Sạc công suất lớn trên 100 W dần trở nên phổ biến nhờ công nghệ GaN (Gallium Nitride) giúp kích thước phụ kiện nhỏ gọn, trong khi người dùng cũng có nhu cầu sử dụng củ sạc duy nhất cho cả smartphone, laptop, tablet… Tất nhiên, loại sạc có màn hình đắt hơn đáng kể so với sạc truyền thống.
Anker Prime Smart Display
Bộ sạc mới ra mắt thị trường Việt Nam cuối tháng 3 của Anker có trọng lượng 220 gram và nhỏ hơn 43% so với củ 140 W của Apple, tương đương hộp đựng AirPods. Màn hình cảm ứng hiển thị thời gian thực công suất đầu ra, nhiệt độ và trạng thái sạc, giúp dễ theo dõi, kiểm soát thông số.
Prime Smart Display trang bị ba cổng USB-C cho tổng công suất 160 W, nhưng không có cổng USB-A. Sản phẩm phân bổ điện năng thông minh nhờ công nghệ PowerIQ 5.0 tối ưu bằng AI, đi kèm tính năng tản nhiệt ActiveShield 4.0 giúp thiết bị luôn mát và được bảo vệ. Củ sạc có giá 3,25 triệu đồng. Hai phiên bản công suất thấp hơn 100 W và 45 W có giá từ 850.000 đồng.
Cuktech 10 Ultra
Sản phẩm từ thương hiệu con của Xiaomi có kích thước 67 x 76 x 33 mm, gồm một cổng USB-A và ba cổng USB-C cho tổng công suất 120 W. Củ sạc trang bị màn hình LED 1,57 inch hiển thị thông số, hỗ trợ ứng dụng Mi Home theo dõi công suất cũng như cảm biến nhiệt NTC kiểm tra 36.000 lần/giờ.
Cuktech 10 Ultra hỗ trợ hầu hết chuẩn sạc nhanh trên thị trường, như D3.1, PPS, UFCS, QC, Huawei SCP/FCP hay Xiaomi Turbo. Sản phẩm được niêm yết ở mức 1,3 triệu đồng.
Ugreen Nexode 160 W Smart Display Charger
Nexode 160 W Smart Display Charger ra mắt cuối năm ngoái, là củ sạc đầu tiên của Ugreen trang bị màn hình hiển thị. Trước đó, nhà sản xuất Trung Quốc chủ yếu bán các mẫu GaN công suất cao nhưng không có màn hình.
Sản phẩm có màn hình LCD hiển thị thời gian thực thông số như điện áp, dòng điện và giao thức sạc đang hoạt động. Được trang bị bốn cổng USB-C và một cổng USB-A, tổng công suất đầu ra đạt mức 160 W. Sạc của Ugreen tương thích với nhiều chuẩn phổ biến, có giá 1,8 triệu đồng.
StarGO Powergo Charge
Thương hiệu Trung Quốc StarGO bán mẫu Powergo Charge có màn hình tại Việt Nam với giá 1,6 triệu đồng. Sản phẩm tích hợp màn hình LED cho phép theo dõi công suất thực tế, nhiệt độ và thời gian sử dụng.
So với các phiên bản cùng tầm giá, củ sạc của StarGO có ít cổng hơn, gồm hai USB-C và một USB-A, trang bị công nghệ chống quá dòng, quá nhiệt, ngắn mạch, hỗ trợ chuẩn phổ biến như PD 3.0, QC 3.0 và PPS.
Mazer AI Prestige PD100W
Củ sạc của Mazer (Singapore) có ba cổng, với hai USB-C và một USB-A, cho tổng công suất 100 W – thấp hơn so với các thiết bị cùng tầm giá. Sản phẩm tích hợp màn hình AI hiển thị thời gian thực công suất từng cổng, trạng thái thiết bị và mức phân bổ năng lượng.
Prestige PD100W sử dụng chip GaN7 giúp nâng cao hiệu suất sạc, hiệu suất chuyển đổi điện năng cao cũng như giảm lượng nhiệt sinh ra, đi kèm công nghệ Infinite Shield 7.0 kiểm soát nhiệt độ, chống quá dòng và giám sát an toàn liên tục. Sản phẩm có giá 2,3 triệu đồng.
Bảo Lâm
Loạt pin dự phòng 25.000 mAh sạc siêu nhanh
Sạc đầy 100% có gây hại cho pin điện thoại?
Nguồn: https://vnexpress.net/5-mau-sac-nhanh-tren-100-w-tich-hop-man-hinh-5057399.html

TS Thiên Minh, sinh năm 1991, là một trong những giảng viên được chọn tham gia xây dựng chuyên ngành Robotics tại Đại học Queensland (Australia). Trước đó, anh nghiên cứu robot tại Đại học Công nghệ Nanyang (Singapore) và Học viện Công nghệ hoàng gia Thụy Điển, với 26 bài báo khoa học đã công bố trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc danh mục Q1 của SCImago trong lĩnh vực khoa học robot, hệ thống tự hành. Anh là một trong 10 nhà khoa học trẻ nhận Giải thưởng Quả Cầu Vàng 2025, đồng thời có tên trong danh sách 9 gương mặt trẻ Việt Nam triển vọng năm 2025.
Trong bối cảnh Việt Nam đưa robot và tự động hóa vào danh mục 11 nhóm công nghệ chiến lược, anh chia sẻ về hành trình đến với robotics và những đề xuất để lĩnh vực phát triển tương xứng với tiềm năng trong nước.
- Từ một sinh viên tốt nghiệp tại Việt Nam, cơ duyên nào đưa anh trở thành nhà nghiên cứu trẻ "năng suất" và tham gia thiết kế chương trình đào tạo kỹ thuật robot tại nước ngoài?
- Niềm đam mê của tôi với robot bắt đầu khi làm luận văn tốt nghiệp ở Đại học Bách khoa TP.HCM cách đây hơn 10 năm. Tôi chọn đề tài thiết kế robot tự hành, dùng cảm biến 3D, kết hợp các module định vị, lập bản đồ và hoạch định chuyển động trên hệ điều hành robot. Đề tài tưởng chừng đơn giản nhưng thực tế phải xây dựng hệ thống "từ A đến Z", từ thiết kế khung robot, chọn động cơ, đến chế tạo mạch điện công suất, bộ vi điều khiển, lập trình giao tiếp, lập trình giải thuật định vị và hoạch định chuyển động trên hệ điều hành.
Lúc đó tôi còn thiếu kinh nghiệm, chọn đề tài hơi tham vọng với một sinh viên đại học. Về sau khi làm hướng dẫn đề tài cho sinh viên, tôi rút kinh nghiệm chỉ gợi ý các bạn tập trung vào một module của hệ thống cho phù hợp với học tải sư phạm.
Thế nhưng, chính từ việc "lỡ dại" đó đã cho tôi trải nghiệm khó quên và hứng thú lâu dài với robotics. Sau nhiều tháng, robot cũng thành hình và có khả năng di chuyển chính xác tới vị trí trên bản đồ. Tôi vẫn nhớ cảm giác khi "em" robot tự thiết kế mấy tháng trời có thể tự động quẹo cua tránh chiếc ghế không có sẵn trong bản đồ.
Trong buổi bảo vệ luận văn tốt nghiệp, tôi cũng thấy các dự án khác làm về quét 3D với độ chính xác milimét, hệ thống điều khiển bằng giọng nói, hệ thống định vị và lập bản đồ đồng thời (SLAM) dùng camera... Tất cả với tôi đều rất thu hút và từ đó nung nấu ý định nghiên cứu sâu hơn, tìm hiểu những kỹ thuật tiên tiến trên thế giới.
- Mục tiêu là như vậy, nhưng thực tế ra sao, anh có vấp phải rào cản lớn nào khi bắt đầu hành trình?
- Năm đầu sau khi tốt nghiệp đại học có lẽ là giai đoạn tôi gặp trắc trở nhất. Là sinh viên mới ra trường, làm sao để mình có cơ hội được tham gia vào các nhóm nghiên cứu hàng đầu trong ngành? Tôi còn nhớ trong một buổi phỏng vấn, một nhà quản lý dự án thẳng thừng nói họ nghi ngờ năng lực của sinh viên Việt Nam, do các trường đại học trong nước được xếp hạng khiêm tốn, chưa có thương hiệu mạnh. Đây có lẽ cũng là khó khăn chung của nhiều sinh viên cho đến bây giờ.
Việc nâng cao thương hiệu của các đại học Việt Nam sẽ phải mất nhiều năm, tuy nhiên việc tăng hợp tác và liên kết quốc tế, đặc biệt là hỗ trợ sinh viên, học viên đi trao đổi ngắn hạn trong lĩnh vực robotics có thể làm ngay và sẽ rất có ích cho việc "tiếp thị" sinh viên Việt Nam đến các nhóm nghiên cứu quốc tế. Sinh viên, nghiên cứu sinh tại Việt Nam có thể mạnh dạn liên hệ với các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế để tìm cơ hội hợp tác. Nếu thể hiện được sự nghiêm túc, đam mê và mục tiêu rõ ràng, tôi tin sẽ luôn có những người đi trước sẵn sàng hỗ trợ.
May mắn lớn trong hành trình của tôi là được GS Xie Lihua tại Đại học Công nghệ Nanyang (NTU) tại Singapore tuyển vào nhóm làm nghiên cứu sinh về UAV. Có thể nói cơ hội đó là một đòn bẩy của sự nghiệp, là sự kết hợp của nhiều sự lựa chọn lớn: vào NTU, học lên PhD, nghiên cứu thiết bị bay không người lái. Đặc biệt, tôi có cơ hội học rất nhiều vì UAV là hệ thống rất khó nhằn so với các dạng robot khác, do giới hạn về kích thước, khối lượng và biên độ sai sót cho phép rất nhỏ.
Tuy nhiên khi nhìn lại, may mắn chỉ là một nửa, việc sẵn sàng theo đuổi hướng đi thử thách và ham muốn nâng cao năng lực bản thân có vai trò quyết định quan trọng không kém.
Một câu chuyện vui là trong chính buổi phỏng vấn trên, tôi trượt câu hỏi về điều kiện chéo hóa ma trận - kỹ thuật cơ bản để phân tích tính ổn định của hệ thống tuyến tính trong các bài toán điều khiển và thầy Xie là chuyên gia hàng đầu thế giới về lĩnh vực này. Lúc đó tôi nghĩ đã mất cơ hội, nhưng thầy chỉ hỏi câu ngoài lề, vì đề tài nghiên cứu cần nhiều kỹ thuật thực hành hơn. Sau này khi học lại bài bản, tôi đạt điểm tối đa trong môn này do chính thầy giảng dạy.
Một cơ duyên nữa là đến đâu tôi cũng gặp được những đồng nghiệp tốt và chia sẻ đam mê. Khi bắt đầu, kiến thức về UAV của tôi gần như bằng không, nhưng nhờ đồng nghiệp hỗ trợ và tập trung học hỏi, tôi nhanh chóng nắm bắt kỹ thuật cơ bản. Tôi vẫn gắn bó với nhóm nghiên cứu của GS Xie và coi đó như ngôi nhà thứ hai. Từ bệ phóng này, tôi có thể tự tin gia nhập cộng đồng nghiên cứu robot của thế giới.
Đây cũng là điều tôi muốn chia sẻ cho các sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam thông qua công tác giảng dạy và phát triển chương trình giảng dạy tại Việt Nam, hoặc thúc đẩy chương trình hợp tác giữa cơ sở giáo dục Việt Nam và các phòng lab quốc tế nếu có cơ hội.
- Anh đánh giá thế nào về năng lực của ngành kỹ thuật robot Việt Nam, từ đào tạo, nghiên cứu đến ứng dụng?
- Về phương diện nghiên cứu và đào tạo, chuyên ngành robotics hay kỹ thuật robot còn tương đối mới tại các cơ sở giáo dục đại học trong nước. Thực tế, đây là sự giao thoa của nhiều ngành khoa học - kỹ thuật, đòi hỏi chuyên môn trải rộng về cơ khí, điện - điện tử và khoa học máy tính. Do đó trên thế giới, chẳng hạn tại NTU hay Đại học Queensland nơi tôi có cơ hội làm việc, robotics bậc đại học cũng là chuyên ngành mới.
Về ứng dụng, ở Việt Nam, xe tự hành (AGV) và robot dịch vụ đã được triển khai tại nhiều doanh nghiệp và cơ quan hành chính, tạo ra giá trị thực tiễn trong việc tiết kiệm nhân lực, tăng hiệu quả dịch vụ. Doanh nghiệp Việt cũng đã đầu tư vào robot hình người, công nghệ thách thức nhất trong ngành robotics.
Tuy nhiên, những bước phát triển này, trong cả môi trường đào tạo và triển khai thực tế, chủ yếu tập trung vào khâu thi công và sử dụng. Khi trực tiếp tham gia nghiên cứu và thiết kế chương trình đào tạo robotics, điều tôi trăn trở là các dự án "tạo ra năng lực mới" chưa có sự hiện diện rõ ràng.
Chẳng hạn, một số hướng nghiên cứu robotics trên thế giới hiện phát triển các hệ thống robot bay để xây dựng bản đồ với độ trung thực cao của các môi trường tự nhiên và nhân tạo, phục vụ nông nghiệp, lâm nghiệp và kiểm tra hạ tầng. Một số hệ thống có thể tự động khảo sát trang trại điện mặt trời và tạo báo cáo đánh giá. Cũng có những nghiên cứu và phát triển về hệ thống đa robot cho tìm kiếm cứu nạn và ứng phó khẩn cấp, có thể thấy trong các cuộc thi quốc tế như DARPA SubT, DARPA Triage, Outback Challenge, MBZIRC. Những người làm các dự án này chủ yếu là nhà nghiên cứu và sinh viên tại các cơ sở giáo dục đại học.
Để robotics phát triển dài hạn, việc tạo ra năng lực mới phải là trọng tâm. Đó là việc xây dựng hệ thống robot làm được những công việc vượt ra ngoài năng lực con người, xét về quy mô, hiệu suất, tính an toàn, từ đó hình thành các hệ thống có thể trở thành "cộng tác viên" của con người, làm chung với con người, thay vì thay thế hoàn toàn. Đây là quan điểm cốt lõi của tôi khi theo đuổi các hệ thống robot.
- Đâu là cơ hội để Việt Nam hình thành những "năng lực mới" và bứt phá trong lĩnh vực?
- Cơ hội của Việt Nam nằm ở lĩnh vực thực địa - những robot vận hành tự chủ trong môi trường phức tạp và quy mô lớn, như trong lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp và phần mềm robotics. Bối cảnh chính sách và sự sẵn sàng đầu tư cho nghiên cứu ở Việt Nam cũng đang trở nên thuận lợi hơn.
Hiện công tác bảo trì hạ tầng năng lượng vẫn chủ yếu dựa vào con người, khiến người lao động đối mặt với rủi ro. Với việc Việt Nam đẩy mạnh phát triển nhiều dạng năng lượng khác nhau phục vụ nhu cầu ngày càng tăng cũng như các ngành công nghiệp mới, các dự án robot khảo sát đập thủy điện, đường ống, đường dây truyền tải, tuabin gió hay trang trại điện mặt trời sẽ có tiềm năng rất lớn.
Nông nghiệp cũng là lĩnh vực lớn mà robot có thể tham gia cải tiến. Một phần lớn dân số Việt Nam làm trong nông nghiệp, vẫn còn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và lao động thủ công. Các nhà sản xuất có thể "robot hóa", biến máy móc nông nghiệp thành robot tự hành hoặc bán tự hành, với năng lực cảm biến, điều khiển và trí thông minh tiên tiến để kiểm tra, giám sát điều kiện đất đai, gợi ý thực hành canh tác. Các công nghệ nền tảng đều nằm trong tầm tay, điều cần là tham vọng để kết nối chúng với nhau.
Lĩnh vực thứ ba Việt Nam có thể tham gia là phần mềm robotics. Chúng ta có thể phát triển những mô hình bản sao số, tích hợp dữ liệu giao thông và đô thị địa phương, từ đó xây dựng những bộ dữ liệu cho nghiên cứu robotics. Đây là lĩnh vực mà thế mạnh của Việt Nam về phần mềm và toán học có thể chuyển hóa trực tiếp thành những đóng góp mang tính tiên phong trong ngành.
Dù vậy, không nên kỳ vọng mọi dự án nghiên cứu đều lập tức tạo ra công nghệ mới, có thể sử dụng hay thương mại hóa ngay. Còn có những chiều giá trị khác: kiến thức thu được, con người được đào tạo qua dự án, và nguồn cảm hứng được truyền lại cho thế hệ tương lai.
Về bối cảnh chung, cách hiểu rộng hơn về giá trị của nghiên cứu khoa học đang được các nhà hoạch định chính sách tiếp nhận. Nghị quyết 57 đặt mục tiêu chi 2% GDP cho nghiên cứu và phát triển là bước đột phá lớn. Khi thấy con số 2% đó, tôi thật sự phấn khởi, hiểu rằng Việt Nam đã công nhận nghiên cứu như một lĩnh vực trọng điểm đúng nghĩa. Tôi tin đây là cơ hội lớn cho hoạt động nghiên cứu tại các trường đại học Việt Nam.
- Từ kinh nghiệm của các quốc gia có hệ sinh thái robotics mạnh, Việt Nam có thể áp dụng hiệu quả những bài học nào cả trong nghiên cứu và triển khai thực tế?
- Với Singapore, nơi có mật độ robot trong công nghiệp thuộc nhóm cao nhất thế giới, yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh của quốc gia này trong ngành robotics là sự hỗ trợ R&D bằng nguồn vốn nhà nước. Họ cũng thúc đẩy rất mạnh cho quá trình chuyển giao nghiên cứu, chính phủ có thể đồng tài trợ cho những hợp tác nghiên cứu giữa doanh nghiệp và đại học.
Với Trung Quốc, họ đã khá thành công trong việc bắt kịp phương Tây bằng cách sản xuất phần cứng với chi phí thấp hơn và hiệu quả về thời gian. Ngành sản xuất phát triển cũng giúp giảm chi phí nghiên cứu robotics và thu hút đông đảo doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu tham gia vào hệ sinh thái.
Từ trải nghiệm với hai hệ sinh thái này, tôi cho rằng có hai bài học Việt Nam có thể tham khảo. Thứ nhất, Chính phủ nên đóng vai trò chủ động trong kết nối các nhà nghiên cứu và đối tác công nghiệp. Thứ hai, nên mở rộng hợp tác nghiên cứu robotics nhiều nhất có thể.
Chính phủ có thể thành lập cơ quan tài trợ để thẩm định và hỗ trợ các đề xuất nghiên cứu hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu. Chẳng hạn, một số nhóm nghiên cứu liên kết giữa doanh nghiệp - trường đại học có thể được Nhà nước tài trợ ở vòng đầu, sau đó hiệu quả thực hiện được đánh giá trước khi quyết định tài trợ có được tiếp tục ở vòng sau. Tôi tin những doanh nghiệp năng lượng lớn hay doanh nghiệp sản xuất, nông nghiệp tại Việt Nam đều đang có bài toán quan trọng liên quan đến robot và tự động hóa để kết hợp với viện trường nghiên cứu giải pháp.
Về điều kiện thứ hai, do tính liên ngành của lĩnh vực robotics, Việt Nam có thể chủ động hơn trong xây dựng chương trình hợp tác để biến những công nghệ đã có thành các hệ thống có thể triển khai thực tế. Tương tự với việc hợp tác quốc tế, cần tạo dựng sự hiện diện mạnh mẽ hơn của người Việt và đồng bộ hóa sự phát triển robotics ở Việt Nam với cộng đồng quốc tế.
Tôi tin các bài toán robotics của Việt Nam cũng rất giá trị với các nước khác, điểm then chốt là cần tham gia vào cộng đồng nghiên cứu quốc tế và tạo dấu ấn của riêng trong một hệ sinh thái robotics phát triển.
- Việt Nam có thể làm gì để thúc đẩy những người trẻ quan tâm hơn đến lĩnh vực robotics?
- Sự hỗ trợ quan trọng nhất theo tôi là phát triển và cập nhật chương trình đào tạo chuyên ngành về robotics tại Việt Nam. Các chuyên môn cần thiết như hệ điều hành robot, định vị và lập bản đồ, hoạch định chuyển động và ra quyết định đều có thể được đưa vào ngay ở bậc cử nhân, tương tự các chương trình đào tạo robotics trên thế giới.
Tôi cũng như nhiều nhà nghiên cứu robotics rất quan tâm đến việc đóng góp cho giảng dạy và phát triển chương trình đào tạo tại Việt Nam, hoặc thúc đẩy chương trình liên kết giữa đại học quốc tế và Việt Nam, để xây dựng các nhóm nghiên cứu tập trung vào những bài toán đặc thù của quốc gia.
Ngoài giáo dục đại học, một dạng đầu tư đem lại giá trị dài hạn nhưng chưa phổ biến ở Việt Nam là chương trình trao đổi sinh viên và nhà nghiên cứu robotics do nhà nước tài trợ. Khi nhà nghiên cứu trẻ được tham gia vào một nhóm nghiên cứu quốc tế, họ xây dựng được kết nối dài hạn và mở rộng mạng lưới hợp tác. Theo thời gian, điều này giúp củng cố từng nhà nghiên cứu lẫn toàn bộ hệ sinh thái robotics.
- Theo anh những người trẻ đang cân nhắc theo ngành robotics nên bắt đầu từ đâu để không phải đi đường vòng, vừa học đúng, vừa đi nhanh?
- Hãy luôn cởi mở với sự thay đổi, đừng nghĩ về robotics như một chuyên ngành đơn lẻ. Đây là lĩnh vực mà bạn luôn phải học những điều mới, sẵn sàng tiếp thu kỹ năng mới và tìm kiếm những đối tác có thể bổ sung cho thế mạnh của mình.
Một lời khuyên thực tế cho các nhà nghiên cứu trẻ muốn bước vào lĩnh vực này là hãy tìm một dự án đã hoàn thiện và tìm cách xây dựng lại nó theo hướng tốt hơn, thay vì chỉ "dùng" nó. Đây là cách làm tôi thực hiện mỗi khi bước vào một phân ngành mới của robotics như điều khiển, cảm nhận, hay robot học (robot learning).
Ví dụ trong một nghiên cứu gần đây, tôi thử nghiệm một chương trình robot learning tổng quát do Nvidia phát triển. Tôi nhận thấy hệ thống đó phức tạp hơn mức cần thiết, nên đã thiết kế lại một chương trình tinh gọn hơn cho nghiên cứu của riêng mình. Quy trình này giúp nhà nghiên cứu lĩnh hội được cả các kỹ thuật lẫn tư duy đằng sau một dự án, từ đó phát kiến ra những hướng phát triển mới để đóng góp.
Nam Nguyễn
Nguồn: https://vnexpress.net/robotics-viet-nam-co-hoi-nam-o-bai-toan-thuc-dia-5057137.html
Khoa Học Công Nghệ
'Việt Nam đang chuyển từ gia công phần mềm sang tạo ra công nghệ'

Khi công bố trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Hà Nội năm ngoái, Qualcomm chủ yếu nhắc đến AI. Nhưng sau một năm, kế hoạch hiện mở rộng sang bán dẫn, IoT và điện toán biên. Chia sẻ với VnExpress, ông Thiều Phương Nam, Tổng giám đốc Qualcomm Việt Nam, Lào và Campuchia, cho rằng Việt Nam không còn chỉ là thị trường tiêu thụ công nghệ hay nơi gia công phần mềm, mà dần tham gia sâu hơn vào cuộc chơi công nghệ.
- Qualcomm từng nói trung tâm R&D tại Việt Nam sẽ tập trung vào AI, điều gì thúc đẩy hãng mở rộng kế hoạch sang nhiều lĩnh vực khác?
- Từ lần công bố gần nhất năm ngoái, chúng tôi nhanh chóng nhận ra cơ hội phát triển tại Việt Nam không chỉ nằm ở AI. Việt Nam còn có tiềm năng lớn trong các lĩnh vực như bán dẫn, phần mềm, kết nối và kỹ thuật hệ thống - những lĩnh vực ngày càng gắn chặt với AI.
Tốc độ phát triển của hệ sinh thái công nghệ Việt Nam cũng vượt xa kỳ vọng ban đầu. Chúng tôi nhìn thấy nhiều yếu tố tích cực ở Việt Nam như chất lượng nguồn nhân lực, sự trưởng thành của hệ sinh thái công nghệ cũng như mong muốn của Việt Nam trong việc tham gia sâu vào phát triển các công nghệ tiên tiến.
Một điểm khác là khả năng thích ứng của kỹ sư Việt Nam. Vì vậy, trung tâm R&D của Qualcomm tại Hà Nội không chỉ tập trung vào AI, mà còn mở rộng sang bán dẫn, công nghệ ôtô, Internet vạn vật (IoT) và điện toán biên.
- Kỹ sư Việt Nam có những phẩn chất gì khiến Qualcomm tự tin giao thêm mảng nghiên cứu?
- Điều khiến chúng tôi ấn tượng nhất là khả năng thích ứng và tinh thần học hỏi của kỹ sư Việt. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi rất nhanh, khả năng cập nhật kiến thức liên tục và làm việc linh hoạt giữa nhiều lĩnh vực quan trọng không kém nền tảng chuyên môn kỹ thuật.
Chúng tôi chứng kiến nhiều kỹ sư Việt Nam hòa nhập nhanh với môi trường R&D toàn cầu, tham gia vào các dự án ngày càng phức tạp liên quan đến AI, phần mềm, bán dẫn và kỹ thuật hệ thống. Một điểm mạnh của kỹ sư Việt là nền tảng toán học và kỹ thuật tốt, giúp họ nhanh chóng thích ứng và làm chủ các công nghệ phức tạp.
- Ông đánh giá khoảng cách và sự khác biệt giữa Việt Nam và các trung tâm công nghệ hàng đầu thế giới ra sao?
- Việt Nam đang dần khẳng định vị thế là một trung tâm công nghệ và đổi mới sáng tạo ở khu vực Đông Nam Á. Điều chúng tôi nhìn thấy không chỉ là tiềm năng của hệ sinh thái, mà còn là chất lượng kỹ sư, năng lực phát triển phần mềm và khả năng tham gia sâu vào các hoạt động thiết kế kỹ thuật.
Việt Nam cũng có nhiều ưu tiên phát triển trùng với xu hướng công nghệ thế giới như AI, bán dẫn, kết nối tiên tiến và hạ tầng số. Tuy nhiên, để tiến xa hơn, Việt Nam cần nâng cao năng lực R&D, phát triển công nghệ lõi và tạo ra tài sản trí tuệ. Với tốc độ hiện nay, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một mắt xích chiến lược trong hệ sinh thái công nghệ.
- Đâu là mảng công nghệ Việt Nam có thể tạo ra sức ảnh hưởng tầm thế giới?
- Lĩnh vực chúng tôi đặc biệt tin tưởng ở Việt Nam là điện toán biên (edge computing), nơi AI được xử lý trực tiếp trên thiết bị và hệ thống, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào điện toán đám mây. Đây là xu hướng thiết yếu với smartphone, ôtô, IoT công nghiệp, robot và hạ tầng số.
Bán dẫn và kết nối tiên tiến đang phát triển rất nhanh. Đây là những công nghệ nền tảng cho các hệ thống thông minh thế hệ mới. Khi AI ngày càng tích hợp sâu vào sản phẩm và hạ tầng, khả năng tối ưu đồng thời phần cứng, phần mềm và kết nối sẽ trở nên đặc biệt quan trọng.
Trong tương lai, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành mắt xích chiến lược trong hệ sinh thái điện toán thông minh, đặc biệt ở các lĩnh vực liên quan đến AI, bán dẫn và công nghệ kết nối.
- Việt Nam lâu nay được biết đến với vai trò gia công phần mềm, việc chuyển sang làm công nghệ lõi liệu có khả thi?
- Tôi tin mọi hệ sinh thái công nghệ đều trải qua quá trình phát triển như vậy. Trên thực tế, rất ít quốc gia có thể sáng tạo ra công nghệ lõi ngay từ đầu.
Điều khiến chúng tôi tin tưởng vào Việt Nam là chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật và tốc độ phát triển nhanh của hệ sinh thái công nghệ. Chúng tôi đã thấy các kỹ sư Việt Nam tham gia trực tiếp vào những dự án tiên tiến về AI, bán dẫn, thiết kế vi mạch và kỹ thuật hệ thống.
Bên cạnh đó, Việt Nam hiện có nhiều doanh nghiệp công nghệ đủ tiềm lực và tham vọng để phát triển các công nghệ có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Quan hệ hợp tác của chúng tôi với Viettel, VNPT và VinFast cho thấy doanh nghiệp Việt ngày càng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ.
Tuy nhiên, để phát triển công nghệ lõi cần sự kết nối chặt chẽ giữa trường học, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và hệ sinh thái công nghệ thực tế. Đó là lý do chúng tôi đang hợp tác với các trường đại học Việt Nam, tham gia vào việc kết nối các kỹ sư với đội ngũ R&D.
- Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ 10 công nghệ chiến lược. Theo ông cần làm gì để hiện thực hóa mục tiêu này?
- Đây là định hướng phù hợp với xu hướng công nghệ cũng như thế mạnh hiện nay của Việt Nam, trong bối cảnh các lĩnh vực như AI, 6G, bán dẫn và Open RAN đang ngày càng đóng vai trò quan trọng.
Việt Nam hiện có nhiều doanh nghiệp công nghệ và đội ngũ kỹ sư giỏi. Minh chứng là trong dự án hợp tác giữa Qualcomm và Viettel về 5G Open RAN, họ là một trong những đối tác đầu tiên trên thế giới thương mại hóa và triển khai giải pháp ở quy mô lớn. Tương tự, VNPT cũng là một trong những đối tác đầu tiên đưa các sản phẩm tích hợp Wi-Fi 7 ra thị trường. Điều này cho thấy doanh nghiệp Việt có năng lực làm chủ và vận hành các công nghệ tiên tiến ở cấp độ cao.
Công nghệ là cuộc chơi toàn cầu. Vì vậy chỉ thành công trong nước chưa đủ. Các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam cần xây dựng tư duy mở và kết nối sâu hơn với các hệ sinh thái công nghệ quốc tế.
- Trong 5-10 năm tới, ông hình dung trung tâm R&D của Qualcomm tại Việt Nam đóng vai trò thế nào trong mạng lưới của tập đoàn?
- Chúng tôi kỳ vọng trung tâm R&D tại Việt Nam sẽ kết nối sâu hơn vào mạng lưới của Qualcomm. Mục tiêu không chỉ mở rộng quy mô nhân sự, mà còn xây dựng năng lực kỹ thuật đạt chuẩn thế giới ngay tại đây, đóng góp trực tiếp vào các thế hệ công nghệ tiếp theo.
Mỗi trung tâm kỹ thuật đều đóng góp những góc nhìn và bài toán thực tế khác nhau để định hình cách công nghệ phát triển và triển khai. Chúng tôi tin Việt Nam có thể đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình đó, đặc biệt ở các lĩnh vực như điện toán biên, AI trên thiết bị (on-device AI) và hệ thống kết nối.
Tôi mong sẽ nhìn thấy Việt Nam không chỉ trở thành thị trường công nghệ tiềm năng, mà còn là nơi tạo ra công nghệ và sở hữu năng lực kỹ thuật có ảnh hưởng toàn cầu.
Tin Gốc: Vnexpress
Khoa Học Công Nghệ
Trung Quốc phát triển ăng ten ‘giấy’ cho mạng 5G trên tàu chiến

Theo South China Morning Post ngày 20-4, nghiên cứu về ăng ten "giấy" do nhóm Yang Wendong tại Đại học Công nghệ Liêu Ninh (TP Cẩm Châu, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc) thực hiện.
Mục tiêu của nhóm là phát triển một giải pháp ăng ten có chi phí sản xuất thấp, phục vụ các hệ thống liên lạc 5G được triển khai trên các tàu chiến.
Trong thiết kế, ăng ten được xây dựng theo công nghệ MIMO (đa đầu vào - đa đầu ra), một cấu hình được sử dụng trong các hệ thống thông tin 5G.
Điểm đáng chú ý của nghiên cứu nằm ở vật liệu chế tạo. Nhóm nghiên cứu sử dụng giấy ảnh bóng thương mại, có độ dày dưới 0,3mm, làm lớp nền cho ăng ten. Vật liệu này được lựa chọn để thay thế cho các nền vi sóng truyền thống thường có chi phí sản xuất cao hơn.
Trên bề mặt giấy, lớp dẫn điện được tạo ra bằng cách in mực chứa đồng. Phương pháp này cho phép hình thành cấu trúc dẫn điện cần thiết cho hoạt động của ăng ten.
Trong các hệ thống 5G, việc triển khai thường đòi hỏi số lượng lớn ăng ten, khiến chi phí trở thành một trong những thách thức chính.
Theo nhóm nghiên cứu, việc sử dụng vật liệu này giúp giảm hơn 95% chi phí vật liệu so với các nền vi sóng truyền thống. Ngoài ra vật liệu giấy được sử dụng có khả năng phân hủy sinh học.
Một số lực lượng hải quân đang nghiên cứu việc tích hợp công nghệ 5G vào hoạt động. Trong đó, Mỹ triển khai các chương trình mạng không dây với chi phí rất lớn.
Cụ thể, Hải quân Mỹ đã ký hợp đồng trị giá 99 triệu USD với Công ty Booz Allen Hamilton để cung cấp kết nối cho khoảng 140 tàu. Chi phí phát triển một thiết bị đầu cuối riêng lẻ có thể vượt 6 triệu USD.
Trong khi đó, một dự án của China Unicom vào năm 2023 đã triển khai phủ sóng 5G trong nhà cho ba tàu, với tổng chi phí khoảng 57.000 nhân dân tệ (tương đương khoảng 8.360 USD), tức khoảng 19.000 nhân dân tệ (khoảng 2.700 USD) mỗi tàu, chưa bao gồm thuế.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

