Tổ chức từ thiện y tế Bác sĩ không biên giới (MSF) hôm 30/5 cảnh báo tốc độ lây lan của dịch bệnh đang ở mức đáng báo động và chưa từng có tiền lệ khi số ca mắc bệnh lại gia tăng nhanh như vậy chỉ trong một thời gian ngắn. Ông Alan Gonzalez, Phó Giám đốc MSF, cho biết các đội ngũ của tổ chức đang “chứng kiến một quy trình ứng phó chưa bắt kịp tốc độ lây lan nhanh chóng của dịch bệnh”.
“Thực tế hiện nay là không một ai nắm rõ quy mô và mức độ nghiêm trọng thực sự của đợt bùng phát này. Các ca nghi nhiễm mới vẫn được báo cáo hàng ngày, song hàng trăm mẫu bệnh phẩm vẫn đang trong tình trạng chờ xét nghiệm”, ông cho biết thêm.
Tính đến nay, WHO ghi nhận 906 trường hợp nghi nhiễm và 223 ca tử vong nghi do Ebola tại Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC). Trong khi đó, Bộ Truyền thông nước này xác nhận 282 ca dương tính, bao gồm 42 ca tử vong.
Dịch bệnh cũng bắt đầu lan sang các nước láng giềng khi Uganda báo cáo 9 ca nhiễm và một người chết. Tại Brazil, nhà chức trách đang cách ly nghiêm ngặt hai nam giới trở về từ vùng dịch có triệu chứng sốt, ho, tiêu chảy, dù kết quả xét nghiệm ban đầu âm tính.
Quá trình khống chế dịch bệnh hiện vấp phải rào cản lớn từ các cuộc giao tranh vũ trang tại vùng Ituri và sự bất hợp tác của người dân. Trong chuyến thăm tâm dịch ở miền đông Congo hôm 31/5, Tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus đã kêu gọi các bên ngừng bắn để ưu tiên cứu mạng người dân.
Lực lượng cứu trợ không chỉ thiếu hụt vật tư cơ bản như khẩu trang mà còn đối mặt với bạo lực. Sự bất mãn với quy trình xử lý thi thể trái phong tục truyền thống đã kích động người dân địa phương thực hiện ít nhất ba vụ tấn công nhằm vào các cơ sở điều trị.
Trước tình hình này, ông Ghebreyesus nhấn mạnh cuộc chiến chống Ebola là trách nhiệm của toàn xã hội, đồng thời khẳng định bệnh nhân hoàn toàn có thể bình phục nếu đến cơ sở y tế ngay khi xuất hiện triệu chứng.
Đợt bùng phát thứ 17 tại Congo này do biến thể Bundibugyo gây ra, hiện giới khoa học chưa tìm ra vaccine hay phương pháp điều trị đặc hiệu. Virus lây từ dơi ăn quả sang người, sau đó phát tán mạnh qua tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc dịch cơ thể. Người mắc ủ bệnh 2-21 ngày, khởi phát bằng triệu chứng sốt, uể oải, đau cơ trước khi nhanh chóng tiến triển thành nôn mửa, tiêu chảy và suy đa tạng.
Nhằm hỗ trợ khống chế dịch bệnh, Liên minh châu Âu đã chuyển vật tư y tế đến Ituri, trong khi Mỹ công bố tài trợ bổ sung, nâng tổng mức cam kết lên 112 triệu USD.
Tại Việt Nam, Bộ Y tế đánh giá nguy cơ Ebola xâm nhập ở mức thấp do virus chỉ lây qua tiếp xúc trực tiếp, song cơ quan này đã phát đi cảnh báo và chủ động chuẩn bị sẵn sàng các phương án ứng phó.
Tin Gốc: Vnexpress

Theo các bác sĩ, việc chủ động thăm khám trước khi cưới không chỉ giúp bảo vệ khả năng sinh sản mà còn là nền tảng quan trọng cho hạnh phúc gia đình lâu dài.
Theo TS Lê Thị Thu Hà - nguyên Trưởng Khoa sản N1 Bệnh viện Từ Dũ, khám sức khỏe tiền hôn nhân không đơn thuần là một lần kiểm tra sức khỏe tổng quát mà là bước chuẩn bị chủ động, khoa học cho cuộc sống hôn nhân và kế hoạch sinh con an toàn.
"Khám tiền hôn nhân giúp đánh giá toàn diện sức khỏe sinh sản của cả nam và nữ. Thông qua thăm khám, xét nghiệm và tư vấn chuyên khoa, bác sĩ có thể phát hiện sớm các rối loạn nội tiết, bệnh lý phụ khoa - nam khoa, các bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc những bất thường có thể ảnh hưởng đến khả năng thụ thai và mang thai sau này", bác sĩ Hà cho biết.
Thực tế cho thấy nhiều bệnh lý sinh sản diễn tiến âm thầm, không có triệu chứng rõ ràng. Rối loạn rụng trứng, lạc nội mạc tử cung ở nữ giới hay tinh trùng yếu, tinh trùng ít ở nam giới thường chỉ được phát hiện khi các cặp đôi gặp khó khăn trong việc có con. Khi đó, việc điều trị không chỉ tốn thời gian, chi phí mà còn tạo áp lực tâm lý lớn cho cả hai vợ chồng.
Không ít cặp đôi trẻ đến khám hiếm muộn mới ngỡ ngàng khi biết rằng vấn đề của mình đã tồn tại từ nhiều năm trước. Theo TS Hà, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu thói quen và nhận thức đúng về khám sức khỏe tiền hôn nhân. Nhiều người cho rằng còn trẻ, khỏe mạnh, sinh hoạt bình thường thì không cần đi khám.
Bên cạnh đó, tâm lý e ngại, chủ quan hoặc lo sợ việc phát hiện bệnh sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch cưới hỏi cũng khiến nhiều cặp đôi trì hoãn thăm khám. Một số trường hợp từng khám sức khỏe tổng quát nhưng chưa được đánh giá chuyên sâu về sức khỏe sinh sản nên các vấn đề tiềm ẩn vẫn bị bỏ sót.
"Chỉ đến khi kết hôn, mong con trong thời gian dài mà chưa có thai, họ mới tìm đến cơ sở chuyên khoa hiếm muộn. Lúc này một số bệnh lý đã tiến triển nặng hơn, việc điều trị trở nên phức tạp và ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý, hạnh phúc gia đình", TS Hà chia sẻ.
Đánh giá về thực tế hiện nay, TS Hà cho rằng giới trẻ vẫn còn khá thờ ơ với khám sức khỏe tiền hôn nhân. Một phần do tâm lý chủ quan, phần khác do thiếu thông tin và truyền thông đúng cách. Ở nhiều nơi, khám tiền hôn nhân vẫn chưa được xem là một nội dung chăm sóc sức khỏe thiết yếu trước khi lập gia đình.
Theo các bác sĩ, thời điểm lý tưởng để khám sức khỏe tiền hôn nhân là trước khi cưới khoảng 3-6 tháng. Khoảng thời gian này đủ để phát hiện và điều trị các bệnh lý ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản, thực hiện các mũi tiêm ngừa cần thiết như rubella, viêm gan B, thủy đậu cũng như điều chỉnh lối sống, dinh dưỡng và tâm lý theo tư vấn y khoa.
Trong trường hợp đã cận ngày cưới, các chuyên gia vẫn khuyến cáo nên đi khám. Việc thăm khám lúc này vẫn có giá trị trong việc đánh giá sức khỏe sinh sản ban đầu, tư vấn kế hoạch mang thai an toàn và phát hiện sớm những yếu tố nguy cơ cần theo dõi sau khi kết hôn.
Khám sức khỏe tiền hôn nhân bao gồm khám tổng quát, khám và tư vấn sức khỏe sinh sản cho cả nam và nữ, thực hiện các xét nghiệm cần thiết và tư vấn tiêm ngừa, chuẩn bị mang thai.
Đối với nữ giới, việc khám phụ khoa, siêu âm tử cung - buồng trứng, đánh giá chu kỳ kinh nguyệt giúp phát hiện sớm các bệnh lý phụ khoa. Đối với nam giới, khám nam khoa và đánh giá chất lượng tinh trùng có ý nghĩa quan trọng trong việc tầm soát nguy cơ hiếm muộn.
Theo TS Lê Thị Thu Hà, nam giới hoàn toàn không nên đứng ngoài khám sức khỏe tiền hôn nhân. Thống kê cho thấy khoảng một nửa các trường hợp hiếm muộn có liên quan đến nam giới nhưng trên thực tế nhiều nam giới vẫn chưa có thói quen khám sức khỏe sinh sản.
"Khám tiền hôn nhân không phải là trách nhiệm riêng của phụ nữ mà là sự chuẩn bị chung của cả hai vợ chồng cho cuộc sống gia đình và thế hệ con cái sau này", TS Hà nhấn mạnh.
Việc chuẩn bị sức khỏe sinh sản tốt trước khi mang thai giúp giảm đáng kể các nguy cơ cho cả mẹ và bé. Đối với người mẹ, việc phát hiện và kiểm soát tốt các bệnh lý mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tuyến giáp giúp hạn chế các biến chứng thai kỳ như tiền sản giật, sinh non, sẩy thai, thai lưu.
Đối với thai nhi, việc tầm soát bệnh di truyền, bổ sung axit folic và tiêm ngừa đầy đủ trước khi mang thai giúp giảm nguy cơ dị tật bẩm sinh, sinh non, nhẹ cân và các bệnh lây truyền từ mẹ sang con.
Theo các chuyên gia, khám sức khỏe tiền hôn nhân là một khoản "đầu tư sớm" nhưng mang lại giá trị lâu dài. Khi bước vào hôn nhân với sự chuẩn bị tốt về sức khỏe, kiến thức và tâm lý, các cặp đôi không chỉ chủ động hơn trong kế hoạch sinh con mà còn góp phần xây dựng nền tảng vững chắc cho một gia đình hạnh phúc, bền vững.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Theo Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, điều trị đích là một phương pháp hiện đại trong điều trị ung thư. Thay vì dùng hóa trị truyền thống tấn công cả tế bào ung thư và tế bào khỏe mạnh, điều trị đích tập trung vào những điểm yếu riêng của tế bào ung thư.
Đó có thể là một gen, một protein, hoặc một tín hiệu bất thường mà chỉ tế bào ung thư mới có.
Nhờ cách tiếp cận này, điều trị đích giúp tiêu diệt tế bào ung thư hiệu quả hơn. Đồng thời, nó cũng ít gây hại cho các tế bào khỏe mạnh, giúp giảm tác dụng phụ khó chịu cho người bệnh.
Về cơ chế hoạt động, các thuốc điều trị đích có thể: ngăn chặn các tín hiệu bất thường ra lệnh cho tế bào ung thư lớn lên và nhân đôi nhanh chóng. Như vậy, khối u sẽ không thể phát triển.
Các thuốc điều trị đích ngăn chặn việc hình thành các mạch máu mới. Mạch máu này vốn dùng để cung cấp ô xy và dinh dưỡng cho khối u. Khi không có đủ "thức ăn", khối u sẽ khó sống và phát triển.
Các thuốc này đưa thuốc hóa chất trực tiếp đến tế bào ung thư, gắn thuốc hóa chất vào kháng thể đặc hiệu để vận chuyển chính xác tới tế bào ung thư.
Đối với một số loại ung thư cần hormone để lớn lên (như ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến...), thuốc đích sẽ chặn hoặc cắt nguồn hormone đó, làm khối u teo đi.
Theo Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, trước khi quyết định điều trị đích, bác sĩ cần có kết quả xét nghiệm của người bệnh để tìm ra những đặc điểm riêng của khối u ung thư (gọi là "dấu ấn sinh học" hoặc "điểm đích"). Nếu khối u có những "điểm đích" mà thuốc có thể tấn công, thì khả năng điều trị thành công bằng thuốc đích sẽ cao hơn. Thuốc điều trị đích hoạt động như một "mũi tên" đi đến những điểm yếu riêng của tế bào ung thư, nhờ vậy, có thể diệt khối u hiệu quả hơn.
Vì thuốc chỉ tấn công vào tế bào ung thư có "điểm đích" đặc hiệu, nên ít làm tổn thương các tế bào khỏe mạnh khác trong cơ thể. Điều này giúp giảm bớt các tác dụng phụ khó chịu so với hóa trị thông thường.
Nhưng thuốc đích chỉ có tác dụng khi khối u ung thư mang "điểm đích" mà thuốc nhắm tới. Thuốc không hiệu quả nếu khối u không có "điểm đích" phù hợp.
Ngay cả khi phù hợp, vẫn có nguy cơ kháng thuốc. Vì sau một thời gian điều trị, các tế bào ung thư có thể thay đổi và trở nên "khôn ngoan" hơn, tìm cách "né" thuốc. Khi đó, thuốc sẽ dần mất đi hiệu quả, gọi là hiện tượng "nhờn thuốc" hoặc "kháng thuốc".
Ngoài ra, thuốc đích vẫn có thể gây tác dụng phụ. Mặc dù thường nhẹ hơn hóa trị, nhưng người bệnh vẫn có thể gặp các tác dụng phụ như tiêu chảy, rối loạn chức năng gan, hay các tác dụng phụ trên da, niêm mạc…
Mỗi người bệnh là một trường hợp khác nhau. Bác sĩ sẽ giúp người bệnh làm các xét nghiệm cần thiết, tư vấn và cùng người bệnh lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất, phù hợp nhất với tình trạng bệnh.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bệnh Ebola (EBOD) là một bệnh lý nghiêm trọng, thường dẫn đến tử vong ở người. Bệnh do các virus thuộc chi Orthoebolavirus, họ Filoviridae gây ra.
Đến nay, các nhà khoa học đã xác định được 6 loài Orthoebolavirus, trong đó có 3 loài từng gây ra các đợt bùng phát dịch lớn, bao gồm:
Virus Ebola (EBOV): Gây bệnh virus Ebola (EVD).
Virus Sudan (SUDV): Gây bệnh virus Sudan (SVD).
Virus Bundibugyo (BDBV): Gây bệnh virus Bundibugyo (BVD).
Bệnh Ebola được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1976 trong hai đợt bùng phát đồng thời: một đợt do virus Sudan tại Nzara (nay thuộc Nam Sudan) và đợt còn lại do virus Ebola tại Yambuku (nay thuộc Cộng hòa Dân chủ Congo). Đợt dịch thứ hai xảy ra tại một ngôi làng gần sông Ebola, đây cũng chính là nguồn gốc tên gọi của căn bệnh này.
Hiện nay, đã có vaccine và liệu pháp điều trị cho bệnh virus Ebola (EVD). Tuy nhiên, các thể bệnh Ebola khác như SVD hay BVD vẫn chưa có vaccine hoặc thuốc điều trị đặc hiệu. Các sản phẩm thử nghiệm vẫn đang trong quá trình phát triển.
Can thiệp bằng các biện pháp chăm sóc hỗ trợ tích cực sớm - bao gồm bù nước và điều trị các triệu chứng đặc hiệu - có thể cải thiện đáng kể khả năng sống sót của bệnh nhân. Tiếp cận y tế kịp thời chính là yếu tố sống còn.
- Các nhà khoa học nhận định rằng dơi quả (họ Pteropodidae) là vật chủ tự nhiên của Orthoebolavirus.
- Virus có thể xâm nhập vào người thông qua việc tiếp xúc gần với máu, chất tiết, cơ quan hoặc dịch cơ thể của các động vật bị nhiễm bệnh.
- Các loài động vật có nguy cơ cao bao gồm dơi quả, tinh tinh, gorilla, khỉ, linh dương rừng hoặc nhím được phát hiện bị bệnh, đã chết hoặc tìm thấy trong rừng mưa nhiệt đới.
- Khi đã xâm nhập vào cộng đồng, virus có thể lây từ người sang người thông qua tiếp xúc trực tiếp (qua da bị tổn thương hoặc niêm mạc) với:
Lưu ý:
- Người bệnh không có khả năng lây truyền virus trước khi xuất hiện các triệu chứng. Họ sẽ tiếp tục là nguồn lây nhiễm chừng nào trong máu vẫn còn chứa virus.
- Nhân viên y tế và hộ lý là nhóm thường xuyên bị lây nhiễm trong quá trình điều trị cho bệnh nhân Ebola. Tình trạng này xảy ra do tiếp xúc gần với người bệnh khi các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn không được thực hiện một cách nghiêm ngặt.
- Các nghi lễ mai táng có hành vi tiếp xúc trực tiếp với thi thể người quá cố cũng là một nguyên nhân làm gia tăng tốc độ lây lan của bệnh.
Thời gian ủ bệnh (khoảng thời gian từ khi nhiễm virus đến khi khởi phát triệu chứng) dao động từ 2 đến 21 ngày.
- Các triệu chứng của bệnh Ebola có thể xuất hiện đột ngột, bao gồm:
- Tiếp sau đó là các biểu hiện: nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng, phát ban và suy giảm chức năng gan, thận. Việc theo dõi sát sao các triệu chứng này là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đối với các nhân viên y tế.
- Xuất huyết thường được coi là triệu chứng phổ biến trong nhận thức của công chúng, nhưng trên thực tế biểu hiện này ít gặp hơn và chỉ xuất hiện ở giai đoạn muộn của bệnh. Một số bệnh nhân có thể bị xuất huyết nội và ngoại vi, bao gồm: nôn ra máu, đại tiện ra máu, chảy máu mũi, chảy máu nướu răng và âm đạo. Tình trạng chảy máu tại các vị trí tiêm truyền cũng có thể xảy ra.
- Khi virus tấn công vào hệ thần kinh trung ương, người bệnh có thể rơi vào trạng thái lú lẫn, dễ kích động và hung hăng.
- Ở giai đoạn đầu, phân biệt bệnh Ebola với các bệnh truyền nhiễm khác như sốt rét, thương hàn, nhiễm khuẩn lỵ trực khuẩn (shigellosis), viêm màng não và các bệnh sốt xuất huyết do virus khác trên lâm sàng là rất khó khăn do các triệu chứng có sự tương đồng lớn.
- Để xác định chính xác một ca nhiễm Orthoebolavirus, bác sĩ phải sử dụng các phương pháp chẩn đoán xét nghiệm sau:
- Các mẫu bệnh phẩm thu thập từ bệnh nhân chứa nguy cơ an toàn sinh học cực kỳ cao. Do đó, việc kiểm tra phòng thí nghiệm đối với các mẫu chưa được bất hoạt phải được tiến hành trong điều kiện an toàn sinh học tối đa. Tất cả mẫu sinh học chưa bất hoạt khi vận chuyển trong nước và quốc tế đều phải được đóng gói theo quy trình hệ thống 3 lớp.
Qua nhiều năm, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng các đối tác đã xây dựng các tài liệu hướng dẫn và tổ chức đào tạo nhằm tối ưu hóa quy trình chăm sóc giúp nâng cao cơ hội sống sót cho bệnh nhân, bất kể họ có được tiếp cận với các phương pháp điều trị đặc hiệu hay không.
Đây được gọi là "Chăm sóc hỗ trợ tối ưu", quy trình này bao gồm việc chỉ định các xét nghiệm liên quan, quản lý cơn đau, đảm bảo dinh dưỡng, điều trị đồng nhiễm (như bệnh sốt rét) và các phương pháp tiếp cận khác nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho bệnh nhân phục hồi.
- Đối với bệnh virus Ebola (EVD):
Hiện có hai loại vaccine đã được phê duyệt: Ervebo (của hãng Merck & Co.) và bộ đôi Zabdeno & Mvabea (của hãng Janssen Pharmaceutica). Vaccine Ervebo được khuyến nghị sử dụng như một phần của hoạt động ứng phó với dịch bệnh (theo khuyến cáo của Nhóm chuyên gia tư vấn chiến lược - SAGE vào tháng 7/2024).
- Đối với các thể bệnh Ebola khác (như SVD):
Một số vaccine thử nghiệm hiện đang ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Nhằm ứng phó với dịch bệnh, một quy trình chuẩn (CORE protocol) cũng đã được thiết lập để đánh giá tính an toàn, khả năng dung nạp, tính sinh miễn dịch và hiệu quả của các vaccine thử nghiệm này.
- Sự tham gia của cộng đồng là chìa khóa để kiểm soát thành công bất kỳ đợt bùng phát dịch nào. Công tác dập dịch dựa trên một chuỗi các biện pháp can thiệp đồng bộ: chăm sóc lâm sàng, giám sát và truy vết tiếp xúc, dịch vụ xét nghiệm, phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở y tế, mai táng an toàn và tôn trọng phong tục, tiêm chủng (chỉ áp dụng cho bệnh virus Ebola) và huy động xã hội.
- Nâng cao nhận thức về các yếu tố nguy cơ và các biện pháp bảo vệ cá nhân là cách hiệu quả để giảm tỷ lệ lây nhiễm sang người. Các thông điệp giảm thiểu rủi ro cần tập trung vào các khuyến cáo sau:
Giảm nguy cơ lây truyền từ động vật hoang dã sang người: Tránh tiếp xúc với dơi quả hoặc khỉ/vượn bị nhiễm bệnh, đồng thời không tiêu thụ thịt sống của chúng.
Giảm nguy cơ lây truyền từ người sang người: Hạn chế tối đa việc tiếp xúc trực tiếp hoặc tiếp xúc gần với người nhiễm bệnh, đặc biệt là với dịch cơ thể của họ. Cần tránh tiếp xúc vật lý gần với bệnh nhân Ebola. Người bệnh phải được cách ly tại trung tâm điều trị chuyên dụng để được chăm sóc sớm và ngăn ngừa lây nhiễm tại nhà.
Minh bạch thông tin: Cộng đồng cần được thông tin đầy đủ về bản chất căn bệnh cũng như các biện pháp kiểm soát dịch. Điều này đạt hiệu quả cao nhất khi người dân tham gia trực tiếp vào công tác ứng phó và có sự thảo luận cởi mở.
Các biện pháp bao vây dập dịch bao gồm: tổ chức mai táng an toàn và tôn trọng người quá cố; xác định những người từng tiếp xúc với người nhiễm Ebola và theo dõi sức khỏe của họ trong vòng 21 ngày; cách ly người lành khỏi người bệnh để ngăn chặn sự lây lan diện rộng và tập trung chăm sóc cho các bệnh nhân đã xác định. Bên cạnh đó, việc duy trì vệ sinh cá nhân và làm sạch môi trường sống cũng đóng vai trò then chốt.
- Nhân viên y tế phải luôn thực hiện các biện pháp phòng ngừa chuẩn khi chăm sóc bệnh nhân, bất kể chẩn đoán ban đầu của họ là gì. Các biện pháp này bao gồm: vệ sinh tay cơ bản, vệ sinh đường hô hấp, sử dụng phương tiện bảo hộ cá nhân (để ngăn chặn các giọt bắn hoặc tiếp xúc với vật liệu nhiễm khuẩn), thực hành tiêm an toàn và quy trình mai táng an toàn, tôn nghiêm.
- Khi chăm sóc cho bệnh nhân nghi nhiễm hoặc đã xác định mắc Ebola, nhân viên y tế cần áp dụng thêm các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn tăng cường để tuyệt đối tránh tiếp xúc với máu, dịch cơ thể của bệnh nhân, cũng như các bề mặt hoặc vật dụng bị ô nhiễm như quần áo, chăn ga gối đệm.
- Nhân viên phòng thí nghiệm cũng là nhóm nguy cơ cao. Tất cả mẫu bệnh phẩm thu thập từ người và động vật để xét nghiệm Orthoebolavirus phải được xử lý bởi đội ngũ nhân sự đã qua đào tạo và tiến hành tại các phòng thí nghiệm được trang bị đầy đủ thiết bị chuyên dụng.
- WHO khuyến cáo không cần cách ly những bệnh nhân đã phục hồi và có kết quả xét nghiệm máu âm tính với Orthoebolavirus.
Tuy nhiên, người khỏi bệnh có thể phải chịu đựng các di chứng cả về mặt lâm sàng lẫn tâm lý. WHO khuyến khích các quốc gia bị ảnh hưởng xem xét thành lập chương trình chăm sóc y tế để giảm nhẹ di chứng, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng, tư vấn tâm lý và thực hiện các xét nghiệm sinh học cần thiết.
- Khoa học chứng minh rằng Orthoebolavirus vẫn có thể tồn tại ở một số cơ quan đặc quyền miễn dịch trên cơ thể của một số người đã phục hồi. Những vị trí này bao gồm tinh hoàn, bên trong nhãn cầu và não bộ.
- Y học đã ghi nhận những trường hợp tái phát triệu chứng lâm sàng mà không phải do tái nhiễm ở người đã khỏi bệnh. Nguyên nhân của hiện tượng này hiện vẫn chưa được thấu hiểu một cách trọn vẹn.
- Lây truyền virus Ebola qua tinh dịch của người nhiễm bệnh đã được ghi nhận kéo dài tới 15 tháng sau khi phục hồi lâm sàng. Để giảm thiểu nguy cơ này, một chương trình xét nghiệm tinh dịch cần được triển khai nhằm mục tiêu:
- Trong trường hợp không có chương trình xét nghiệm tinh dịch, nam giới đã khỏi bệnh cần tuyệt đối tuân thủ các biện pháp tình dục an toàn trong vòng 12 tháng.
- Ngoài ra, Orthoebolavirus có thể tồn tại trong nhau thai, nước ối và thai nhi của những phụ nữ bị nhiễm bệnh khi đang mang thai, cũng như trong sữa mẹ của phụ nữ đang cho con bú. Do đó, các chương trình chăm sóc người sống sót cần phải bao gồm cả việc chăm sóc toàn diện cho phụ nữ mang thai và cho con bú sau khi họ phục hồi.
Tin Gốc: Vnexpress

