Ghi nhận của Người Đưa Tin tại địa bàn xã Thiên Lộc (Thành phố Hà Nội) đang thực hiện chiến dịch cao điểm xử lý vi phạm trật tự đô thị, trật tự an toàn giao thông và vệ sinh môi trường. Đây là hoạt động nằm trong lộ trình xây dựng nếp sống văn minh đô thị theo chỉ đạo của UBND Thành phố Hà Nội.
Sau thời gian triển khai, diện mạo các tuyến đường chính trên địa bàn xã Thiên Lộc đã có những chuyển biến hết sức tích cực.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Xã Hội
Tập huấn sách giáo khoa mới: Không thể làm qua loa nếu muốn đổi mới giáo dục thực chất

Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển quan trọng của ngành giáo dục khi lần đầu tiên học sinh trên cả nước sử dụng thống nhất một bộ sách giáo khoa (SGK). Những ngày gần đây, nhiều địa phương đồng loạt triển khai kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng giáo viên để chuẩn bị cho năm học mới.
Tuy nhiên, cùng với quá trình triển khai, không ít ý kiến cho rằng việc tập huấn tập trung đang gây áp lực về thời gian, ảnh hưởng đến kỳ nghỉ hè của giáo viên. Một số nơi còn bị phản ánh tổ chức mang tính hình thức, nội dung chưa thật sự sát thực tế giảng dạy.
Dù vậy, ở góc độ chuyên môn, nhiều giáo viên lâu năm cho rằng tập huấn SGK là yêu cầu không thể thiếu nếu muốn triển khai hiệu quả chương trình mới. Điều cần bàn không phải là "có nên tập huấn hay không", mà là tập huấn theo cách nào để đem lại hiệu quả thực chất.
SGK không chỉ đơn thuần là tài liệu tham khảo hay học liệu bổ sung. Đây là học liệu chính thức gắn với mục tiêu chương trình, hệ thống bài học, phương pháp tổ chức hoạt động và định hướng kiểm tra, đánh giá học sinh. Vì vậy, khi thay đổi bộ sách hoặc triển khai một chương trình thống nhất trên toàn quốc, giáo viên bắt buộc phải được tiếp cận đầy đủ nội dung, cấu trúc và tinh thần của SGK mới.
Trong các đợt tập huấn trước đây theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, nhiều giáo viên từng phải dạy song song nhiều bộ sách khác nhau. Có thời điểm lớp 6, lớp 7 sử dụng bộ Cánh Diều, trong khi lớp 8, lớp 9 học bộ Kết nối tri thức với cuộc sống. Điều này khiến giáo viên phải liên tục cập nhật phương pháp và cách tiếp cận nội dung.
Khi cả nước chuyển sang dùng thống nhất một bộ SGK, những giáo viên chưa từng giảng dạy bộ sách này càng cần được bồi dưỡng kỹ lưỡng trước khi bước vào năm học mới.
Thông qua các buổi tập huấn, giáo viên thường được nghe tác giả SGK hoặc chuyên gia chuyên môn giới thiệu về cấu trúc sách, mục tiêu bài học, yêu cầu cần đạt, phương pháp tổ chức dạy học cũng như định hướng kiểm tra đánh giá. Ngoài ra còn có các video tiết dạy minh họa, hoạt động thảo luận chuyên môn để giáo viên hình dung rõ hơn cách triển khai trong thực tế.
Những nội dung này giúp giáo viên hiểu đúng tinh thần của chương trình, tự tin hơn khi xây dựng kế hoạch bài dạy và tổ chức lớp học. Chính vì thế, nhiều sở giáo dục yêu cầu giáo viên bắt buộc tham gia đầy đủ các đợt tập huấn, thậm chí có nơi không phân công giảng dạy đối với giáo viên không tham gia hoặc không đạt yêu cầu đánh giá sau tập huấn. Đây được xem là biện pháp mạnh nhằm đảm bảo chất lượng triển khai SGK mới ngay từ đầu năm học.
Dù việc tập huấn là cần thiết, nhưng thực tế nhiều giáo viên vẫn băn khoăn vì nội dung ở một số nơi còn nặng tính giới thiệu hình thức.
Không ít buổi tập huấn chỉ dừng ở việc giới thiệu cấu trúc sách, số tiết học, hệ thống kênh hình - kênh chữ hay các yêu cầu về phẩm chất, năng lực học sinh. Những nội dung này cần thiết nhưng chưa đủ. Điều giáo viên cần nhất chính là phương pháp tổ chức dạy học cụ thể.
Họ cần được giải đáp những câu hỏi rất thực tế như: Dạy bài này bằng hoạt động nào để học sinh hứng thú? Tổ chức thảo luận nhóm ra sao? Khai thác tư liệu như thế nào để phát triển năng lực học sinh? Kiểm tra, đánh giá theo định hướng mới bằng hình thức nào?
Nếu tập huấn chỉ dừng ở mức "giới thiệu sách", giáo viên rất khó chuyển hóa kiến thức thành chất lượng tiết dạy trên lớp. Một đợt tập huấn hiệu quả phải giúp giáo viên biết cách thiết kế hoạt động học tập, xử lý tình huống trong lớp học và vận dụng linh hoạt SGK vào từng đối tượng học sinh cụ thể.
Một vấn đề khác được nhiều giáo viên nhắc đến là việc tập huấn hiện nay vẫn quá phụ thuộc vào hình thức trực tuyến. Hình thức này có ưu điểm là tiết kiệm kinh phí, triển khai được trên diện rộng và thuận lợi về mặt tổ chức. Tuy nhiên, hiệu quả chuyên môn chưa phải lúc nào cũng đạt như kỳ vọng.
Nhiều giáo viên cho biết, học trực tuyến khó tương tác trực tiếp với báo cáo viên, khó trao đổi sâu về các vấn đề phát sinh trong quá trình giảng dạy thực tế. Không ít buổi tập huấn gặp tình trạng đường truyền chập chờn, nội dung kéo dài khiến người học khó duy trì sự tập trung. Bên cạnh đó, việc quản lý nề nếp học tập cũng chưa thật sự hiệu quả. Có trường hợp giáo viên tham gia cho đủ danh sách nhưng không theo dõi đầy đủ nội dung.
Một số đợt tập huấn còn được tổ chức ngay trong năm học, khi giáo viên vừa dạy chính khóa vừa tham gia bồi dưỡng nên khó toàn tâm toàn ý tiếp thu kiến thức mới. Theo nhiều ý kiến, để nâng cao chất lượng thực chất, hoạt động tập huấn nên được tổ chức trực tiếp vào dịp hè, có lộ trình theo nhiều cấp độ.
Trước tiên là tập huấn đội ngũ giáo viên cốt cán cấp sở, chuyên viên bộ môn và tổ trưởng chuyên môn. Sau đó triển khai theo cụm trường, tổ chuyên môn và tiếp tục sinh hoạt chuyên đề tại từng đơn vị.
Quan trọng hơn, giáo viên cần được trực tiếp xây dựng kế hoạch dạy học, thiết kế bài giảng, dạy minh họa, dự giờ và góp ý lẫn nhau thay vì chỉ nghe giới thiệu lý thuyết. Đó mới là quy trình bồi dưỡng có khả năng tạo ra thay đổi thật sự trong lớp học.
Việc cả nước thống nhất sử dụng một bộ SGK là bước chuyển lớn của ngành giáo dục, đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ cơ quan quản lý đến từng nhà trường, giáo viên. Muốn đổi mới giáo dục đi vào thực chất, trước hết giáo viên phải được chuẩn bị đầy đủ cả về kiến thức lẫn phương pháp giảng dạy.
Một đợt tập huấn hiệu quả không chỉ giúp giáo viên "biết sách", mà quan trọng hơn là giúp họ tự tin tổ chức giờ học, hiểu đúng tinh thần chương trình và vận dụng linh hoạt vào thực tế lớp học.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa chính thức ban hành Kế hoạch triển khai Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về tư duy, phương thức và hiệu quả truyền thông đối ngoại, qua đó góp phần xây dựng và nâng tầm thương hiệu quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Chia sẻ với Người Đưa Tin, ông Nguyễn Văn Thuật – Phó Cục trưởng Cục Thông tin cơ sở và Thông tin đối ngoại cho biết, Chiến lược được xây dựng trên nền tảng các nghị quyết, kết luận quan trọng của Bộ Chính trị và Chính phủ.
Trong đó có Kết luận 57-KL/TW về tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới; Nghị quyết 57-NQ/TW (2024) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế và Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam.
Những định hướng này tạo cơ sở chính trị – chiến lược vững chắc cho việc định hình và triển khai truyền thông hình ảnh quốc gia một cách bài bản, đồng bộ.
Một trong những điểm mới nổi bật của Chiến lược, theo ông Thuật là lần đầu tiên đặt ra yêu cầu xây dựng thông điệp và bộ nhận diện hình ảnh quốc gia thống nhất ở tầm chiến lược.
"Đây sẽ là nền tảng xuyên suốt cho mọi hoạt động truyền thông đối ngoại, khắc phục tình trạng phân tán, rời rạc trước đây", ông nhấn mạnh.
Trên cơ sở đó hình ảnh Việt Nam được định vị tổng thể, nhất quán, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt khi triển khai tại các thị trường, khu vực và nhóm công chúng quốc tế khác nhau.
Theo định hướng xuyên suốt của Chiến lược, Việt Nam được xây dựng và lan tỏa như một quốc gia ổn định về chính trị, năng động về kinh tế, giàu bản sắc văn hóa và có khát vọng đổi mới sáng tạo; là môi trường đầu tư – kinh doanh hấp dẫn, điểm đến an toàn, thân thiện và là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Trong đó, con người Việt Nam hội tụ các giá trị truyền thống và hiện đại, sáng tạo nhưng giàu tính nhân văn, hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc được xác định là trung tâm của toàn bộ chiến lược truyền thông hình ảnh quốc gia.
Chiến lược cũng đặt ra mục tiêu cụ thể đến năm 2045 Việt Nam trở thành quốc gia có hình ảnh và thương hiệu mạnh, được cộng đồng quốc tế nhận diện rõ nét và tích cực; phấn đấu nằm trong Top 3 ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm.
Đồng thời trở thành điểm đến hấp dẫn về du lịch, đầu tư, sáng tạo và giao lưu văn hóa quốc tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.
Đề cập đến vai trò của "sức mạnh mềm" trong bối cảnh mới, ông Phạm Anh Tuấn – Cục trưởng Cục Thông tin cơ sở và Thông tin đối ngoại cho rằng cách tiếp cận cần có sự thay đổi căn bản. Theo ông câu hỏi quan trọng không còn dừng ở việc "Việt Nam có gì", mà phải trả lời được "Việt Nam là ai" trong nhận thức của cộng đồng quốc tế.
"Sức mạnh quốc gia được cấu thành từ hai yếu tố là sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Nếu sức mạnh cứng thể hiện qua tiềm lực kinh tế, quân sự và vật chất thì sức mạnh mềm lại nằm ở hình ảnh, uy tín và mức độ thiện cảm mà quốc gia tạo dựng trong mắt bạn bè quốc tế. Đây cũng chính là giá trị cốt lõi mà công tác truyền thông hình ảnh quốc gia hướng tới", ông Tuấn nhấn mạnh.
Theo ông các giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc và con người Việt Nam như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm và sáng tạo không chỉ là nền tảng nội sinh mà còn là những yếu tố cốt lõi góp phần định hình hình ảnh Việt Nam trong mắt thế giới, đúng như tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Về giải pháp triển khai, ông Nguyễn Văn Thuật cho biết Chiến lược nhấn mạnh yêu cầu đổi mới toàn diện phương thức truyền thông theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
Truyền thông truyền thống và truyền thông số sẽ được kết hợp hài hòa, các hình thức quảng bá trực tiếp và trực tuyến được triển khai đồng bộ nhằm mở rộng phạm vi tiếp cận và nâng cao hiệu quả lan tỏa trên các nền tảng xuyên biên giới.
"Đáng chú ý, Chiến lược đặt trọng tâm vào việc ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong toàn bộ chu trình truyền thông từ nghiên cứu công chúng, xây dựng thông điệp, tổ chức sản xuất nội dung cho đến phân phối và đo lường hiệu quả.
Trong đó, xây dựng hệ sinh thái truyền thông số quốc gia được xác định là giải pháp mang tính đột phá, giúp nâng cao năng lực chủ động, khả năng thích ứng và hiệu quả lâu dài của công tác quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới", ông Thuật chia sẻ.
Một nội dung xuyên suốt khác, theo ông Thuật là phát huy vai trò của toàn xã hội trong truyền thông hình ảnh quốc gia.
Bên cạnh vai trò nòng cốt của các cơ quan Đảng và Nhà nước, Chiến lược khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cộng đồng sáng tạo và đặc biệt là cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Những chủ thể này được kỳ vọng sẽ trở thành các "đại sứ hình ảnh", lan tỏa Việt Nam thông qua chính trải nghiệm, uy tín và tiếng nói của mình.
Cùng với đó, việc tăng cường phối hợp liên ngành, thúc đẩy hợp tác công – tư và huy động đồng bộ các nguồn lực xã hội được coi là yếu tố then chốt để tạo nên sức lan tỏa rộng khắp, bền vững cho hình ảnh quốc gia trong dài hạn.
Chiến lược cũng xác định rõ việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực là yếu tố mang tính quyết định. Mục tiêu là xây dựng đội ngũ làm truyền thông chuyên nghiệp, có năng lực truyền thông quốc tế, am hiểu truyền thông số, sử dụng đa ngôn ngữ và có khả năng thích ứng linh hoạt với môi trường truyền thông toàn cầu.
Ở cấp địa phương, ông Nguyễn Văn Thuật nhấn mạnh vai trò chủ động của các tỉnh, thành phố trong việc xây dựng chiến lược truyền thông phù hợp với định hướng chung của quốc gia.
Đồng thời phát triển bộ nhận diện thương hiệu địa phương theo hướng quốc tế hóa, tăng cường phối hợp với báo chí đối ngoại và các nền tảng mạng xã hội để lan tỏa thông tin tích cực.
Việc đẩy mạnh liên kết, hợp tác vùng trong truyền thông cũng được xác định là hướng đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quảng bá.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Xã Hội
Chuyên gia lý giải nguyên nhân khiến cả nước liên tiếp hứng dông lốc, mưa đá dữ dội

Các chuyên gia khí tượng cảnh báo chuỗi thiên tai dồn dập này cho thấy thời tiết đang xuất hiện những dấu hiệu cực đoan rõ rệt hơn thường lệ.
Trong tháng 4, cả nước ghi nhận 4 đợt mưa diện rộng, kèm theo 9 trận dông lốc, mưa đá, trải rộng trên cả 3 miền. Riêng từ chiều tối 2/5 đến sáng 4/5, 11 tỉnh thành từ miền núi phía Bắc đến Bắc Trung Bộ xảy ra dông lốc, mưa đá, sét mạnh. Thiên tai làm 12 người bị thương; hơn 3.100 ngôi nhà bị tốc mái, hư hỏng; gần 15.800 ha lúa, hoa màu bị thiệt hại; hơn 100 cột điện gãy đổ. Sét đánh làm vỡ bể chứa, khiến khoảng 2.000 lít mật mía ở Nghệ An tràn ra ngoài.
Nhiều trận mưa đá ghi nhận hạt đá lớn (4-5 cm), rơi dày, đi kèm gió giật mạnh, dấu hiệu của những ổ dông phát triển rất mạnh và có khả năng gây thiệt hại lớn.
Lý giải hiện tượng trên, ông Trương Bá Kiên, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khí tượng khí hậu (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết, tháng 4-5 là thời kỳ chuyển mùa ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ, vốn rất dễ xuất hiện dông mạnh, lốc, sét và mưa đá. Năm nay thêm một yếu tố là nền nhiệt tăng cao sớm hơn trung bình nhiều năm, khiến lớp không khí sát mặt đất nóng ẩm hơn và tích tụ nhiều năng lượng hơn.
Cùng nhận định, ông Nguyễn Văn Hưởng, Trưởng phòng Dự báo Thời tiết (Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia), cho rằng, chính nền nhiệt cao trước đó kết hợp với các đợt không khí lạnh cuối mùa đã tạo thuận lợi cho dông mạnh phát triển. Khi không khí lạnh tràn xuống, dù cường độ không còn mạnh như mùa đông, nhưng gặp ngay khối không khí nóng ẩm sẵn có sẽ tạo ra sự xáo trộn mạnh trong khí quyển, kích hoạt dông, lốc và mưa đá.
Phân tích sâu hơn, ông Kiên cho biết, sự tương tác giữa hai khối khí trái ngược lạnh khô và nóng ẩm tạo ra chênh lệch lớn về nhiệt độ, độ ẩm, khiến khí quyển mất ổn định mạnh, hình thành các dòng thăng (luồng không khí bốc lên mạnh) phát triển nhanh, tạo ra ổ mây dông phát triển theo phương thẳng đứng. Chính các dòng thăng này từng đủ mạnh để giữ các hạt băng tồn tại lâu trong vùng nhiệt độ dưới 0 độ C, nay bị cuốn lên xuống nhiều lần, tích tụ thêm các lớp băng trước khi rơi xuống mặt đất thành mưa đá.
Các trận dông thường bùng phát rất nhanh vào chiều tối, thời điểm nhiệt tích tụ trong ngày đạt cực đại nên dễ gây cảm giác "đột ngột" và khó lường. Thực tế cũng ghi nhận chiều tối 2/5 (khoảng 16h30 đến 21h), nhiều tỉnh từ Điện Biên, Lai Châu đến Hà Nội xuất hiện mưa đá, gây thiệt hại về nhà cửa, hoa màu và hạ tầng.
Vì sao có sự cực đoan ấy? Ông Kiên cho rằng có liên quan đến biến đổi khí hậu. Yếu tố này không trực tiếp tạo ra từng trận mưa đá cụ thể, nhưng đang làm thay đổi nền khí hậu chung. Khi nhiệt độ trung bình tăng, khí quyển có thể chứa nhiều hơi nước hơn, đồng thời năng lượng đối lưu cũng lớn hơn, khiến các ổ dông có thể phát triển nhanh hơn, sâu hơn và mạnh hơn khi gặp các điều kiện kích hoạt như không khí lạnh, rãnh thấp, hội tụ gió hay nhiễu động trên cao.
Ở góc độ dự báo, ông Hưởng cho biết, dông lốc và mưa đá không chỉ xảy ra trong thời kỳ chuyển mùa mà còn có thể xuất hiện trong mùa hè khi nền nhiệt cao và đối lưu mạnh, hoặc trước khi bão, áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng. Điều này đồng nghĩa nguy cơ dông mạnh có thể xuất hiện ở nhiều khu vực trên cả nước nếu điều kiện khí quyển phù hợp.
Dự báo xa hơn về xu thế thời tiết từ tháng 5-7, Phó Trưởng phòng Dự báo khí hậu, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia Nguyễn Đức Hòa cho biết, từ tháng 5-7, mùa mưa ở khu vực Bắc Bộ ở mức tương đương so với trung bình nhiều năm (khoảng từ giữa tháng 5). Đối với Cao nguyên Trung Bộ và Nam Bộ, do gió mùa Tây Nam ở phía Nam có khả năng hoạt động từ khoảng nửa cuối tháng 5 gây mưa rào và dông gia tăng nên mùa mưa tại khu vực này xuất hiện muộn hơn so với trung bình nhiều năm (trung bình nhiều năm mùa mưa tại khu vực Cao nguyên Trung Bộ là khoảng tuần cuối tháng 4, tuần đầu tháng 5; khu vực Nam Bộ là khoảng nửa đầu tháng 5).
Cũng trong tháng 5, tổng lượng mưa trên toàn quốc phổ biến ở mức thấp hơn so với trung bình nhiều năm từ 15-30%; riêng tại khu vực phía Đông Bắc Bộ và Nam Bộ phổ biến ở mức xấp xỉ so với trung bình nhiều năm cùng thời kỳ.
Tháng 6, tại Tây Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, các tỉnh, thành phố từ Thanh Hóa đến Huế phổ biến cao hơn từ 5-20% so với trung bình nhiều năm, các khu vực còn lại phổ biến xấp xỉ so với trung bình nhiều năm cùng thời kỳ. Tháng 7, phổ biến cao hơn từ 5-10% so với trung bình nhiều năm, riêng khu vực duyên hải Nam Trung Bộ phổ biến ở mức xấp xỉ so với trung bình nhiều năm cùng thời kỳ.
Thời gian tới, Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ vẫn là khu vực cần theo dõi sát do còn trong giai đoạn giao mùa. Về dài hạn, khi bước vào cao điểm mưa bão, các hình thái nguy hiểm có thể chuyển sang mưa lớn diện rộng, lũ, ngập úng, lũ quét, sạt lở đất và gió mạnh trên biển, ven bờ. Đến giai đoạn chuyển mùa tiếp theo vào tháng 9-10, các hiện tượng dông mạnh, lốc, sét, mưa đá có thể gia tăng trở lại.
Trước diễn biến thời tiết ngày càng cực đoan, các chuyên gia nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy ứng phó sang chủ động phòng ngừa. Do đặc thù dông lốc, mưa đá quy mô nhỏ, biến đổi nhanh, việc dự báo chính xác từng điểm, từng thời điểm là thách thức lớn. Vì vậy, giải pháp trọng tâm là cảnh báo sớm theo vùng nguy cơ, cập nhật liên tục theo thời gian thực và truyền tải thông tin đến đúng người, đúng nơi.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

