rằng bảo vệ thận không chỉ nằm ở thực phẩm. Duy trì cân nặng hợp lý, tập thể dục đều đặn, hạn chế đồ chế biến sẵn, nước ngọt, bỏ thuốc lá và giảm rượu bia đều giúp thận “già đi” chậm hơn.
Ngoài ra, uống đủ nước cũng giúp giảm nguy cơ hình thành sỏi thận. Nhu cầu nước tùy thuộc mức độ vận động ở mỗi người. Mục tiêu là duy trì lượng nước tiểu khoảng gần 2 lít/ngày với màu vàng nhạt. Vì khi cơ thể thiếu nước, nước tiểu trở nên cô đặc, khoáng chất dễ kết tinh và hình thành sỏi thận.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, phối hợp Viện Nghiên cứu rau quả tổ chức lấy ý kiến góp ý vào dự thảo tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) về quy trình sản xuất, sơ chế rau bảo đảm an toàn thực phẩm.
Đại diện đơn vị chủ trì xây dựng dự thảo, ông Nguyễn Xuân Điệp, Viện Nghiên cứu rau quả, cho biết mỗi năm Việt Nam sản xuất hàng chục triệu tấn rau và có nhiều sản phẩm xuất khẩu. Rau là sản phẩm thiết yếu trong bữa ăn hằng ngày của người dân nhưng thực tế ngành rau đang đối mặt với thách thức lớn về an toàn thực phẩm, ô nhiễm nguồn nước, đất canh tác và lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật.
Cũng theo ông Điệp, tham gia sản xuất rau hiện nay phần lớn là hộ nông dân quy mô nhỏ lẻ, nếu áp dụng VietGAP, chi phí đầu tư, năng lực quản lý và duy trì chứng nhận tương đối cao, vượt quá khả năng của nhiều hộ.
Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, sau 15 năm triển khai tiêu chuẩn VietGAP, đến năm 2025, cả nước chỉ có hơn 8.000 ha được cấp chứng nhận VietGap, tương đương khoảng 0,5 - 0,6% tổng diện tích sản xuất (1,15 triệu ha trồng rau).
Cũng theo ông Điệp, điểm mới nổi bật của dự thảo TCVN là tiếp cận theo chuỗi và quản lý rủi ro, tập trung kiểm soát 3 nhóm mối nguy chính ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng: hóa học (dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng); sinh học (vi khuẩn, nấm gây bệnh) và vật lý (dị vật, tạp chất).
Theo dự thảo đang xây dựng, nông dân chỉ cần ghi chép, lưu trữ các thông tin cốt lõi trong quá trình sản xuất rau như: tên cơ sở, giống, loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sử dụng, thời gian cách ly...
Góp ý cho ban soạn thảo, GS-TS Trần Khắc Thi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu rau quả, cho rằng rau có mức độ rủi ro an toàn thực phẩm cao hơn nhiều loại nông sản khác. Nhiều loại rau được sử dụng trực tiếp mà không qua chế biến và xử lý nhiệt nên nguy cơ về an toàn thực phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng nên việc xây dựng, sớm ban hành tiêu chuẩn quốc gia về rau an toàn là cần thiết.
GS-TS Trần Khắc Thi cho rằng, trong nhóm kiểm soát chỉ tiêu hóa học, chưa thấy đề cập đến nitrat và kiến nghị bổ sung kiểm soát chất này trong TCVN. Nếu tích tụ trong rau ở mức độ cao, nitrat có thể chuyển hóa thành các chất gây ung thư.
Ông Nguyễn Quý Dương, Phó cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, khẳng định dự thảo TCVN mới về rau đảm bảo an toàn không phải để thay thế các tiêu chuẩn đang hiện hành. Thực tế có một số tiêu chuẩn hiện nay yêu cầu nông dân ghi chép nhiều quá, dẫn đến khó thực hiện.
Thực tế hiện nay, nhiều nông dân trồng rau chỉ sản xuất nhỏ lẻ, diện tích chỉ vài sào. Trong khi đó, luật An toàn thực phẩm chỉ bắt buộc các cơ sở lớn phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về an toàn thực phẩm và cho phép những hộ sản xuất nhỏ lẻ chỉ phải cam kết.
Từ đó, ông Nguyễn Quý Dương cho rằng, để những hộ nhỏ lẻ sản xuất đảm bảo an toàn thực phẩm, cần thiết phải có một tiêu chuẩn với những điều kiện đơn giản hơn, dễ làm, dễ kiểm soát sẽ thu hút số lượng nông dân tham gia chuỗi giá trị nông sản an toàn nhiều hơn giúp đảm bảo nguồn cung thực phẩm sạch ổn định cho người dân, nâng cao giá trị xuất khẩu.
Cũng theo ban soạn thảo, TCVN về rau an toàn được xác định là công cụ kỹ thuật hỗ trợ và bổ sung cho VietGAP chứ không thay thế VietGAP.
Nếu VietGAP hướng tới hệ thống quản lý toàn diện và chứng nhận sản xuất tốt, thì tiêu chuẩn này tập trung vào các yêu cầu kỹ thuật cơ bản nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm và mở rộng khả năng áp dụng trong thực tế. Dự kiến tiêu chuẩn này sẽ được ban hành trong năm nay.
Trao quyết định bổ nhiệm sáng 14/5, Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan cho biết sau gần 8 tháng được giao quyền điều hành bệnh viện, bác sĩ Việt đã thể hiện bản lĩnh, năng lực quản lý, duy trì đoàn kết nội bộ và từng bước tháo gỡ nhiều khó khăn tồn đọng sau đại dịch Covid-19.
Bác sĩ Việt là Phó giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 3/2024 và Phó giám đốc phụ trách, quản lý, điều hành bệnh viện từ tháng 8/2025 đến nay. Ông tốt nghiệp bác sĩ đa khoa tại Đại học Y Dược TP HCM năm 1997, hoàn thành chuyên khoa 1 và chuyên ngành ngoại lồng ngực trường này, lần lượt là bác sĩ Khoa Cấp cứu, Phòng Kế hoạch tổng hợp và trưởng phòng này tới năm 2024.
Người tiền nhiệm của bác sĩ Việt là PGS.TS.BS Nguyễn Tri Thức, nay giữ nhiệm vụ Thứ trưởng Bộ Y tế.
Bệnh viện Chợ Rẫy hiện có hai phó giám đốc, gồm PGS.TS.BS Lâm Việt Trung và TS.DS Nguyễn Quốc Bình.
Theo Bộ trưởng Lan, Chợ Rẫy là bệnh viện đa khoa hạng đặc biệt trực thuộc Bộ Y tế, với lịch sử hơn 125 năm hình thành và phát triển hiện giữ vai trò trung tâm y tế hàng đầu khu vực phía Nam. Bệnh viện đóng vai trò nòng cốt trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân, đồng thời là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao kỹ thuật uy tín trên cả nước.
Giai đoạn hậu Covid-19, bệnh viện từng đối mặt tình trạng thiếu thuốc, vật tư y tế và áp lực tâm lý lớn đối với nhân viên y tế. Đến nay, nhiều khó khăn đã được tháo gỡ, hoạt động khám chữa bệnh dần ổn định và chuyển sang giai đoạn tập trung phát triển chuyên môn. Bệnh viện là nơi tiếp nhận bệnh nhân nặng, phức tạp, vượt quá khả năng điều trị của các bệnh viện tỉnh thành.
"Bệnh viện phải vươn lên mạnh mẽ hơn nữa, tiếp tục khẳng định thương hiệu về chất lượng chuyên môn, tinh thần phục vụ và điều kiện chăm sóc người bệnh", bà Lan nói.
BS.CK2 Phạm Thanh Việt cho biết nhiệm vụ giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy "là trách nhiệm rất lớn". Ở cương vị mới, ông sẽ đưa bệnh viện tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kỹ thuật chuyên sâu, hướng đến mô hình bệnh viện thông minh và triển khai hiệu quả các cơ sở mới.
Trong đề án phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu khu vực phía Nam, Chợ Rẫy đóng vai trò hạt nhân. Bệnh viện sẽ quản lý thêm cơ sở Bệnh viện Nội tiết Trung ương phía Nam và dự án cơ sở mới từ nguồn vốn ODA Nhật Bản tại khu vực Bình Chánh, nhằm giảm tải cho cơ sở hiện hữu ở trung tâm TP HCM.
Theo Bộ trưởng Lan, việc mở rộng mô hình "chuỗi bệnh viện" đặt ra yêu cầu lớn về nhân lực, quản trị và chuyển đổi số, đòi hỏi ban giám đốc Chợ Rẫy phải xây dựng chiến lược phát triển đồng bộ cho toàn hệ thống.
Bệnh viện Chợ Rẫy quy mô 1.800 giường, hiện có hơn 3.200 giường bệnh, gần 4.300 cán bộ nhân viên, trong đó khoảng 840 bác sĩ, 13 giáo sư và phó giáo sư cùng hàng trăm chuyên gia đầu ngành.
Mỗi ngày bệnh viện đón khoảng 6.000-8.000 lượt bệnh nhân khám ngoại trú. Hôm 6/5 ghi nhận số lượng bệnh cao nhất trong lịch sử với 9.021 lượt. Chợ Rẫy là bệnh viện tuyến cuối ở miền Nam.