Trong nhà tôi, nghề điện không chỉ được truyền lại bằng kiến thức hay kỹ năng, mà còn bằng ký ức, bằng trách nhiệm, bằng niềm tin rằng công việc mình đang làm không đơn thuần là một nghề mưu sinh.
Ông nội tôi vào ngành điện cuối năm 1976, khi thành phố vừa bước qua những ngày đầu sau chiến tranh. Là thợ điện, ông chuyên đi kéo dây điện về các khu vực mới. Khi ấy, khái niệm về một đô thị hiện đại vẫn còn rất xa xôi. Nhiều khu vực vùng ven chưa có điện ổn định. Không ít con hẻm, xóm nhỏ vẫn sống bằng ánh đèn dầu, quạt mo, bếp than. Mỗi khi màn đêm buông xuống, cả một khoảng dân cư chìm trong bóng tối.
Ông kể, ngày ấy làm điện không có nhiều máy móc hỗ trợ như bây giờ. Xe chuyên dụng hiếm, thiết bị bảo hộ cũng đơn sơ. Những cây cột điện bằng bê tông chưa phổ biến, nhiều nơi vẫn dùng cột gỗ. Dây điện được vận chuyển bằng xe tải nhỏ, có đoạn phải dùng xe đạp, có đoạn phải vác bộ băng qua ruộng, qua bùn, qua những con đường đất đỏ còn chưa thành hình.
Ông nhớ mãi một lần cùng tổ công tác kéo điện về một vùng ven ngoại thành. Trời tháng sáu nắng như đổ lửa, mặt đất nóng đến bỏng chân, vậy mà cả nhóm vẫn thay nhau đào hố, dựng cột, kéo dây. Mồ hôi thấm đẫm lưng áo, tay rớm máu vì dây cáp cứa vào da, nhưng chẳng ai than phiền cả. Bởi khi đường điện được đóng, nhìn từng ngôi nhà sáng đèn, nghe tiếng trẻ con reo lên vì lần đầu có bóng điện trong nhà, mọi mệt nhọc dường như tan biến.
Ông vẫn hay nói, ngày đó người làm điện không nghĩ mình đang xây hệ thống năng lượng gì đâu. Họ chỉ nghĩ đơn giản là mang ánh sáng đến cho bà con thôn xóm.
Lớn lên trong tiếng kể chuyện của ông nội, ba tôi gần như không có lựa chọn nào khác ngoài việc bước vào ngành điện. Nhưng nếu ông nội tôi sống trong thời kỳ dựng lại hệ thống, thì ba tôi lại bước vào giai đoạn thành phố chuyển mình mạnh mẽ.
Khi TP.HCM bắt đầu tăng tốc đô thị hóa. Những khu dân cư mới xuất hiện. Những tuyến đường mở rộng. Những cao ốc, khu công nghiệp, chung cư liên tục mọc lên. Nhu cầu sử dụng điện không còn chỉ là thắp sáng, mà còn phục vụ sản xuất, y tế, giáo dục, thương mại và hàng triệu thiết bị dân dụng. Ba tôi vào ngành đúng vào thời điểm áp lực ấy bắt đầu hiện rõ.
Ông không còn phải vác dây điện băng ruộng như thế hệ trước, nhưng đổi lại là những công trình quy mô lớn hơn, yêu cầu kỹ thuật cao hơn và nhịp độ công việc khẩn trương hơn. Có những tháng cao điểm nắng nóng, nhu cầu điện tăng vọt, ba gần như không có ngày nghỉ trọn vẹn.
Tôi nhớ tuổi thơ mình gắn với những lần ba đi công việc giữa đêm. Có hôm đang ăn cơm, điện một khu dân cư gặp sự cố, điện thoại reo lên là ba đứng dậy đi ngay. Có hôm gần giao thừa, khi cả nhà đang chuẩn bị đón năm mới, ba vẫn mặc đồng phục, đội mũ bảo hộ, vội vã ra khỏi cửa.
Suốt hơn 20 năm, ba đã đi qua những công trình kéo điện cho các khu đô thị mới, tham gia xây dựng mạng lưới điện phục vụ hàng loạt chung cư cao tầng, trung tâm thương mại, nhà máy sản xuất. Ông chứng kiến thành phố lớn lên từng ngày từ những khu đất trống thành những đại lộ rực sáng. Và trong hành trình ấy, ba hiểu rằng dòng điện không chỉ nuôi lớn thành phố, mà còn đang nuôi lớn cả những thế hệ tiếp theo trong gia đình.
Em trai tôi là người tiếp nối thế hệ thứ ba.
Nếu ông nội học nghề bằng đôi tay chai sần, ba tôi trưởng thành bằng kinh nghiệm công trường, thì em tôi bước vào ngành bằng những phòng thí nghiệm, mô hình tự động hóa và những thuật toán số liệu.
Ngày em đậu vào Trường đại học Bách Khoa TP.HCM, ba tôi lặng lẽ ngồi rất lâu trước hiên nhà, niềm tự hào ánh lên đáy mắt đã vẩn đục vì thời gian.
Ông từng leo cột điện bằng dây an toàn thủ công. Ba từng kiểm tra trạm điện bằng kinh nghiệm thực địa. Còn em tôi học cách vận hành hệ thống điện qua dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, cảm biến và hệ thống điều khiển từ xa.
Khi ra trường, em chọn tiếp tục làm việc trong lĩnh vực điện lực. Đó là giai đoạn ngành điện bước vào chuyển đổi số. Những công tơ cơ học dần được thay bằng công tơ thông minh. Việc ghi chỉ số điện thủ công dần được số hóa. Các trung tâm điều hành có thể giám sát phụ tải, phát hiện sự cố, điều phối lưới điện theo thời gian thực.
Nhiều hôm em mang laptop về nhà, mở những bản đồ kỹ thuật số phủ kín màn hình. Những đường dây điện không còn chỉ là sợi cáp nhìn thấy bằng mắt, mà hiện lên thành dữ liệu, thành mô hình, thành những tín hiệu đang chuyển động không ngừng.
Ba tôi ngồi nhìn, lắc đầu cười: “Hồi xưa ba trèo lên cột điện mới biết chỗ nào hỏng. Giờ tụi bây ngồi một chỗ cũng thấy được hết”. Cả nhà bật cười, nhưng trong tiếng cười ấy là cả một hành trình dài của nghề điện lực.
Ba thế hệ trong gia đình tôi làm điện ở ba thời kỳ khác nhau. Ông nội mang điện đến những vùng còn tối tăm. Ba tôi giữ điện cho thành phố đang dần trưởng thành. Em tôi cùng ngành điện bước vào kỷ nguyên công nghệ.
Phương tiện làm việc khác nhau, thời đại khác nhau, áp lực khác nhau, nhưng có một điều chưa từng thay đổi đó là tinh thần phụng sự. Bởi sau cùng, điện không chỉ là công suất, là điện áp, là mạng lưới hay dữ liệu. Điện là ánh sáng trong căn bếp của một gia đình, là chiếc quạt quay trong một đêm mất ngủ, là nguồn sống cho một bệnh viện, là nhịp vận hành của cả một đô thị không ngủ.
Và với gia đình tôi, dòng điện ấy không chỉ đi qua thành phố. Nó đi qua cả ba thế hệ, đi qua những đôi tay, những năm tháng, những giấc mơ và vẫn đang tiếp tục được thắp sáng lên, như cách thành phố này chưa bao giờ ngừng chuyển động.
Nhờ nguồn điện ổn định, hàng ngàn quán ăn, cửa hàng và tiệm cà phê có thể kéo dài thời gian hoạt động, mang đến cho người dân và du khách nhiều trải nghiệm đa dạng sau giờ làm việc.
Nhiều quán cà phê đầu tư hệ thống đèn trang trí, màn hình trình chiếu và các tiểu cảnh sáng tạo để thay đổi diện mạo theo từng mùa lễ hội. Trung thu có những góc đèn lồng rực rỡ, Noel ngập tràn ánh sáng lung linh của cây thông và dây đèn màu, còn dịp tết lại khoác lên sắc xuân tươi mới với những không gian check-in bắt mắt.
Tất cả những ý tưởng ấy chỉ có thể vận hành trọn vẹn khi có nguồn điện liên tục và an toàn. Những ánh đèn rực rỡ trong đêm không chỉ làm đẹp thêm diện mạo đô thị mà còn giúp các hộ kinh doanh thu hút khách hàng, gia tăng doanh thu và góp phần tạo nên sức sống đặc trưng của một thành phố mang tên Bác năng động, hiện đại.
Nói như nhà thơ Chế Lan Viên: "Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn". Dù không sinh ra nhưng tôi luôn tự hào về TP.HCM - đầu tàu kinh tế của cả nước.
Tôi rất băn khoăn… trước khi viết những dòng này, đúng hơn là trước khi kể “câu chuyện nhỏ của tôi” (mà không biết có gọi là “chuyện” không nữa?). Ngày đó cách bây giờ khoảng… 60 năm. Lúc ấy tôi mới 7, 8 tuổi gì đó. Đường phố nơi nhà tôi ở còn vắng người.
Dù là một con đường chính ở TP.HCM nhưng khi ấy dân cư vẫn còn thưa thớt. Người ta xôn xao chụm lại, ngơ ngác, sợ hãi, chạy tán loạn rồi nhìn lên mái nhà phía bên kia đường: có một người (hàng xóm) bị điện giật.... chết!
Nếu như ngày nay thì đó là một tai nạn như bao tai nạn khác chứ không riêng gì điện. Nhưng cái thời “hoang vắng” đó thì thật là kinh khủng có thể sánh như… bom nguyên tử. Trí óc non nớt ngây ngô tôi bấy giờ không hiểu “điện” là gì. Nó có từ bao giờ? Xuất phát từ đâu? Chắc nó vô hình hay hữu dạng mà ghê gớm thế? Có thể đứa trẻ con bây giờ hoàn toàn không nghĩ “khờ” như vậy. Bởi điện gắn kết với đời sống con người như cơm ăn, nước uống hằng ngày. Như không khí ta thở thì có gì phải… "kinh khủng hóa”?
Chỉ cần điện cúp một giờ, một ngày thôi thì bao nhiêu những phiền toái, lủng củng, mệt nhọc, rắc rối lập tức và đồng thời sẽ… ùa đến “vây bủa” bạn ngay. Nhỏ nhất và đơn giản nhất là... không nấu được cơm nữa kia (nói đời sống đô thị ngày nay). Người thợ đang làm việc phải dừng, ngao ngán.
Tiếng động cơ quen thuộc của một loại máy móc nào đó bỗng nhiên im bặt. Thậm chí đó là tiếng gió của chiếc quạt điện bạn dùng thường xuyên, giờ cũng hững hờ lặng im. Đụng đến đâu bạn cũng thấy những thứ quen thuộc, gần gũi với mình hằng ngày bỗng chốc đến xa lạ. Cái màn hình tivi đen ngòm bất động. Và kìa, những con cá dễ thương trong chiếc hồ gương mà bạn thường ngắm nghía, thư giãn, hình như nó bơi cũng không được vui tươi mấy bởi bọt khí đã tắt ngấm…
Đó chỉ là những cái nhỏ nhất, đơn giản và bình dị trong một ngày khi bạn đang sống cùng… điện! Có điều, khi chẳng may cúp điện ta mới nhận ra mình đang thiếu một… người bạn. Những lúc như thế, hình ảnh những “chiến sĩ áo cam” chính là sự chờ đợi và hy vọng. Sau khi khắc phục “sự cố”, ta thấy trên mặt các anh những giọt mồ hôi thấm cả tấm lưng màu áo. Những lúc như thế - sau những vất vả ấy của họ, căn nhà ta ở bỗng chốc trở nên mát mẻ. Những chú cá tung tăng trở lại...
Từ lâu, mỗi lần đi ngang qua những cánh đồng bát ngát, đặc biệt là những vùng có đồi núi cao chập chùng với rừng cây cao vút, tôi bất giác ngước nhìn những dàn trụ sắt chót vót có lưới điện đi qua. Lòng tự hỏi: để hoàn thành một trụ như thế, người ta phải tốn bao nhiêu công sức và tiền bạc, giữa những đồi núi bạt ngàn nắng gió?
Mà đâu chỉ có một đôi trụ, một khu vực, một “vùng trời”. Nếu chỉ tính riêng khu vực TP.HCM thôi (trong suốt hành trình 50 năm qua) thì con số ấy “hoành tráng” như thế nào rồi! Ngược về… 50 năm trước thì đó quả thực là “một núi công trình” mà Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC) đã và đang làm được.
Trong suốt những chặng đường gian nan vất vả ấy, bất kỳ nơi đâu có màu áo đội ngũ công nhân, kỹ thuật viên EVNHCMC chính là nơi ấy có niềm vui ánh sáng và tiện nghi mà họ đem lại. Đặc biệt ở vùng sâu vùng xa thì điều đó càng ấn tượng hơn.
Xa rồi cái thời “đèn dầu đom đóm” học bài. Cái thời trẻ thơ chập chờn đi ngủ sớm, bởi ngay cả dầu hỏa thắp sáng cũng thành món hàng hóa… xa xỉ và quí hiếm. Bất chợt, tôi lại nhớ đến câu thơ của Tố Hữu: "Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay/Ra sông nhớ suối có ngày nhớ đêm". Bởi, để có ánh sáng, có đầy đủ mọi tiện nghi - dù nhỏ nhất, ắt con người phải cần đến điện. Nhưng để có được điện như bây giờ, chắc chắn không phải “một sớm một chiều”. Chỉ cần biết như thế, mới thấy “tầm cỡ hoạt động” của EVNHCMC… quan trọng đến chừng nào.
Có khi nào ta ngồi đây, hưởng thụ đầy đủ mọi sinh hoạt tiện nghi nhờ điện đem lại (dù là tối thiểu), mà có thể quên những năm tháng gian nan cực nhọc khi ánh đèn dầu leo lắt, để người mẹ, người bà ở miền quê xa nào đó phải lom khom vào ra khi đàn cò nhá nhem về tổ?
“Lặng nghe nước reo, cháy trong lòng ta, ước mơ rực sáng”. Và quả thực, đó là “một tình nước non, thắp trong lòng ai, sáng trong lòng người “ (lời bài hát Trị An âm vang mùa xuân - Tôn Thất Lập).
Tại TP.HCM hiện nay "mọi lúc mọi nơi" đều hiển hiện một EVNHCMC luôn sừng sững, luôn tận tâm tận lực để góp phần giúp kinh tế phát triển, sớm xứng tầm với một siêu đô thị có lịch sử, văn hóa, phồn vinh và tươi đẹp. Hành trình không kém gian nan ấy của EVNHCMC trong chặng đường 50 năm qua là một điểm nhấn sinh động và tuyệt đẹp trong bức tranh toàn cục.
Với sự tôn vinh này, xin được một lần nữa trân trọng dành những lời chúc tốt đẹp đến EVNHCMC bởi nhiều đóng góp vô cùng xuất sắc, một trong những nơi khởi nguồn thắp sáng mọi niềm tin yêu đến với khách hàng.
Mới nhớ cách đây mấy năm, một hôm ngồi cà phê sớm trên đường Trương Định (TP.HCM) trước cơ quan, tôi bỗng thấy một cái gì thiêu thiếu, hơi buồn buồn trong khi nhìn đường phố dường như thoáng đãng hơn. À, tôi không còn thấy hình ảnh những chú sóc quen thuộc nhanh nhẹn chạy trên dây điện chuyền từ cây cổ thụ này sang cây cổ thụ khác. Thì ra công ty điện lực đã đưa các dây điện, cáp viễn thông xuống lòng đất.
Đường phố rõ ràng trở nên sáng sủa hơn, đẹp hơn, ít nguy hiểm hơn, đặc biệt vào những ngày giông gió; check-in sẽ mộng mơ hơn vì không vướng cái "mạng nhện" chằng chịt. Điện góp phần làm đẹp cho thành phố. Và tất nhiên chuyện cúp điện đã trở thành "cổ tích".
Nói như thế vì tôi là bác sĩ chuyên khoa nội soi tiêu hóa, một chuyên khoa gắn bó với điện như hình với bóng. Một lần tôi đang nội soi cắt polyp đại tràng thì điện cúp. Màn hình nội soi lập tức chìm trong bóng tối. Tôi cực kỳ sốt ruột, còn bệnh nhân thì lo sợ hoang mang. Dĩ nhiên chúng tôi chạy máy phát dự phòng, nhưng trong khi chờ đợi, tôi và có lẽ bệnh nhân thấm thía sự cần thiết của ánh sáng, của điện. Tự dưng trong tôi mơ ước ngày không còn cúp điện.
Đó là chuyện của gần 15 năm trước, còn bây giờ tôi không gặp tình huống nguy hiểm, dở khóc dở cười như vậy nữa.
Có thể nói, điện cũng như không khí, như nước là những thứ cực kỳ cần thiết cho cuộc sống con người, nhưng theo quán tính, rất nhiều người coi đó là điều hiển nhiên, ít được quan tâm. Có một câu nói vui: "Điện, nước để nhà nước lo". Trước đây tôi cũng nghĩ lệch lạc như thế, nhưng từ các cuộc thi về đề tài ngành điện trên Báo Thanh Niên, suy nghĩ của tôi và nhiều người khác đã thay đổi: "phải tiết kiệm năng lượng".
Tôi tâm đắc với bài viết của các tác giả cuộc thi Tiết kiệm điện thành thói quen; tôi thực sự ngạc nhiên về sự đa dạng, phong phú của các bài viết. Tôi thực sự ngưỡng mộ về tri thức, về cách mà người ta làm để tiết kiệm điện. Đó không chỉ là bài toán về kinh tế mà còn là văn hóa. Thực sự các cuộc thi đã nâng tầm ngành điện của chúng ta.
Từ cảm hứng của nhiều bài dự thi trên Báo Thanh Niên, đêm thứ bảy 28.3.2026, từ 20 giờ 30 đến 21 giờ 30, gia đình chúng tôi cũng như nhiều người hào hứng thực hiện chủ trương của ngành điện: tắt điện tham gia chương trình Giờ trái đất. Gia đình chúng tôi lên ngồi chơi trên sân thượng đón gió mát, ngắm bầu trời đầy sao và sung sướng rằng đã góp phần vào tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường. Mà ở đây chúng tôi chủ động chứ không phải thụ động bị cúp điện như thuở nào.
Sáng sớm hôm sau, xem trên truyền hình thấy trong 1 giờ tắt đèn, cả nước đã tiết kiệm được 463.000 kWh điện, tương đương khoảng 1,02 tỉ đồng. Thực là một con số ấn tượng và ý nghĩa. Từ đó, tôi cũng như rất nhiều người đã thay đổi cách nhìn về EVNHCMC, nơi không chỉ quản lý, phân phối điện mà còn là nơi đem niềm tin ánh sáng qua các cuộc thi viết về điện trên báo chí.
Không chỉ riêng gia đình tôi mà mọi người đều hào hứng đọc những bài viết về cuộc thi và đưa vào áp dụng trong đời sống hằng ngày. Các con tôi cũng ý thức tốt hơn nhiều về ý thức và cách để tiết kiệm điện, cùng tự hào về ngành điện "50 năm thắp sáng niềm tin" trên thành phố mang tên Bác.