Theo khoản 1 điều 26 Nghị định 90/2026 của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 15.5), quy định phạt tiền từ 3 – 5 triệu đồng đối với hành vi sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Đáng chú ý, khoản 2 điều 26 của nghị định nói trên quy định phạt tiền từ 5 – 10 triệu đồng đối với hành vi chứa chấp người khác sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình. Trừ trường hợp người chứa chấp là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người vi phạm thì không bị xử lý.
Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tiêu hủy thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng đối với hành vi sử dụng.
Vấn đề đặt ra là, như thế nào thì bị xem là “chứa chấp” hành vi sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng?
Trao đổi với phóng viên Báo Thanh Niên, luật sư Đặng Thị Thúy Huyền (Công ty luật TNHH HPL và cộng sự) cho biết hiện chưa có quy định giải thích cụ thể về khái niệm “chứa chấp” trong trường hợp này.
Tuy nhiên, có thể hiểu đây là hành vi của người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu hoặc quản lý của mình, biết rõ người khác đang sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng nhưng vẫn cho phép họ sử dụng tại địa điểm đó.
Trong đó, “địa điểm thuộc quyền chiếm hữu” được hiểu là nơi người đó đang trực tiếp sử dụng, nắm giữ và có quyền quyết định các hoạt động bên trong. Còn “địa điểm thuộc quyền quản lý” là nơi người đó được giao quyền điều hành, giám sát và kiểm soát hành vi diễn ra.
“Điểm cốt lõi để xác định hành vi chứa chấp nằm ở hai yếu tố là người quản lý phải biết hành vi vi phạm và cho phép hoặc để mặc hành vi đó diễn ra trong phạm vi mình có thể kiểm soát”, luật sư Thúy Huyền phân tích.
Không chỉ dừng lại ở việc cho thuê hoặc cho mượn địa điểm, trong thực tế, trách nhiệm còn có thể được xem xét trong trường hợp người quản lý bỏ mặc để người sử dụng, hoặc để nhiều người cùng sử dụng thì vẫn có thể bị xem là hành vi chứa chấp.
Tuy nhiên, luật sư Thúy Huyền cho rằng, Nghị định 90/2026 hiện chưa đưa ra tiêu chí cụ thể như số lần vi phạm hay số lượng người vi phạm để mặc nhiên xác định là “chứa chấp”. Việc đánh giá sẽ phụ thuộc vào cơ quan có thẩm quyền, dựa trên yếu tố lỗi và khả năng kiểm soát thực tế của chủ thể quản lý.
Theo luật sư Thúy Huyền, không phải mọi trường hợp sử dụng thuốc lá điện tử diễn ra trong phạm vi quản lý đều bị xem là chứa chấp.
Ngoài trường hợp loại trừ trách nhiệm đã được quy định tại khoản 2 điều 26 đối với quan hệ gia đình (ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng), pháp luật còn đặt ra nguyên tắc xử phạt hành chính phải gắn với yếu tố lỗi.
“Những trường hợp người vi phạm sử dụng thuốc lá điện tử một cách lén lút, kín đáo, không có biểu hiện rõ ràng và không bị phát hiện, dù chủ thể quản lý đã có quy định cấm, thì không thể xem là hành vi chứa chấp”, luật sư Thúy Huyền nhấn mạnh.
Tương tự, tại các địa điểm như quán ăn, quán cà phê, bệnh viện… nếu người vi phạm cố tình sử dụng thuốc lá điện tử một cách lén lút, né tránh sự kiểm tra, trong khi đơn vị quản lý đã có nội quy cấm rõ ràng, có biển cảnh báo và có biện pháp nhắc nhở khi phát hiện, thì không có cơ sở để xác định hành vi dung túng.
Ngược lại, nếu tình trạng sử dụng thuốc lá điện tử diễn ra một cách phổ biến, kéo dài trong phạm vi quản lý, và người quản lý biết nhưng không có bất kỳ biện pháp kiểm soát, nhắc nhở hay xử lý nào, thì có thể bị xem xét trách nhiệm dưới góc độ buông lỏng quản lý.
Ranh giới pháp lý trong trường hợp này được xác định giữa “không biết trong điều kiện khách quan” và “biết nhưng làm ngơ trước hành vi vi phạm”.
Theo luật sư Đặng Thị Thúy Huyền, khi phát hiện hành vi sử dụng hoặc chứa chấp việc sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, người dân có thể phản ánh đến công an hoặc UBND cấp xã, phường. Đây là những lực lượng có thẩm quyền kiểm tra, lập biên bản vi phạm hành chính tại cơ sở.
Đối với các hành vi có tính chất phức tạp hơn, như chứa chấp có tổ chức hoặc liên quan đến hoạt động kinh doanh, buôn bán, người dân cũng có thể phản ánh đến lực lượng quản lý thị trường hoặc thanh tra chuyên ngành y tế.
Căn cứ điều 112 Nghị định 90/2026, thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi này thuộc về Chủ tịch UBND các cấp; thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chuyên ngành y tế; người có thẩm quyền của các lực lượng công an, quản lý thị trường, hải quan, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển. Ngoài ra còn có các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao và du lịch, giáo dục, xây dựng, nông nghiệp và môi trường.
Trong ngày thứ 3 của kỳ nghỉ lễ (2-5), Cục Cảnh sát giao thông cho biết 45 vụ tai nạn giao thông xảy ra trên toàn quốc, làm chết 23 người, bị thương 32 người.
So với cùng kỳ, số tai nạn giảm 13 vụ, giảm 12 người chết, giảm 4 người bị thương.
Toàn bộ tai nạn xảy ra trên đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa không xảy ra sự cố.
Cùng ngày, tổng số vi phạm được lực lượng cảnh sát giao thông trên toàn quốc lập biên bản xử lý là 14.943 trường hợp.
Trong đó, hệ thống giám sát đã phát hiện 1.037 trường hợp vi phạm, lập biên bản 41 trường hợp và gửi thông báo phạt nguội các trường hợp còn lại.
Số tiền phạt ước tính 40,1 tỉ đồng; tạm giữ 67 ô tô, 3.872 xe máy, 260 phương tiện khác.
Cơ quan chức năng đã tước 401 giấy phép lái xe các loại; trừ điểm 2.149 trường hợp theo quy định.
Trong đó vi phạm về nồng độ cồn là 3.396 trường hợp; vi phạm về tốc độ 3.562 trường hợp; chở quá số người quy định 87 trường hợp…
Theo ghi nhận của Tuổi Trẻ Online vào chiều 2-5, lượng người đổ về Hà Nội bắt đầu tăng dần từ khoảng 14h cùng ngày.
Các cửa ngõ xuất hiện ùn dài gồm: cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ, quốc lộ 1, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đường Cổ Linh (hướng lên cầu Vĩnh Tuy).
Tuy nhiên, nhiều tuyến vành đai, đường nội đô vẫn thông thoáng, chưa ghi nhận lưu lượng gia tăng đột biến.
Dự báo lưu lượng xe tại các tuyến cửa ngõ thủ đô, khu vực bến xe, đường vành đai và trung tâm thành phố sẽ tăng đột biến trong đêm nay và ngày mai - ngày cuối của kỳ nghỉ lễ.
Thượng tá Nguyễn Ngọc Mẽ - Phó trưởng Phòng Cảnh sát giao thông Công an Hà Nội - cho biết đơn vị đã chủ động triển khai đồng bộ các phương án, sẵn sàng đón lượng người quay trở lại thủ đô học tập, làm việc.
Trong đó, các đội địa bàn sẽ tập trung tăng cường phân luồng, điều tiết tại các tuyến trọng điểm, không để xảy ra ùn tắc kéo dài.
Đồng thời, cảnh sát giao thông cũng đẩy mạnh xử lý nghiêm các hành vi vi phạm như vi phạm nồng độ cồn, tốc độ, chở quá số người, quá tải trọng… nhằm bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn.
Song song với công tác ngoài hiện trường, lực lượng chức năng sẽ theo dõi sát tình hình giao thông qua hệ thống camera tích hợp AI; từ dữ liệu thời gian thực, chủ động phối hợp các đội địa bàn, kịp thời phát hiện, xử lý các sự cố phát sinh.
Nội dung trên được nêu trong báo cáo gửi Bộ Nội vụ của UBND TP.HCM về sơ kết Nghị quyết 27 năm 2018 của Trung ương Đảng về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.
Chính sách thu nhập tăng thêm được xây dựng trên cơ sở Nghị quyết 54/2017 và tiếp tục được kế thừa trong Nghị quyết 98/2023 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP.HCM.
Tháng 3.2018, HĐND TP.HCM ban hành nghị quyết quy định chi thu nhập tăng thêm, nêu rõ mức chi tối đa năm 2018 là 0,6 lần lương ngạch bậc, năm 2019 là 1,2 lần và từ năm 2020 trở đi tối đa 1,8 lần.
Để bảo đảm việc chi thu nhập tăng thêm công khai, minh bạch, TP.HCM đồng thời ban hành quy định đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức theo hiệu quả công việc hằng quý. Người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được hưởng mức tối đa; người hoàn thành tốt nhiệm vụ hưởng tối đa 80% mức này. Việc đánh giá có tham khảo mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Trong quá trình triển khai, chính sách nhiều lần được điều chỉnh theo tình hình ngân sách và bối cảnh kinh tế - xã hội. Cuối năm 2019, HĐND TP.HCM điều chỉnh hệ số thu nhập tăng thêm từ mức tối đa 1,8 lần xuống còn 1,2 lần để phù hợp khả năng cân đối ngân sách giai đoạn 2020 - 2022.
Năm 2020 và 2021, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, TP.HCM tiếp tục giảm hệ số chi để ưu tiên nguồn lực chống dịch và bảo đảm an sinh xã hội. Một số nhóm cán bộ, công chức có hệ số lương cao bị giảm mức hưởng xuống còn 0,6 lần; riêng ngành y tế và cán bộ, công chức phường, xã được duy trì mức tối đa 1,2 lần trong giai đoạn cao điểm chống dịch.
Từ năm 2022, khi kinh tế dần phục hồi, TP.HCM nâng dần mức chi thu nhập tăng thêm. Năm 2023, thành phố áp dụng hệ số tối đa 1,8 lần trong 7 tháng đầu năm, sau đó điều chỉnh còn 0,8 lần trong 5 tháng cuối năm. Năm 2024 và năm 2025, hệ số tối đa được duy trì ở mức 1,5 lần lương ngạch bậc. Từ tháng 7.2025, chính sách mở rộng ra cả khu vực 2 tỉnh Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu cũ.
Theo số liệu UBND TP.HCM, kinh phí chi thu nhập tăng thêm tăng mạnh qua các năm. Năm 2018 là 2.768 tỉ đồng, năm 2019 là 7.637 tỉ đồng, năm 2024 đạt gần 12.849 tỉ đồng và năm 2025 tăng lên 18.394 tỉ đồng. Tổng cộng giai đoạn 2018 - 2025 là 67.053 tỉ đồng.
UBND TP.HCM đánh giá chính sách này đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động khu vực công, thúc đẩy cải cách công vụ theo hướng "hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả". Trong bối cảnh mức lương cơ sở còn thấp và chi phí sinh hoạt tại TP.HCM ở mức cao, thu nhập tăng thêm giúp cải thiện đời sống cán bộ, công chức, viên chức, tạo động lực làm việc và giảm áp lực tài chính.
Báo cáo cũng cho rằng cơ chế này góp phần hạn chế tình trạng "chảy máu chất xám" trong khu vực công, hỗ trợ thành phố thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao. Đây được xem là một trong những công cụ quan trọng để TP.HCM duy trì năng lực cạnh tranh và chất lượng bộ máy hành chính trong điều kiện đô thị đặc biệt.
Tuy vậy, UBND TP.HCM thừa nhận mức thu nhập khu vực công hiện vẫn chưa tạo ưu thế rõ rệt so với khu vực doanh nghiệp, nhất là ở các ngành nghề có yêu cầu chuyên môn cao. Chênh lệch thu nhập giữa khu vực công và khu vực tư tiếp tục ảnh hưởng đến khả năng thu hút nhân sự chất lượng cao.
Trong thời gian tới, TP.HCM đề xuất tiếp tục bố trí dự toán chi thu nhập tăng thêm từ nguồn cải cách tiền lương còn dư và quỹ lương cơ bản để duy trì chính sách theo đúng quy định. Thành phố đồng thời tiếp tục hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, cơ chế đánh giá hiệu quả công việc và chính sách thu hút nhân tài nhằm tạo nền tảng cho cải cách tiền lương toàn diện theo lộ trình của Trung ương.
Cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH) TP.HCM vừa công bố danh sách 100 doanh nghiệp chậm đóng BHXH kéo dài từ 6 tháng trở lên (số liệu cập nhật đến ngày 31.3). Trong danh sách này, nhiều doanh nghiệp có số tiền chậm đóng lên tới hàng chục tỉ đồng, phản ánh tình trạng vi phạm nghĩa vụ BHXH còn diễn biến phức tạp.
Theo số liệu chậm đóng tính đến hết ngày 31.3 và cập nhật ủy nhiệm chi đến ngày 10.4, Công ty cổ phần Tập đoàn xây dựng Hòa Bình là một trong những đơn vị có số tiền chậm đóng lớn nhất, với gần 68 tỉ đồng. Tiếp đó là Công ty cổ phần dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn với hơn 41 đồng. Chi nhánh Công ty cổ phần Trải nghiệm toàn cầu chậm đóng hơn 34 tỉ đồng...
Ngoài ra, trong danh sách có nhiều doanh nghiệp chậm đóng từ 10 tỉ đồng trở lên, thấp nhất gần 4 tỉ đồng. Việc doanh nghiệp chậm đóng BHXH khiến hàng ngàn người lao động gặp khó khăn, không giải quyết được các chế độ như thai sản, bảo hiểm thất nghiệp.
Theo Cơ quan BHXH TP.HCM, nguyên nhân các doanh nghiệp chậm đóng BHXH thường đến từ việc gặp khó khăn về tài chính, sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó cũng có doanh nghiệp cố tình chậm đóng dù có khả năng.
Mặc dù đơn vị đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở và tiến hành thanh tra, kiểm tra các vi phạm nhưng các doanh nghiệp vẫn không thực hiện trách nhiệm cho người lao động. BHXH TP.HCM sẽ tiếp tục tăng cường kiểm tra và xử lý theo quy định đối với doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng BHXH để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.