Tòa phúc thẩm Pháp ngày 22/5 ra phán quyết cho rằng hãng hàng không Air France và nhà chế tạo máy bay Airbus là những bên “phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cho vụ tai nạn liên quan đến chuyến bay AF447”.
Thảm kịch AF447 xảy ra ngày 1/6/2009, khi chiếc Airbus A330 do Air France vận hành đang bay từ Rio de Janeiro đến Paris thì các phi công mất kiểm soát máy bay trên vùng trời Đại Tây Dương. Máy bay sau đó lao thẳng xuống biển, khiến toàn bộ 216 hành khách và 12 thành viên tổ bay thiệt mạng. Đây là thảm kịch hàng không nghiêm trọng nhất trong lịch sử Pháp.
Tòa sơ thẩm năm 2023 cho rằng Air France và Airbus đã mắc sai lầm, nhưng không đủ bằng chứng cho thấy đó là nguyên nhân gây ra tai nạn, nên đã tuyên trắng án với hai tập đoàn.
Tuy nhiên, thẩm phán Sylvie Madec, chủ tọa phiên tòa phúc thẩm Paris, cho rằng tòa sơ thẩm đã không tính đến “chuỗi quan hệ nhân quả” dẫn tới hành động của các phi công và cuối cùng khiến toàn bộ hành khách thiệt mạng.
“Bản thân thảm họa AF447 là tai nạn chực chờ xảy ra và hoàn toàn có thể tránh được nếu mỗi công ty liên quan nhận thức được đầy đủ mức độ nghiêm trọng của sự cố”, bà nói.
Tại phiên phúc thẩm, tòa được nghe báo cáo về việc các ống pitot đo tốc độ máy bay đã bị tinh thể băng làm tắc khi AF447 đi qua một cơn bão giữa Đại Tây Dương, khiến tín hiệu báo động vang lên trong buồng lái và hệ thống lái tự động ngắt. Sau khi thiết bị đo gặp trục trặc, các phi công cho máy bay ngóc lên cao, khiến máy bay rơi vào trạng thái thất tốc rồi lao xuống biển.
Dù không loại trừ khả năng phi công có sai sót trong 4 phút 30 giây từ khi cảm biến đóng băng đến lúc máy bay đâm xuống biển, tòa cho rằng tổ lái không được chuẩn bị đầy đủ để xử lý sự cố cực kỳ phức tạp.
“Phi công chuyến bay AF447 thực sự đã thử mọi cách để thoát khỏi tình huống kinh hoàng này. Họ đã làm hết khả năng và không thể quy trách nhiệm cho họ”, tòa án nhận định.
Luật sư đại diện gia đình nạn nhân cho rằng cả Air France và Airbus đều biết các bất cập về kỹ thuật trên chiếc Airbus A330 gặp nạn, nhưng phi công không được huấn luyện để xử lý tình huống khẩn cấp ở độ cao lớn.
Tòa phúc thẩm xác định Airbus đã đánh giá thấp mức độ nghiêm trọng của các vấn đề liên quan ống pitot và không cung cấp đầy đủ thông tin cho các hãng khai thác. Air France bị kết luận không huấn luyện đầy đủ cho phi công và không cung cấp thông tin thích đáng cho tổ bay.
Do đó, tòa tuyên mỗi bên nộp phạt 225.000 euro (261.000 USD), mức phạt tối đa cho tội danh ngộ sát đối với các pháp nhân. Dù mức phạt mang tính biểu tượng, phán quyết được xem là đòn giáng mạnh vào uy tín của hai doanh nghiệp.
Cả Air France và Airbus đều tuyên bố sẽ kháng cáo. Air France cho biết nhận thức việc tiếp tục kháng cáo sẽ kéo dài quá trình pháp lý vốn đã rất lâu, đặc biệt với gia đình các nạn nhân, nhưng nhấn mạnh trách nhiệm hình sự của hãng từng hai lần bị bác bỏ. Luật sư của Airbus, Simon Ndiaye, khẳng định cuộc chiến pháp lý sẽ tiếp diễn.
Các thành viên Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 3/6 bỏ phiếu bầu 10 ghế ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an cho nhiệm kỳ hai năm, trong đó ba ứng viên đại diện nhóm "Tây Âu và các nước khác" là Đức, Áo và Bồ Đào Nha.
Kết quả cho thấy Áo và Bồ Đào Nha là hai nước giành được các ghế ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an, với 131 và 134 phiếu, trong khi Đức thất bại khi chỉ nhận được 104 phiếu ủng hộ.
Hội đồng Bảo an gồm 15 trong số 193 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, với 5 ủy viên thường trực có quyền phủ quyết (Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc và Nga) cùng 10 ủy viên không thường trực. Đây là cơ quan duy nhất của Liên Hợp Quốc có thể ra nghị quyết mang tính ràng buộc pháp lý.
Zimbabwe cùng Cộng hòa Trinidad và Tobago được bầu vào vị trí ủy viên không thường trực mà không có đối thủ cho các ghế dành riêng cho khu vực của họ. Kyrgyzstan cũng giành được ghế đại diện khu vực sau khi vượt qua Philippines.
Đức từng giữ ghế ủy viên không thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc giai đoạn 2019-2020.
Trước cuộc bỏ phiếu, Ngoại trưởng Johann Wadephul tuyên bố Đức có "một đề nghị tốt" và sẵn sàng đảm nhận trách nhiệm tại Hội đồng Bảo an. Ông cũng ủng hộ cải cách cơ quan này nhằm tăng vai trò cho các quốc gia thuộc Nam Bán cầu.
Ông Wadephul thừa nhận kết quả bỏ phiếu ngày 3/6 là "thất bại cay đắng" và "nỗi thất vọng thực sự" với Berlin. Ông cho rằng một phần nguyên nhân thất bại đến từ sự ủng hộ của Đức với Israel, khiến nước này đánh mất các phiếu chủ chốt.
Ông cũng cáo buộc Nga đã thuyết phục nhiều bên chống lại Đức vì lập trường "ủng hộ kiên định" của Berlin cho Ukraine. "Không có gì bí mật khi Nga không muốn có một tiếng nói như vậy tại Hội đồng Bảo an", ông nói.
Báo DW của Đức dẫn các nguồn tin ngoại giao mô tả Nga đã tích cực vận động hành lang ngăn cản lại nỗ lực tranh cử của Đức. Berlin hiện là một trong những nước ủng hộ chủ chốt cho Ukraine trong xung đột kéo dài hơn 4 năm ở châu Âu.
Nga chưa bình luận về cáo buộc này của Ngoại trưởng Wadephul.
"Có những vấn đề mà chúng tôi luôn giữ lập trường rõ ràng, nhưng không phải mọi quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc đều chia sẻ", ông Wadephul nói, song tái khẳng định Berlin vẫn ủng hộ Kiev.
Thủ tướng Friedrich Merz cho rằng Đức đã rất tự tin khi ứng cử và tiếc nuối vì cuối cùng không thể đạt mục tiêu đề ra. "Kết quả này không làm thay đổi những nhiệm vụ mà chúng tôi phải đối mặt tại Liên Hợp Quốc. Đức vẫn là trụ cột đáng tin cậy của hệ thống đa phương", ông nói.
Nghị sĩ Jurgen Hardt, người phát ngôn chính sách đối ngoại của liên minh bảo thủ tại quốc hội Đức, gọi đây là "kết quả đáng tiếc". Trong khi đó, đảng Xanh chỉ trích chính phủ của Thủ tướng Merz và Ngoại trưởng Wadephul vì chưa nỗ lực hết sức trong lĩnh vực bảo vệ khí hậu, đồng thời cắt giảm viện trợ phát triển.
Tại Đối thoại Shangri-La 2026 vừa diễn ra ở Singapore, liên minh AUKUS gồm Mỹ, Úc và Anh đã công bố dự án phát triển thiết bị lặn không người lái (UUV) thế hệ mới - đánh dấu lần đầu tiên trụ cột thứ hai của liên minh được hiện thực hóa bằng một chương trình hợp tác cụ thể sau thời gian dài chậm trễ.
Dự kiến triển khai từ năm 2027, dự án nhắm vào ba mục tiêu chiến lược: bảo vệ hạ tầng cáp ngầm biển, tăng cường giám sát khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và tấn công chính xác mục tiêu đối phương.
Trong khi phần lớn sự chú ý của dư luận từ trước đến nay đổ vào trụ cột thứ nhất - kế hoạch cung cấp tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân cho Úc - thì trụ cột thứ hai, vốn tập trung phát triển công nghệ quân sự tinh vi, lại gần như bị bỏ ngỏ. Dự án UUV vừa công bố là chương trình đầu tiên thuộc trụ cột này được chính thức hóa, theo thông cáo từ Bộ Quốc phòng Anh.
Tuyên bố chung của ba Bộ trưởng Quốc phòng gồm Pete Hegseth (Mỹ), John Healy (Anh) và Richard Marles (Úc) sau cuộc họp bên lề Đối thoại Shangri-La cho biết dự án nhằm "nâng cao đáng kể năng lực của các đối tác AUKUS trong bảo vệ cơ sở hạ tầng quốc gia quan trọng dưới đáy biển; triển khai năng lực giám sát, trinh sát và tấn công tiên tiến; hoạt động hậu cần; và củng cố ưu thế trong tác chiến chống ngầm, chống tàu mặt nước, chống thủy lôi, tác chiến điện tử và diễn tập tác chiến vùng bờ biển tranh chấp".
Anh là nước đầu tiên công bố con số cụ thể: ít nhất 150 triệu bảng (khoảng 201,8 triệu USD) để trang bị cho các đối tác AUKUS năng lực phát hiện, răn đe và đối phó các mối đe dọa hàng hải, đặc biệt nhắm vào các tuyến cáp và đường ống dưới nước.
"Đây là bước đột phá chưa từng có trong quan hệ đối tác AUKUS", ông Healy phát biểu. Cả Úc và Mỹ đến nay vẫn chưa công khai cam kết con số tương tự.
Về mặt kỹ thuật, tài liệu do Bộ Quốc phòng Anh ấn hành cho biết dự án sẽ tăng cường năng lực tương tác thông qua các tiêu chuẩn chung, khái niệm khung cho hoạt động ba bên và hệ thống điều khiển chung, hướng tới thiết bị có thể hoán đổi cho nhau và tích hợp bởi từng quốc gia trước khi cùng phát triển và sản xuất.
Ông Marles gọi chương trình này là "vô cùng quan trọng" và xác nhận công nghệ mới sẽ được bàn giao từ năm 2027, trong khi ông Hegseth nhấn mạnh UUV thế hệ mới sẽ giúp ba nước duy trì "lợi thế tập thể" về công nghệ.
Tóm gọn tinh thần của cả dự án, ông Healy nói: "Trong một thời gian quá dài với AUKUS, chúng ta đã nói quá nhiều và làm quá ít".
Dù các quan chức AUKUS không gọi đích danh bất kỳ quốc gia nào, bối cảnh địa chính trị đằng sau dự án là khá rõ ràng. Ông Marles trước đó đã cảnh báo về hàng loạt vụ cắt cáp ngầm ở Biển Baltic và gần Đài Loan, và nói rằng nếu đây là hành vi cố ý, thì một số quốc gia có thể đang "thử thách ý chí chính trị của chúng ta trong việc đáp trả".
Người đứng đầu Viện Chính sách chiến lược Úc, ông Justin Bassi, nói với Đài ABC rằng tuyên bố mới "phát đi tín hiệu những hành vi phá hoại và gây hấn dưới đáy biển sẽ không còn được các quốc gia AUKUS dung thứ".
Cả hai trụ cột của AUKUS được nhìn nhận rộng rãi là nỗ lực do Mỹ dẫn đầu nhằm ứng phó với sự quyết liệt của Bắc Kinh ở các khu vực tranh chấp như Biển Đông.
Trung Quốc nhiều lần gọi AUKUS là "nguy hiểm" và cảnh báo các chương trình của liên minh có thể kích động chạy đua vũ trang khu vực.
Một lượng lớn dữ liệu và thông tin liên lạc toàn cầu lưu chuyển qua các tuyến cáp ngầm - nay đã trở thành huyết mạch thiết yếu với hầu hết quốc gia trên thế giới - khiến việc bảo vệ hạ tầng này ngày càng có tầm quan trọng chiến lược không thể xem nhẹ.
5 nguồn thạo tin ngày 17/4 tiết lộ với Reuters rằng Mỹ tới nay chưa giao một số lô hàng được châu Âu mua theo Chương trình Bán vũ khí cho nước ngoài (FMS). Trong các lô hàng này có nhiều loại khí tài khác nhau, một số được dùng cho cả mục đích tấn công lẫn phòng thủ.
Các quan chức Mỹ đã thông báo cho phía châu Âu về việc nhiều lô hàng vũ khí có thể bị hoãn bàn giao. Theo các nguồn tin, những nước ở khu vực Baltic và Scandinavia nằm trong danh sách đối tác châu Âu bị ảnh hưởng bởi tình trạng trên.
Bộ Quốc phòng Estonia và Litva ngày 17/4 cho biết Mỹ đã thông báo cho hai nước này về khả năng chậm trễ trong việc giao thiết bị quân sự vì xung đột với Iran. Một số quan chức châu Âu phàn nàn rằng tình trạng trên đang đặt họ vào tình thế khó khăn.
Một phát ngôn viên Lầu Năm Góc từ chối bình luận về thông tin, viện dẫn lý do "bảo mật tác chiến", nhưng tuyên bố "quân đội Mỹ mạnh nhất thế giới, chúng tôi đảm bảo rằng lực lượng Mỹ cùng các đồng minh và đối tác có những thứ họ cần để chiến thắng".
Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump đã thúc đẩy các đồng minh NATO tại châu Âu mua thêm nhiều vũ khí do nước này sản xuất, trong đó có qua chương trình FMS. Đây là một phần trong nỗ lực chuyển trách nhiệm phòng thủ chung châu Âu từ Mỹ sang các đối tác ở đây.
Tuy nhiên, việc giao hàng nhiều lần bị trì hoãn khiến các nước châu Âu thất vọng. Một số quốc gia đang xem xét chuyển sang những hệ thống vũ khí được chế tạo tại châu Âu.
Các quan chức Mỹ cho rằng số vũ khí bị hoãn giao cần cho chiến dịch tại Trung Đông, đồng thời chỉ trích châu Âu vì không giúp Mỹ và Israel mở lại eo biển Hormuz.
Trước xung đột hiện tại với Iran, Mỹ đã chuyển lượng vũ khí trị giá hàng tỷ USD, trong đó có pháo, đạn và tên lửa chống tăng cho Ukraine từ năm 2022 và Israel khi nước này bắt đầu chiến dịch tấn công Dải Gaza vào năm 2023.
Sau khi chiến sự bùng phát ngày 28/2, Iran phóng hàng trăm tên lửa đạn đạo và máy bay không người lái (UAV) vào các nước vùng Vịnh. Phần lớn trong số này bị đánh chặn, chủ yếu bằng đạn PAC-3 của tổ hợp Patriot mà Ukraine cần để đối phó đòn tập kích từ Nga.